Bài 1 · Bài 1 (Tiết 1)★Trang 117— Nhận biết góc nhọn, góc vuông, góc tù trên hình vẽ
Bài 1 (trang 117, Tiết 1). Viết tên các góc nhọn, góc vuông, góc tù có trong hình dưới đây (theo mẫu). Mẫu: Góc nhọn đỉnh B; cạnh BA, BH.
Kiến thức cần nhớ
Góc nhọn nhỏ hơn góc vuông (nhỏ hơn 90∘); góc tù lớn hơn góc vuông và nhỏ hơn góc bẹt (lớn hơn 90∘, nhỏ hơn 180∘).
Một đoạn thẳng vẽ thêm bên trong một góc lớn (như đường cao BH) sẽ chia góc đó thành hai góc nhỏ hơn; mỗi góc nhỏ được tính là một góc riêng biệt.
🧠 Phân tích tư duy
Đường cao BH chia góc ở đỉnh B thành hai góc nhỏ, nên tam giác này có tới bốn chỗ chứa góc nhọn chứ không phải chỉ ba đỉnh. Muốn liệt kê đủ phải xét cả hai góc nhỏ tại B lẫn góc lớn nhìn theo cả hai cạnh BA, BC. Bẫy hay gặp: nhìn tam giác thấy "đầu nhọn" mà tưởng góc ở đỉnh B là góc nhọn, trong khi góc tạo bởi đúng hai cạnh BA, BC (không tính đường cao chia đôi) lại là góc tù.
1Cách 1. Xét lần lượt từng đỉnh của hình
Định hướng. Đi lần lượt qua từng đỉnh A, B, C, H của hình, tại mỗi đỉnh nêu đủ các góc có cạnh xuất phát từ đỉnh đó.
Tại đỉnh B, đường cao BH chia góc ABC thành hai góc nhỏ: Góc nhọn đỉnh B; cạnh BA, BH Góc nhọn đỉnh B; cạnh BH, BC Tại đỉnh A: Góc nhọn đỉnh A; cạnh AB, AC Tại đỉnh C: Góc nhọn đỉnh C; cạnh CB, CA Tại đỉnh H (chân đường cao) có hai góc vuông kề nhau trên đường thẳng AC: Góc vuông đỉnh H; cạnh HB, HC Góc vuông đỉnh H; cạnh HB, HA Ngoài ra, góc tạo bởi đúng hai cạnh BA, BC của cả tam giác (không kể đường cao chia đôi) là: Góc tù đỉnh B; cạnh BA, BC
Vậy hình có bốn góc nhọn, hai góc vuông ở đỉnh H và một góc tù ở đỉnh B.
2Cách 2. Gom các góc theo từng loại
Định hướng. Tìm hết góc vuông trước vì dễ nhận ra nhờ đường cao, rồi tìm góc tù (góc lớn nhất của cả tam giác), cuối cùng mới đến các góc nhọn còn lại.
Đường cao BH vuông góc với cạnh AC tại H nên có hai góc vuông: Góc vuông đỉnh H; cạnh HB, HA Góc vuông đỉnh H; cạnh HB, HC Tam giác ABC có một góc lớn hơn góc vuông là góc ở đỉnh B nhìn theo cả hai cạnh BA, BC: Góc tù đỉnh B; cạnh BA, BC Các góc còn lại đều nhỏ hơn góc vuông: Góc nhọn đỉnh A; cạnh AB, AC Góc nhọn đỉnh C; cạnh CB, CA Góc nhọn đỉnh B; cạnh BA, BH Góc nhọn đỉnh B; cạnh BH, BC
Vậy kết quả liệt kê đủ bảy góc, giống hệt Cách 1 chỉ khác thứ tự trình bày.
3Cách 3. Ướm ê-ke để kiểm tra lại từng góc
Định hướng. Ướm ê-ke vào từng góc trên hình để so sánh với góc vuông chuẩn: khít với ê-ke là góc vuông, hẹp hơn là góc nhọn, rộng hơn là góc tù.
Ướm ê-ke vào góc tại H: hai cạnh HB và HA (hoặc HC) khít đúng cạnh ê-ke nên đó là góc vuông Ướm ê-ke vào góc tại đỉnh B nhìn theo cả hai cạnh BA, BC: hai cạnh mở rộng hơn ê-ke nên đó là góc tù Ướm ê-ke vào các góc còn lại ở đỉnh A, đỉnh C và hai góc nhỏ tại đỉnh B: cạnh của mỗi góc đều hẹp hơn ê-ke nên đều là góc nhọn
Vậy cách ướm ê-ke cũng cho đúng hai góc vuông, một góc tù và bốn góc nhọn như hai cách trên — dùng để kiểm tra lại kết quả.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Nên dùng Cách 2 (gom theo loại góc) vì đường cao BH luôn tạo sẵn hai góc vuông dễ tìm nhất, sau đó chỉ còn đúng một góc tù duy nhất của tam giác cần nhớ, đỡ bỏ sót hơn Cách 1.
Đáp số.Bốn góc nhọn: đỉnh B (cạnh BA, BH); đỉnh B (cạnh BH, BC); đỉnh A (cạnh AB, AC); đỉnh C (cạnh CB, CA). Hai góc vuông: đỉnh H (cạnh HB, HC) và đỉnh H (cạnh HB, HA). Một góc tù: đỉnh B (cạnh BA, BC).
Sai lầm thường gặp.Nhầm góc tù ở đỉnh B (cạnh BA, BC) thành góc nhọn vì nhìn cả tam giác thấy "nhọn đầu" — phải so sánh đúng với góc vuông bằng ê-ke chứ không đoán bằng mắt; đây là góc lớn nhất trong bảy góc của hình.
🚀 Mở rộng.Bài khó hơn: tam giác tù ở đỉnh A hoặc C thì chân đường cao kẻ từ đỉnh đối diện sẽ rơi ra ngoài đoạn đáy, lúc đó cách vẽ và cách gọi tên góc vuông có khác đôi chút.
Bài 2 · Bài 2 (Tiết 1)★Trang 117— Đổi qua lại giữa các đơn vị đo khối lượng yến, tạ, tấn, ki-lô-gam
Bài 2 (trang 117, Tiết 1). Viết số thích hợp vào chỗ chấm. a) 5 yến =? kg; 6 tạ =? kg; 8 tấn =? kg 7 tạ =? yến; 3 tấn =? tạ; 4 tấn =? yến b) 90 kg =? yến; 400 kg =? tạ; 5000 kg =? tấn c) 3 tấn 5 tạ =? tạ; 2 tạ 8 kg =? kg; 4 tấn 40 kg =? kg
Kiến thức cần nhớ
Bảng đơn vị đo khối lượng: 1 yến =10 kg; 1 tạ =10 yến =100 kg; 1 tấn =10 tạ =1000 kg.
