Bài 1 · 2.7★Trang 31— Nhận biết bất phương trình bậc nhất hai ẩn
2.7 (trang 31). Bất phương trình nào sau đây là bất phương trình bậc nhất hai ẩn? A. x+y>3. B. x2+y2≤4. C. (x−y)(3x+y)≥1. D. y3−2≤0.
Kiến thức cần nhớ
Bất phương trình bậc nhất hai ẩn có dạng ax+by≤c (hoặc <,≥,>) với a, b không đồng thời bằng 0, chỉ chứa x, y ở bậc nhất, không có tích xy hay luỹ thừa bậc cao hơn 1.
Khai triển vế trái trước khi kết luận bậc của bất phương trình.
🧠 Phân tích tư duy
Bốn phương án cố tình giấu bậc thật của biểu thức: B lộ rõ x2, y2; D chỉ có một ẩn ở bậc ba; riêng C phải KHAI TRIỂN mới thấy được bậc. Vì thế nguyên tắc làm bài là đưa mỗi biểu thức về dạng thu gọn rồi mới xét bậc, không xét theo hình thức ban đầu. Bẫy lớn nhất là C: nhìn thấy hai thừa số đều bậc nhất nên tưởng tích cũng bậc nhất.
1Cách 1. Xét dạng chuẩn của từng bất phương trình.
Định hướng. Đưa từng vế trái về dạng đa thức rồi so sánh với dạng chuẩn ax+by≤c của bất phương trình bậc nhất hai ẩn.
A. x+y>3 có vế trái x+y là đa thức bậc nhất theo cả x và y, đúng dạng ax+by>c với a=1, b=1. B. x2+y2≤4 có x2, y2 là bậc hai, không phải bậc nhất. C. Khai triển (x−y)(3x+y)=3x2+xy−3xy−y2=3x2−2xy−y2, xuất hiện x2, xy, y2, không phải bậc nhất. D. y3−2≤0 có y3 là bậc ba theo y, không phải bậc nhất.
Vậy chỉ có bất phương trình ở phương án A là bất phương trình bậc nhất hai ẩn. Chọn A.
2Cách 2. Loại trừ bằng cách tìm số hạng không bậc nhất.
Định hướng. Với mỗi phương án, tìm ngay một số hạng có bậc khác 1 (luỹ thừa từ 2 trở lên hoặc tích xy) để loại, phương án còn lại là đáp số.
B chứa x2 và y2 (bậc hai) ⇒ loại B. C sau khi nhân ra chứa x2, xy, y2 (bậc hai) ⇒ loại C. D chứa y3 (bậc ba) ⇒ loại D. A chỉ chứa x, y với số mũ 1, không có tích xy⇒ A là bất phương trình bậc nhất hai ẩn.
Vậy chọn A.
Nhận xét. Chỉ cần khai triển hết mọi tích rồi kiểm tra số mũ cao nhất của x, y và có tích xy hay không là loại được ngay ba phương án sai.
3Cách 3. Khai triển rồi xét hình dạng đường biên của mỗi phương án
Định hướng. Bất phương trình bậc nhất hai ẩn có đường biên là ĐƯỜNG THẲNG; khai triển từng biểu thức rồi xem đường biên tương ứng là đường gì.
A: đường biên x+y=3 là một đường thẳng, có đủ hai ẩn và cùng ở bậc nhất B: đường biên x2+y2=4 là một đường tròn tâm O bán kính 2, không phải đường thẳng C: khai triển (x−y)(3x+y)=3x2+xy−3xy−y2=3x2−2xy−y2, có x2 nên đường biên là một đường bậc hai D: y3−2≤0 chỉ chứa một ẩn y và ở bậc ba nên không phải bất phương trình bậc nhất hai ẩn
Vậy chọn phương án A.
Nhận xét. Tích của hai biểu thức bậc nhất cho biểu thức BẬC HAI — đây là chỗ phương án C đánh lừa, phải khai triển mới phát hiện.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 3: quét bốn phương án bằng câu hỏi “thu gọn xong còn số mũ nào khác 1 không”, riêng phương án có dấu ngoặc nhân nhau thì bắt buộc phải khai triển.
Đáp số.Chọn A.
Sai lầm thường gặp.Không khai triển (x−y)(3x+y) mà nhìn hình thức bên ngoài rồi tưởng nhầm đây là bậc nhất vì mỗi nhân tử đều bậc nhất.