Đổi từ đơn vị lớn sang đơn vị nhỏ hơn liền kề: nhân với 10; đổi ngược lại: chia cho 10.
🧠 Phân tích tư duy
Hai đơn vị khối lượng liền kề trong dãy kg — yến — tạ — tấn luôn gấp hoặc kém nhau đúng 10 lần, nên đổi từ đơn vị lớn sang đơn vị nhỏ là nhân, đổi ngược lại là chia. Bẫy hay gặp nhất ở câu c) là số đo hỗn hợp hai đơn vị (3 tấn 5 tạ, 4 tấn 40 kg) — phải đổi riêng từng phần về cùng một đơn vị rồi mới cộng lại, không được cộng thẳng hai số đo khác đơn vị.
1Cách 1. Dùng thẳng bảng đơn vị đo khối lượng
Định hướng. Áp dụng trực tiếp các mốc 1 yến =10 kg, 1 tạ =100 kg =10 yến, 1 tấn =1000 kg =10 tạ để nhân hoặc chia; số đo hỗn hợp thì đổi riêng từng phần rồi cộng.
a) 5 yến =5×10=50 kg; 6 tạ =6×100=600 kg; 8 tấn =8×1000=8000 kg 7 tạ =7×10=70 yến; 3 tấn =3×10=30 tạ; 4 tấn =4×100=400 yến b) 90 kg =90:10=9 yến; 400 kg =400:100=4 tạ; 5000 kg =5000:1000=5 tấn c) 3 tấn 5 tạ =30 tạ +5 tạ =35 tạ 2 tạ 8 kg =200 kg +8 kg =208 kg 4 tấn 40 kg =4000 kg +40 kg =4040 kg
Vậy các số cần điền lần lượt là 50; 600; 8000; 70; 30; 400; 9; 4; 5; 35; 208; 4040.
2Cách 2. Đổi qua ki-lô-gam làm đơn vị trung gian
Định hướng. Với những ý nhảy cách đơn vị hoặc số đo hỗn hợp, đổi cả hai (hoặc từng phần) về ki-lô-gam trước rồi mới suy ra kết quả cuối — cách này tránh nhầm số lần 10.
7 tạ =700 kg, mà 1 yến =10 kg nên 700 kg =70 yến 3 tấn =3000 kg, mà 1 tạ =100 kg nên 3000 kg =30 tạ 4 tấn =4000 kg, mà 1 yến =10 kg nên 4000 kg =400 yến 3 tấn 5 tạ: 3 tấn =3000 kg, 5 tạ =500 kg, cộng lại được 3500 kg, mà 1 tạ =100 kg nên 3500 kg =35 tạ 4 tấn 40 kg =4000 kg +40 kg=4040 kg (đã ở đơn vị kg)
Vậy kết quả hoàn toàn khớp với Cách 1: 70 yến; 30 tạ; 400 yến; 35 tạ; 4040 kg.
3Cách 3. Đếm số bước nhảy giữa hai đơn vị
Định hướng. Đếm xem từ đơn vị này đến đơn vị kia phải nhảy qua mấy bước trong dãy kg — yến — tạ — tấn, mỗi bước là nhân (hoặc chia) cho 10 — cách này làm rất nhanh với các ý nhảy cách hai đơn vị.
Từ tấn xuống tạ là 1 bước nên 3 tấn =3×10=30 tạ Từ tạ xuống yến là 1 bước nên 7 tạ =7×10=70 yến Từ tấn xuống yến là 2 bước nên 4 tấn =4×10×10=400 yến Từ kg lên tấn là 3 bước nên 5000 kg =5000:10:10:10=5 tấn Từ kg lên tạ là 2 bước nên 400 kg =400:10:10=4 tạ
Vậy cách đếm bước nhảy cũng cho đúng các kết quả như Cách 1 và Cách 2.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Với các ý nhảy cách đơn vị (tấn ↔ yến, tấn ↔ kg) nên dùng Cách 3 đếm số bước nhảy để làm nhanh, khỏi viết số trung gian dài; với số đo hỗn hợp (câu c) thì Cách 1 tách-cộng trực tiếp là gọn nhất.
Đáp số.a) 50; 600; 8000; 70; 30; 400. b) 9; 4; 5. c) 35; 208; 4040.
Sai lầm thường gặp.Đổi 4 tấn 40 kg ra kg mà chỉ viết ghép hai số thành 440 kg hoặc 440 kg — sai vì phải đổi 4 tấn ra đúng 4000 kg rồi mới cộng thêm 40 kg, kết quả đúng là 4040 kg.
🚀 Mở rộng.Bài khó hơn: đổi số đo có đủ ba đơn vị trong một biểu thức, ví dụ 2 tấn 3 tạ 5 yến =? kg, phải tách và cộng đủ cả ba phần.
Bài 3 · Bài 3 (Tiết 1)★★Trang 117— Đo góc bằng thước đo góc và dùng tính chất hình bình hành
Bài 3 (trang 117, Tiết 1). Đo góc rồi viết số đo thích hợp vào chỗ chấm. Góc đỉnh A; cạnh AD, AB bằng ? Góc đỉnh B; cạnh BA, BC bằng ? Góc đỉnh C; cạnh CB, CD bằng ? Góc đỉnh D; cạnh DA, DC bằng ?
Kiến thức cần nhớ
Cách đo góc bằng thước đo góc: đặt đỉnh của góc trùng tâm thước, một cạnh trùng vạch 0∘; cạnh còn lại chỉ đúng vào vạch nào thì đó là số đo góc.
Hình bình hành có hai góc đối bằng nhau, hai góc kề một cạnh (góc trong cùng phía) có tổng bằng 180∘.
🧠 Phân tích tư duy
Nhìn hình thấy ABCD có hai cặp cạnh đối song song và bằng nhau nên đây là một hình bình hành — tính chất góc đối bằng nhau, hai góc kề một cạnh bù nhau (tổng 180∘) giúp suy ra ba góc còn lại chỉ từ một góc đo được, khỏi phải đặt thước đo cả bốn lần. Bẫy hay gặp là đặt tâm thước đo góc lệch khỏi đúng đỉnh, hoặc đọc nhầm vạch chia ngoài thay vì vạch chia trong của thước.
1Cách 1. Đo trực tiếp bằng thước đo góc
Định hướng. Đặt tâm thước đo góc trùng từng đỉnh, đọc số đo trên vạch chia rồi ghi lại cho cả bốn góc.
Đặt thước đo góc tại đỉnh A, cạnh AD trùng vạch 0^\\circ, cạnh AB chỉ đúng vạch 120^\\circ: góc đỉnh A bằng 120^\\circ Đặt thước đo góc tại đỉnh B: cạnh BA, BC tạo thành góc 60^\\circ Đặt thước đo góc tại đỉnh C: cạnh CB, CD tạo thành góc 120^\\circ Đặt thước đo góc tại đỉnh D: cạnh DA, DC tạo thành góc 60^\\circ
Vậy góc đỉnh A bằng 120^\\circ, góc đỉnh B bằng 60^\\circ, góc đỉnh C bằng 120^\\circ, góc đỉnh D bằng 60^\\circ.
2Cách 2. Dùng tính chất hình bình hành để suy ra ba góc còn lại
Định hướng. Chỉ cần đo một góc (góc đỉnh A), các góc còn lại suy ra ngay từ tính chất góc đối bằng nhau và hai góc kề một cạnh bù nhau, khỏi phải đo cả bốn lần.
Đo được góc đỉnh A bằng 120^\\circ Góc đỉnh C đối diện với góc đỉnh A nên góc đỉnh C cũng bằng 120^\\circ Góc đỉnh B kề cạnh AB với góc đỉnh A nên hai góc bù nhau: góc đỉnh B=180^\\circ-120^\\circ=60^\\circ Góc đỉnh D đối diện với góc đỉnh B nên góc đỉnh D cũng bằng 60^\\circ
Vậy góc đỉnh A, B, C, D lần lượt bằng 120^\\circ; 60^\\circ; 120^\\circ; 60^\\circ — khớp với kết quả đo trực tiếp ở Cách 1.
3Cách 3. Kiểm tra lại bằng tổng bốn góc của tứ giác
Định hướng. Sau khi đo hoặc suy luận ra bốn góc, cộng cả bốn số đo lại — nếu đúng bằng 360^\\circ (tổng các góc trong một tứ giác) thì kết quả đáng tin cậy.
Vậy tổng bốn góc đúng bằng 360^\\circ, nên bốn số đo 120^\\circ; 60^\\circ; 120^\\circ; 60^\\circ là chính xác.
Nhận xét. Phép cộng kiểm tra tổng góc là cách nhanh nhất để tự tin vào kết quả mà không cần đo lại từ đầu.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Nên dùng Cách 2 (tính chất hình bình hành) để làm nhanh, chỉ cần đo đúng một góc là suy ra được cả bốn góc; Cách 3 dùng để tự kiểm tra lại kết quả cuối cùng.
Đáp số.Góc đỉnh A bằng 120∘; góc đỉnh B bằng 60∘; góc đỉnh C bằng 120∘; góc đỉnh D bằng 60∘.
Sai lầm thường gặp.Đo xong quên kiểm tra lại nên ghi nhầm góc đỉnh B và góc đỉnh D hoán đổi cho nhau — trong hình bình hành ABCD, hai góc đối A và C mới bằng nhau, hai góc đối B và D mới bằng nhau, không được ghép nhầm góc kề.
🚀 Mở rộng.Bài khó hơn: cho hình bình hành chỉ biết một góc và yêu cầu tính tổng hai góc kề bất kì (luôn bằng 180∘) mà không cho hình vẽ, phải tự vẽ phác để xác định đúng cặp góc kề hay góc đối.
Bài 4 · Bài 4 (Tiết 1)★★Trang 117— Toán lời văn: tìm phân số của một số, có đổi đơn vị khối lượng
Bài 4 (trang 117, Tiết 1). Một cửa hàng có 1 tấn 710 kg bột mì và số bột gạo bằng 94 số bột mì. Hỏi cửa hàng đó có tất cả bao nhiêu ki-lô-gam bột mì và bột gạo?
Kiến thức cần nhớ
Muốn tìm 94 của một số, ta lấy số đó nhân với 94.
Đổi đơn vị khối lượng hỗn hợp về cùng một đơn vị trước khi tính: 1 tấn =1000 kg.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho số bột mì bằng đơn vị hỗn hợp tấn — kg nên việc đầu tiên là đổi về cùng một đơn vị ki-lô-gam. Sau đó bột gạo được cho dưới dạng "bằng 94 số bột mì" — đây là dạng toán tìm phân số của một số, không phải phép chia hay phép trừ. Bẫy hay gặp là quên đổi đơn vị trước, đem thẳng 1 tấn 710 kg nhân với phân số sẽ ra kết quả sai đơn vị.
1Cách 1. Tính trực tiếp theo tóm tắt
Định hướng. Đổi số bột mì về ki-lô-gam, tìm số bột gạo bằng cách nhân với phân số 94, rồi cộng hai số lại.
Tóm tắt Bột mì: 1 tấn 710 kg Bột gạo: 94 số bột mì Cả hai loại: ? kg
Bài giải Đổi 1 tấn 710 kg =1710 kg Số ki-lô-gam bột gạo là: 1710×94=760 (kg) Cửa hàng đó có tất cả số ki-lô-gam bột mì và bột gạo là: 1710+760=2470 (kg) Đáp số: 2470 kg
Vậy cửa hàng có tất cả 2470 kg bột mì và bột gạo.
2Cách 2. Dùng sơ đồ đoạn thẳng theo tỉ số
Định hướng. Coi số bột mì gồm 9 phần bằng nhau thì số bột gạo là 4 phần như thế; tìm giá trị một phần rồi suy ra số bột gạo và tổng số.
Tóm tắt Bột mì: 9 phần bằng nhau, bằng 1710 kg Bột gạo: 4 phần như thế Cả hai loại: ? kg
Bài giải Đổi 1 tấn 710 kg =1710 kg Giá trị một phần là: 1710:9=190 (kg) Số ki-lô-gam bột gạo là: 190×4=760 (kg) Cửa hàng đó có tất cả số ki-lô-gam bột mì và bột gạo là: 1710+760=2470 (kg) Đáp số: 2470 kg
Vậy kết quả bằng đúng 2470 kg như Cách 1.
3Cách 3. Gộp thành một phân số của tổng ngay từ đầu
Định hướng. Vì bột gạo bằng 94 bột mì, nên cả hai loại gộp lại bằng 1+94=913 số bột mì — tính thẳng một phép nhân là ra đáp số, không cần qua bước tìm riêng bột gạo.
Đổi 1 tấn 710 kg =1710 kg Cả bột mì và bột gạo gộp lại bằng số phần là: 1+94=913 (số bột mì) Cửa hàng đó có tất cả số ki-lô-gam bột mì và bột gạo là: 1710×913=2470 (kg) Đáp số: 2470 kg
Vậy cách gộp phân số ngay từ đầu cũng cho đúng 2470 kg, làm nhanh hơn vì chỉ cần một phép nhân.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Nên dùng Cách 3 (gộp thành 913 ngay từ đầu) để làm nhanh, chỉ mất một phép nhân thay vì phải tính riêng số bột gạo rồi mới cộng.
Đáp số.2470 kg.
Sai lầm thường gặp.Quên đổi 1 tấn 710 kg ra ki-lô-gam mà đem thẳng số 1710 hiểu nhầm thành 1 (tấn) nhân với 94 — phải đổi hẳn về cùng đơn vị kg trước khi nhân với phân số.
🚀 Mở rộng.Bài khó hơn: nếu đề cho hiệu giữa bột mì và bột gạo (thay vì cho tổng bột mì) cùng tỉ số 94, ta phải chuyển sang dạng toán "hiệu — tỉ" bằng sơ đồ đoạn thẳng theo hiệu số phần bằng nhau.
Bài 5 · Bài 5 (Tiết 1)★★★Trang 118— Đếm số khối lập phương nhỏ ghép thành một khối lớn dạng bậc thang
Bài 5 (trang 118, Tiết 1). Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng. Số khối lập phương nhỏ dùng để xếp thành hình bên là: A. 25 B. 56 C. 54 D. 55
Kiến thức cần nhớ
Một lớp khối lập phương hình vuông cạnh n khối gồm n×n=n2 khối lập phương nhỏ.
Đếm số khối của một khối ghép từ nhiều lớp thì cộng số khối của tất cả các lớp lại.
🧠 Phân tích tư duy
Hình xếp theo kiểu bậc thang: mỗi bậc là một lớp khối lập phương hình vuông, cạnh của lớp trên cùng là 1 khối, lớp dưới liền kề cạnh 2 khối, cứ thế tăng dần đến lớp đáy cạnh 5 khối. Bẫy hay gặp là chỉ đếm số khối nhìn thấy ở mặt ngoài (bỏ sót khối bị che khuất bên trong mỗi lớp) hoặc cộng nhầm thành dãy 1+2+3+4+5 (tổng các cạnh) thay vì 1+4+9+16+25 (tổng bình phương các cạnh, vì mỗi lớp là một hình vuông đặc chứ không phải một hàng đơn).
1Cách 1. Đếm số khối theo từng lớp hình vuông rồi cộng lại
Định hướng. Tách hình bậc thang thành năm lớp hình vuông riêng biệt, đếm số khối của mỗi lớp rồi cộng tất cả lại.
Lớp cạnh 1 khối: có 1×1=1 khối lập phương nhỏ Lớp cạnh 2 khối: có 2×2=4 khối lập phương nhỏ Lớp cạnh 3 khối: có 3×3=9 khối lập phương nhỏ Lớp cạnh 4 khối: có 4×4=16 khối lập phương nhỏ Lớp cạnh 5 khối: có 5×5=25 khối lập phương nhỏ Số khối lập phương nhỏ dùng để xếp thành hình bên là: 1+4+9+16+25=55 (khối lập phương) Đáp số: 55 khối lập phương
Vậy chọn đáp án D.
2Cách 2. Ước lượng bằng khối hộp bao ngoài rồi loại trừ đáp án
Định hướng. So sánh với khối lập phương đặc 5×5×5 bao quanh hình bậc thang để ước lượng khoảng giá trị hợp lí, từ đó loại bớt các đáp án sai trước khi tính chính xác.
Nếu đặc kín cả khối hộp bao ngoài thì có 5×5×5=125 khối lập phương nhỏ Hình bậc thang chỉ lấp khoảng hơn một nửa khối hộp đó (các lớp trên nhỏ dần rất nhiều), nên số khối thật sự phải nhỏ hơn hẳn 125 nhưng không thể chỉ có 25 (vì đó mới là đúng một lớp đáy) — loại ngay đáp án A Tính chính xác từng lớp như Cách 1: 1+4+9+16+25=55 (khối lập phương), khớp với ước lượng "hơn một nửa của 125" một cách hợp lí
Vậy trong bốn đáp án, chỉ có 55 (đáp án D) vừa đúng khoảng ước lượng vừa đúng khi tính chính xác.
3Cách 3. Nhận ra quy luật cộng thêm số lẻ liên tiếp
Định hướng. So sánh số khối của hai lớp liền nhau để phát hiện quy luật: mỗi lớp sau hơn lớp trước một số lẻ liên tiếp, rồi cộng dồn dần theo quy luật đó.
Lớp 1 có 1 khối Lớp 2 hơn lớp 1 đúng 3 khối (vì 4−1=3), cộng dồn: 1+3=4 khối Lớp 3 hơn lớp 2 đúng 5 khối (vì 9−4=5), cộng dồn: 4+5=9 khối Lớp 4 hơn lớp 3 đúng 7 khối (vì 16−9=7), cộng dồn: 9+7=16 khối Lớp 5 hơn lớp 4 đúng 9 khối (vì 25−16=9), cộng dồn: 16+9=25 khối Tổng số khối của cả năm lớp: 1+4+9+16+25=55 (khối lập phương)
Vậy quy luật cộng thêm số lẻ liên tiếp 1, 3, 5, 7, 9 cũng dẫn tới đúng 55 khối — chọn đáp án D.
Nhận xét. Đây chính là lí do vì sao mỗi lớp hình vuông cạnh n luôn có đúng n2 khối: tổng n số lẻ liên tiếp đầu tiên luôn bằng n2.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Nên dùng Cách 1 (đếm theo từng lớp hình vuông) vì nhanh và chắc chắn nhất; Cách 2 giúp tự tin loại bỏ đáp án sai trước khi tính, còn Cách 3 giúp hiểu sâu vì sao mỗi lớp lại có đúng n2 khối.
Đáp số.D. 55 khối lập phương.
Sai lầm thường gặp.Cộng nhầm thành 1+2+3+4+5=15 hoặc chọn thẳng đáp án A (25, chỉ là số khối của riêng lớp đáy) — phải nhớ mỗi lớp là một hình vuông đặc (n2 khối) chứ không phải một hàng đơn (n khối), và phải cộng đủ cả năm lớp.
🚀 Mở rộng.Bài khó hơn: hình bậc thang có 10 lớp thì tổng số khối lập phương nhỏ là 12+22+⋯+102=385 khối — càng nhiều lớp càng cần cộng cẩn thận từng số hạng.
Bài 6 · Bài 1 (Tiết 2)★★Trang 118— Nhận biết hình bình hành và các cặp cạnh song song trên hình vẽ
Bài 1 (trang 118, Tiết 2). Viết tiếp vào chỗ chấm cho thích hợp. Các hình bình hành có trong hình bên là: ? Cạnh AB song song với các cạnh: ?
Kiến thức cần nhớ
Hình bình hành là tứ giác có hai cặp cạnh đối diện song song và bằng nhau.
Một đường thẳng song song với một cặp cạnh của hình bình hành và cắt hai cạnh còn lại sẽ chia hình đó thành hai hình bình hành nhỏ hơn.
🧠 Phân tích tư duy
Đoạn thẳng MN nối trung điểm hai cạnh AD, BC và song song với cạnh AB, DC, chia hình bình hành lớn ABCD thành hai hình bình hành nhỏ hơn là ABNM và MNCD. Bẫy hay gặp là chỉ kể hai hình nhỏ mà quên hình lớn ABCD (bản thân nó vẫn là một hình bình hành), hoặc kể nhầm những tứ giác không có hai cặp cạnh đối song song (như ABCN) vào danh sách.
1Cách 1. Quan sát trực tiếp từng tứ giác trên hình
Định hướng. Nhìn lần lượt từng tứ giác có thể tạo từ các điểm A, B, C, D, M, N trên hình, kiểm tra hai cặp cạnh đối có song song và bằng nhau hay không.
Tứ giác ABNM: cạnh AM song song và bằng cạnh BN (cùng nằm trên hai cạnh AD, BC), cạnh AB song song và bằng cạnh MN — đây là một hình bình hành Tứ giác MNCD: cạnh MD song song và bằng cạnh NC, cạnh MN song song và bằng cạnh DC — đây cũng là một hình bình hành Tứ giác ABCD: cạnh AB song song và bằng cạnh DC, cạnh AD song song và bằng cạnh BC — đây là hình bình hành lớn ban đầu Cạnh AB nằm trên cùng một đường thẳng chung hướng với cạnh MN và cạnh DC nên AB song song với cả MN và DC
Vậy các hình bình hành có trong hình bên là ABNM; MNCD; ABCD, và cạnh AB song song với các cạnh MN, DC.
2Cách 2. Dùng tính chất chia hình bình hành bởi đường thẳng song song
Định hướng. Dựa vào tính chất: khi một đoạn thẳng song song với một cặp cạnh của hình bình hành và nối hai điểm trên cặp cạnh còn lại, nó luôn chia hình bình hành thành hai hình bình hành nhỏ — suy luận thẳng ra kết quả mà không cần dò từng cạnh.
ABCD là hình bình hành lớn (cho sẵn từ đầu bài) M nằm trên cạnh AD, N nằm trên cạnh BC, và MN song song với AB, DC Theo tính chất, MN chia ABCD thành hai hình bình hành nhỏ là ABNM (phần trên) và MNCD (phần dưới) Vì MN song song với AB và cũng song song với DC (do AB song song DC sẵn có trong hình bình hành lớn), nên cạnh AB song song với cả MN và DC
Vậy có đúng ba hình bình hành ABNM, MNCD, ABCD, và AB song song với MN, DC — khớp với Cách 1.
3Cách 3. Liệt kê hết mọi tứ giác có thể rồi loại trừ
Định hướng. Liệt kê tất cả các tứ giác có thể ghép từ sáu điểm A, B, C, D, M, N theo đúng thứ tự trên hình, sau đó loại bỏ những tứ giác không thoả tính chất hình bình hành.
Các tứ giác hợp lệ theo đúng thứ tự các điểm trên hình: ABNM; MNCD; ABCD Xét thêm ABCN (ghép lệch, bỏ qua điểm M): cạnh AN không song song với cạnh BC — loại, không phải hình bình hành Xét thêm MBCD (ghép lệch, bỏ qua điểm A... không đúng thứ tự các cạnh nối tiếp trên hình) — loại vì không phải tứ giác khép kín theo đúng các cạnh có sẵn Vậy chỉ còn lại ba tứ giác hợp lệ ở trên đều thoả hai cặp cạnh đối song song và bằng nhau
Vậy sau khi loại trừ, chỉ còn đúng ba hình bình hành ABNM, MNCD, ABCD — giống hệt hai cách trên.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Nên dùng Cách 2 (tính chất chia hình bình hành) vì suy luận thẳng ra cả ba hình bình hành mà không cần dò từng cặp cạnh song song trên hình như Cách 1.
Đáp số.Các hình bình hành có trong hình bên là ABNM; MNCD; ABCD. Cạnh AB song song với các cạnh MN, DC.
Sai lầm thường gặp.Bỏ sót hình bình hành lớn ABCD vì nghĩ nó đã "bị chia đôi" thì không còn tính là một hình nữa — thực ra ABCD vẫn nguyên vẹn là một hình bình hành, việc vẽ thêm MN bên trong không làm mất tính chất của hình lớn.
🚀 Mở rộng.Bài khó hơn: nếu vẽ thêm một đường thẳng thứ hai song song với AD, BC cắt ngang qua thì hình sẽ được chia thành bốn hình bình hành nhỏ, tổng cộng có tới bảy hình bình hành có thể kể tên.
Bài 7 · Bài 2 (Tiết 2)★★Trang 118— Đổi qua lại giữa các đơn vị đo thời gian giờ, phút, giây, thế kỉ
Bài 2 (trang 118, Tiết 2). Viết số thích hợp vào chỗ chấm. a) 5 giờ =? phút; 15 phút =? giây; 4 thế kỉ =? năm b) 2 giờ 37 phút =? phút; 12 phút 15 giây =? giây; 8 giờ 5 phút =? phút c) 61 giờ =? phút; 21 phút =? giây; 51 thế kỉ =? năm
Kiến thức cần nhớ
Bảng đơn vị đo thời gian thường dùng: 1 giờ =60 phút; 1 phút =60 giây; 1 thế kỉ =100 năm.
Muốn tìm một phân số của một đơn vị thời gian, lấy số đơn vị nhỏ tương ứng (ví dụ số phút trong 1 giờ) nhân với phân số đó.
🧠 Phân tích tư duy
Câu a), b) đổi các số đo nguyên hoặc hỗn hợp giờ — phút, phút — giây dựa vào ba mốc 1 giờ =60 phút, 1 phút =60 giây, 1 thế kỉ =100 năm. Câu c) lại cho phân số của một đơn vị thời gian — đây là dạng toán tìm phân số của một số, khác hẳn phép nhân với số nguyên ở câu a), b). Bẫy hay gặp là lẫn hệ số 60 (giờ, phút, giây) với hệ số 100 (thế kỉ, năm) — hai hệ số này không giống nhau.
1Cách 1. Dùng thẳng bảng đơn vị đo thời gian
Định hướng. Áp dụng trực tiếp ba mốc 1 giờ =60 phút, 1 phút =60 giây, 1 thế kỉ =100 năm để nhân với số đơn vị lớn đã cho.
a) 5 giờ =5×60=300 phút; 15 phút =15×60=900 giây; 4 thế kỉ =4×100=400 năm b) 2 giờ 37 phút =2×60+37=157 phút 12 phút 15 giây =12×60+15=735 giây 8 giờ 5 phút =8×60+5=485 phút c) 61 giờ =60×61=10 phút; 21 phút =60×21=30 giây; 51 thế kỉ =100×51=20 năm
Vậy các số cần điền lần lượt là 300; 900; 400; 157; 735; 485; 10; 30; 20.
2Cách 2. Tách số đo hỗn hợp thành tổng hai đơn vị cùng loại rồi cộng
Định hướng. Với số đo hỗn hợp ở câu b), tách riêng phần đơn vị lớn (đổi ra đơn vị nhỏ) và phần đơn vị nhỏ có sẵn, rồi cộng hai phần lại — làm rõ từng bước hơn là nhân cộng gộp trong một dòng.
2 giờ 37 phút: 2 giờ =120 phút, cộng thêm 37 phút có sẵn, được 120+37=157 phút 12 phút 15 giây: 12 phút =720 giây, cộng thêm 15 giây có sẵn, được 720+15=735 giây 8 giờ 5 phút: 8 giờ =480 phút, cộng thêm 5 phút có sẵn, được 480+5=485 phút
Vậy kết quả câu b) hoàn toàn khớp với Cách 1: 157 phút; 735 giây; 485 phút.
3Cách 3. Tìm phân số của một số cho câu có phân số
Định hướng. Riêng câu c) cho phân số của đơn vị thời gian, dùng đúng quy tắc "muốn tìm phân số của một số, lấy số đó nhân với phân số" — khác hẳn cách nhân với số nguyên ở câu a), b).
61 giờ nghĩa là chia 1 giờ (60 phút) thành 6 phần bằng nhau rồi lấy 1 phần: 60:6=10 phút 21 phút nghĩa là chia 1 phút (60 giây) thành 2 phần bằng nhau rồi lấy 1 phần: 60:2=30 giây 51 thế kỉ nghĩa là chia 1 thế kỉ (100 năm) thành 5 phần bằng nhau rồi lấy 1 phần: 100:5=20 năm
Vậy câu c) cho đúng 10 phút; 30 giây; 20 năm — khớp với phép nhân phân số ở Cách 1, chỉ trình bày theo cách chia phần bằng nhau.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Với câu a), b) nên dùng Cách 1 tính thẳng cho nhanh; riêng câu c) (phân số của đơn vị) nên hiểu theo Cách 3 (chia phần bằng nhau) để khỏi nhầm với phép nhân số nguyên.
Sai lầm thường gặp.Đổi 51 thế kỉ mà lấy 100 chia cho tử số thay vì mẫu số, ra nhầm 100:1=100 năm — phải nhớ mẫu số là số phần chia, lấy 100 chia cho mẫu số 5 mới đúng, kết quả đúng là 20 năm.
🚀 Mở rộng.Bài khó hơn: đổi số đo có đủ ba đơn vị thời gian liền kề, ví dụ 1 giờ 15 phút 20 giây =? giây, phải đổi và cộng đủ cả ba phần.
Bài 8 · Bài 3 (Tiết 2)★★Trang 118— Toán lời văn: tìm tuổi, tìm năm sinh và xác định thế kỉ (tính theo năm 2026)
Bài 3 (trang 118, Tiết 2). Năm nay chị Lan 13 tuổi, chị Lan kém mẹ 28 tuổi. Hỏi mẹ của chị Lan sinh năm nào và năm đó thuộc thế kỉ bao nhiêu?
Kiến thức cần nhớ
Tuổi mẹ = tuổi con + số tuổi mẹ hơn con; năm sinh = năm hiện tại − tuổi.
Thế kỉ XX tính từ năm 1901 đến hết năm 2000; thế kỉ XXI tính từ năm 2001 đến hết năm 2100.
🧠 Phân tích tư duy
"Kém 28 tuổi" nghĩa là mẹ hơn chị Lan 28 tuổi, nên tuổi mẹ bằng tuổi chị Lan cộng thêm 28. Từ tuổi mẹ và năm hiện tại, lấy năm hiện tại trừ đi tuổi mẹ sẽ ra năm sinh của mẹ. Bẫy hay gặp là quên bài toán phụ thuộc vào năm làm bài — phải tính theo năm hiện tại là năm 2026; ngoài ra thế kỉ XX tính từ năm 1901 đến năm 2000, không phải từ năm 1900.
1Cách 1. Tính tuổi mẹ trước rồi suy ra năm sinh
Định hướng. Lấy tuổi chị Lan cộng thêm phần hơn kém để ra tuổi mẹ, rồi lấy năm hiện tại trừ đi tuổi mẹ để ra năm sinh.
Tóm tắt Chị Lan: 13 tuổi (năm 2026) Mẹ hơn chị Lan: 28 tuổi Mẹ sinh năm: ?, thuộc thế kỉ: ?
Bài giải Tuổi mẹ hiện nay là: 13+28=41 (tuổi) Năm nay là năm 2026, năm sinh của mẹ chị Lan là: 2026−41=1985 Năm 1985 thuộc thế kỉ XX Đáp số: Năm 1985, thế kỉ XX
Vậy mẹ chị Lan sinh năm 1985, thuộc thế kỉ XX.
2Cách 2. Dùng sơ đồ đoạn thẳng thể hiện tuổi hai mẹ con
Định hướng. Vẽ hai đoạn thẳng biểu diễn tuổi chị Lan và tuổi mẹ, đoạn tuổi mẹ dài hơn đoạn tuổi chị Lan đúng phần chênh lệch 28 tuổi, nhìn sơ đồ để thấy rõ vì sao phải cộng chứ không trừ.
Đoạn tuổi chị Lan: dài 13 (đơn vị tuổi) Đoạn tuổi mẹ: dài bằng đoạn tuổi chị Lan cộng thêm đoạn chênh lệch 28 Nhìn sơ đồ, tuổi mẹ là: 13+28=41 (tuổi) Năm sinh của mẹ chị Lan là: 2026−41=1985 Năm 1985 thuộc thế kỉ XX
Vậy sơ đồ đoạn thẳng cũng cho đúng kết quả: mẹ sinh năm 1985, thuộc thế kỉ XX, giống Cách 1.
3Cách 3. Tính năm sinh của Lan trước rồi trừ thêm phần chênh lệch
Định hướng. Đi theo một mốc trung gian khác: tìm năm sinh của chị Lan trước, sau đó vì mẹ sinh trước chị Lan đúng 28 năm nên năm sinh của mẹ bằng năm sinh của chị Lan trừ đi 28.
Năm sinh của chị Lan là: 2026−13=2013 Mẹ hơn chị Lan 28 tuổi nên mẹ sinh trước chị Lan 28 năm, năm sinh của mẹ là: 2013−28=1985 Năm 1985 thuộc thế kỉ XX
Vậy đi qua năm sinh của chị Lan cũng suy ra đúng năm sinh của mẹ là 1985, thuộc thế kỉ XX — khớp hai cách trên.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Nên dùng Cách 1 (tính tuổi mẹ trước) vì đi thẳng theo đúng dữ kiện đề bài, ít bước hơn Cách 3.
Đáp số.Mẹ chị Lan sinh năm 1985, thuộc thế kỉ XX.
Sai lầm thường gặp.Lấy tuổi chị Lan trừ đi 28 (thay vì cộng) vì đọc nhầm "kém 28 tuổi" thành "chị Lan hơn mẹ 28 tuổi" — phải hiểu đúng "kém" nghĩa là chị Lan ít tuổi hơn, nên tuổi mẹ phải lớn hơn, phải cộng chứ không trừ.
🚀 Mở rộng.Bài khó hơn: cho tổng số tuổi hai mẹ con và hiệu số tuổi, phải dùng dạng toán tổng — hiệu để tìm riêng tuổi từng người trước khi suy ra năm sinh.
Bài 9 · Bài 4 (Tiết 2)★★Trang 119— Đổi qua lại giữa các đơn vị đo diện tích m², dm², cm², mm²
Bài 4 (trang 119, Tiết 2). Viết số thích hợp vào chỗ chấm. a) 4 m2=? dm2; 16 cm2=? mm2; 21 dm2=? cm2 b) 300 cm2=? dm2; 90000 cm2=? dm2; 4500 mm2=? cm2 c) 3 m226 dm2=? dm2; 9 dm230 cm2=? cm2 d) 8 cm28 mm2=? mm2; 7 m250 cm2=? cm2
Kiến thức cần nhớ
Bảng đơn vị đo diện tích: 1 m2=100 dm2=10000 cm2; 1 dm2=100 cm2; 1 cm2=100 mm2.
Hai đơn vị đo diện tích liền kề gấp kém nhau 100 lần (khác với đơn vị đo độ dài chỉ gấp kém 10 lần).
🧠 Phân tích tư duy
Khác với đơn vị đo độ dài (hai đơn vị liền kề gấp 10 lần), hai đơn vị đo diện tích liền kề gấp nhau tới 100 lần vì diện tích có hai chiều. Bẫy hay gặp nhất là quên điều này, đem nhân hoặc chia cho 10 như đơn vị độ dài, dẫn tới sai cả chục lần; câu c), d) còn có số đo hỗn hợp hai đơn vị, phải đổi riêng từng phần rồi cộng.
1Cách 1. Dùng thẳng bảng đơn vị đo diện tích, hệ số 100
Định hướng. Áp dụng trực tiếp các mốc 1 m2=100 dm2, 1 dm2=100 cm2, 1 cm2=100 mm2 để nhân hoặc chia cho 100; số đo hỗn hợp thì đổi riêng từng phần rồi cộng.
Vậy các số cần điền lần lượt là 400; 1600; 2100; 3; 900; 45; 326; 930; 808; 70050.
2Cách 2. Đổi qua đơn vị nhỏ nhất trong mỗi cặp để cộng số đo hỗn hợp
Định hướng. Với câu c), d) — số đo có hai đơn vị — đổi phần đơn vị lớn về đơn vị nhỏ trước bằng cách nhân với 100 (hoặc 10000 nếu cách nhau hai bậc), rồi cộng với phần đơn vị nhỏ có sẵn.
3 m226 dm2: vì 1 m2=100 dm2 nên 3 m2=300 dm2, cộng thêm 26 dm2 được 326 dm2 9 dm230 cm2: vì 1 dm2=100 cm2 nên 9 dm2=900 cm2, cộng thêm 30 cm2 được 930 cm2 8 cm28 mm2: vì 1 cm2=100 mm2 nên 8 cm2=800 mm2, cộng thêm 8 mm2 được 808 mm2 7 m250 cm2: vì 1 m2=10000 cm2 nên 7 m2=70000 cm2, cộng thêm 50 cm2 được 70050 cm2
Vậy câu c), d) cho đúng 326 dm2; 930 cm2; 808 mm2; 70050 cm2, khớp với Cách 1.
3Cách 3. Đổi ngược lại kết quả để tự kiểm tra
Định hướng. Sau khi có kết quả, đổi ngược trở lại đơn vị ban đầu — nếu ra đúng số đề bài cho thì kết quả đáng tin cậy; đây là cách thử lại nhanh mà không cần làm lại từ đầu.
Kết quả câu a) là 21 dm2=2100 cm2, thử lại: 2100 cm2=2100:100=21 dm2 — đúng như đề cho Kết quả câu b) là 90000 cm2=900 dm2, thử lại: 900 dm2=900×100=90000 cm2 — đúng như đề cho Kết quả câu d) là 7 m250 cm2=70050 cm2, thử lại: 70050 cm2=70000 cm2+50 cm2=7 m250 cm2 — đúng như đề cho
Vậy phép thử ngược xác nhận toàn bộ các kết quả ở Cách 1 và Cách 2 đều chính xác.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Nên dùng Cách 1 tính thẳng theo hệ số 100 cho các ý đơn giản; với số đo hỗn hợp (câu c, d) nên trình bày rõ như Cách 2 để tránh cộng nhầm hai đơn vị khác nhau; Cách 3 dùng để tự kiểm tra lại.
Sai lầm thường gặp.Đổi 4 m2 ra dm2 mà chỉ nhân với 10 như đơn vị đo độ dài, ra nhầm 40 dm2 — phải nhớ đơn vị diện tích liền kề gấp nhau 100 lần chứ không phải 10 lần, kết quả đúng là 400 dm2.
🚀 Mở rộng.Bài khó hơn: đổi đơn vị đo thể tích (m³, dm³, cm³) thì hai đơn vị liền kề lại gấp nhau tới 1000 lần vì thể tích có ba chiều — càng cần cẩn thận hơn diện tích.
Bài 10 · Bài 5 (Tiết 2)★★Trang 119— Toán lời văn: diện tích hình vuông, hình chữ nhật và bài toán lát nền
Bài 5 (trang 119, Tiết 2). a) Người ta dùng loại gạch men hình vuông có cạnh 60 cm để lát nền một căn phòng hình chữ nhật có chiều dài 9 m, chiều rộng 6 m. Hỏi cần bao nhiêu viên gạch men loại đó để vừa đủ lát kín nền căn phòng? (Diện tích phần mạch vữa không đáng kể.) b) Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng. Nếu dùng loại gạch men hình vuông có cạnh 30 cm thì số viên gạch men cần dùng để lát kín nền căn phòng ở câu a) là: A. 300 viên B. 400 viên C. 500 viên D. 600 viên
Kiến thức cần nhớ
Diện tích hình vuông cạnh a là a×a; diện tích hình chữ nhật là chiều dài nhân chiều rộng.
Số viên gạch vuông vừa đủ lát kín một nền (không tính mạch vữa) bằng diện tích nền chia cho diện tích một viên gạch, với điều kiện hai diện tích phải cùng đơn vị đo.
🧠 Phân tích tư duy
Muốn biết cần bao nhiêu viên gạch vuông để lát kín một nền hình chữ nhật, lấy diện tích nền chia cho diện tích một viên gạch — nhưng hai diện tích phải cùng một đơn vị đo. Bẫy hay gặp nhất là quên đổi đơn vị: diện tích nền tính ra mét vuông còn diện tích viên gạch tính ra xăng-ti-mét vuông, phải đổi về cùng đơn vị trước khi chia.
1Cách 1. Tính diện tích rồi chia (theo tóm tắt)
Định hướng. Tính diện tích một viên gạch, diện tích cả nền phòng (đổi cùng về cm²), rồi lấy diện tích nền chia cho diện tích một viên gạch.
Tóm tắt Nền phòng: dài 9 m, rộng 6 m Gạch: hình vuông cạnh 60 cm (câu a), cạnh 30 cm (câu b) Số viên gạch: ?
Bài giải câu a) Diện tích mỗi viên gạch cạnh 60 cm là: 60×60=3600 (cm2) Diện tích nền căn phòng là: 9×6=54 (m2) Đổi 54 m2=540000 cm2 Số viên gạch để vừa đủ lát kín nền căn phòng là: 540000:3600=150 (viên gạch) Đáp số: 150 viên gạch
Bài giải câu b) Diện tích mỗi viên gạch cạnh 30 cm là: 30×30=900 (cm2) Số viên gạch để vừa đủ lát kín nền căn phòng là: 540000:900=600 (viên gạch) Đáp số: 600 viên gạch
Vậy câu a) cần 150 viên gạch cạnh 60 cm; câu b) chọn đáp án D (600 viên gạch cạnh 30 cm).
2Cách 2. Đếm số viên theo từng chiều rồi nhân lại
Định hướng. Đổi chiều dài, chiều rộng nền phòng ra cùng đơn vị với cạnh viên gạch, tìm số viên xếp theo chiều dài và số viên xếp theo chiều rộng, rồi nhân hai số đó lại — giống như đếm ô vuông trên một lưới.
Đổi chiều dài 9 m =900 cm, chiều rộng 6 m =600 cm Với gạch cạnh 60 cm: số viên xếp theo chiều dài là 900:60=15 (viên), số viên xếp theo chiều rộng là 600:60=10 (viên) Số viên gạch cần dùng là: 15×10=150 (viên gạch) Với gạch cạnh 30 cm: số viên xếp theo chiều dài là 900:30=30 (viên), số viên xếp theo chiều rộng là 600:30=20 (viên) Số viên gạch cần dùng là: 30×20=600 (viên gạch) Đáp số: câu a) 150 viên gạch; câu b) 600 viên gạch
Vậy đếm theo lưới ô vuông cũng cho đúng 150 viên và 600 viên như Cách 1.
3Cách 3. Dùng tỉ số diện tích giữa hai loại gạch
Định hướng. Không cần tính lại từ đầu cho câu b) — so sánh cạnh viên gạch mới với viên gạch cũ để suy ra tỉ số diện tích, từ đó suy ra ngay số viên gạch cần dùng gấp mấy lần.
Cạnh viên gạch mới (30 cm) bằng 21 cạnh viên gạch cũ (60 cm) Diện tích tỉ lệ với bình phương cạnh, nên diện tích viên gạch mới bằng 21×21=41 diện tích viên gạch cũ Diện tích viên gạch nhỏ hơn 4 lần thì số viên gạch cần dùng phải nhiều hơn đúng 4 lần Số viên gạch cạnh 30 cm cần dùng là: 150×4=600 (viên gạch) Đáp số: 600 viên gạch
Vậy dùng tỉ số diện tích cũng suy ra ngay 600 viên gạch (đáp án D) mà không cần tính lại diện tích nền phòng.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Với câu b), nên dùng Cách 3 (tỉ số diện tích) để làm rất nhanh: gạch cạnh nhỏ bằng nửa cạnh gạch cũ thì cần gấp 4 lần số viên, khỏi phải tính lại diện tích nền phòng từ đầu.
Đáp số.a) 150 viên gạch. b) D. 600 viên.
Sai lầm thường gặp.Lấy thẳng 9×6=54 rồi chia cho 3600 mà quên đổi 54 m2 ra cm2 trước — hai diện tích phải cùng đơn vị mới chia được, đổi đúng phải ra 540000 cm2 rồi mới chia cho diện tích viên gạch.
🚀 Mở rộng.Bài khó hơn: nền phòng có chừa một khoảng cửa ra vào hoặc bậu cửa sổ không lát gạch, phải trừ bớt diện tích phần đó trước khi chia cho diện tích một viên gạch.
Đối chiếu số hiệu bài tập theo SBT: https://vietjack.com/vbt-toan-4-kn/bai-71-on-tap-hinh-hoc-va-do-luong.jsp · https://loigiaihay.com/giai-bai-71-on-tap-hinh-hoc-va-do-luong-tiet-1-trang-117-vo-bai-tap-toan-4-ket-noi-tri-thuc-voi-cuoc-song-a150721.html · https://loigiaihay.com/giai-bai-71-on-tap-hinh-hoc-va-do-luong-tiet-2-trang-118-vo-bai-tap-toan-4-ket-noi-tri-thuc-voi-cuoc-song-a150725.html