🚀 Mở rộng.Ngược lại, (x+y)2−(x−y)2≤8 trông như bậc hai nhưng khai triển được 4xy≤8 — vẫn KHÔNG phải bất phương trình bậc nhất hai ẩn vì còn tích xy.
Bài 2 · 2.8★Trang 31— Nhận biết số nghiệm của bất phương trình bậc nhất hai ẩn
2.8 (trang 31). Cho bất phương trình 2x+y>3. Khẳng định nào sau đây là đúng? A. Bất phương trình đã cho có nghiệm duy nhất. B. Bất phương trình đã cho vô nghiệm. C. Bất phương trình đã cho có vô số nghiệm. D. Bất phương trình đã cho có tập nghiệm là [3;+∞).
Kiến thức cần nhớ
Nghiệm của bất phương trình hai ẩn là một cặp số (x0;y0); mỗi bất phương trình bậc nhất hai ẩn (khác vô nghiệm) có vô số nghiệm.
Không nhầm bất phương trình hai ẩn với bất phương trình một ẩn — tập nghiệm là một miền trên mặt phẳng, không phải một khoảng trên trục số.
🧠 Phân tích tư duy
Nghiệm của bất phương trình bậc nhất hai ẩn là một CẶP số (x;y) chứ không phải một số, nên phương án D sai ngay về bản chất vì [3;+∞) là tập các số thực. Miền nghiệm của bất phương trình dạng này luôn là một nửa mặt phẳng, mà nửa mặt phẳng chứa vô số điểm. Bẫy là quen với bất phương trình MỘT ẩn nên đi tìm “tập nghiệm trên trục số”.
1Cách 1. Chỉ ra trực tiếp vô số nghiệm cụ thể.
Định hướng. Cố định x rồi tìm điều kiện của y để thấy ứng với một giá trị x đã có vô số y thoả mãn, từ đó suy ra bất phương trình có vô số nghiệm.
Với x=0: 2⋅0+y>3⇔y>3, có vô số giá trị y thoả mãn (chẳng hạn y=4; y=5; y=10), mỗi giá trị cho một nghiệm (0;y) khác nhau. Với x=1: 2+y>3⇔y>1, lại có vô số giá trị y khác cho vô số nghiệm (1;y) khác với các nghiệm ở trên.
Vậy chỉ riêng với hai giá trị x=0 và x=1 đã có vô số nghiệm phân biệt; bất phương trình đã cho có vô số nghiệm. Chọn C.
2Cách 2. Loại trừ ba phương án còn lại.
Định hướng. Chỉ ra phản ví dụ để loại các phương án A, B, D, từ đó khẳng định phương án đúng còn lại.
A sai vì đã tìm được ít nhất hai nghiệm khác nhau (0;4) và (1;2), không phải nghiệm duy nhất. B sai vì (0;4) là một nghiệm: 2⋅0+4=4>3 đúng, nên bất phương trình không vô nghiệm. D sai vì tập nghiệm của bất phương trình hai ẩn là một miền điểm trong mặt phẳng Oxy, không phải một khoảng số thực; chẳng hạn (−10;100) cũng là nghiệm vì 2⋅(−10)+100=80>3 đúng, trong khi −10 không thuộc [3;+∞).
Vậy ba phương án A, B, D đều sai nên chọn C.
Nhận xét. Bất phương trình bậc nhất hai ẩn (có nghiệm) luôn có vô số nghiệm vì miền nghiệm là một nửa mặt phẳng chứa vô số điểm.
3Cách 3. Đọc số nghiệm từ miền nghiệm trên mặt phẳng toạ độ
Định hướng. Vẽ miền nghiệm: đó là một nửa mặt phẳng bờ 2x+y=3; số nghiệm chính là số điểm của nửa mặt phẳng ấy.
Đường thẳng 2x+y=3 cắt trục hoành tại (1,5;0) và cắt trục tung tại (0;3) Thử điểm (2;0): 2⋅2+0=4>3 nên miền nghiệm là nửa mặt phẳng bờ 2x+y=3 chứa điểm (2;0), không kể bờ Một nửa mặt phẳng chứa vô số điểm nên bất phương trình có vô số nghiệm, loại A và loại B Nghiệm là một CẶP số (x;y) nên tập nghiệm nằm trong mặt phẳng toạ độ, không thể là tập con của trục số như [3;+∞), loại D
Vậy chọn phương án C.
Nhận xét. Mọi bất phương trình bậc nhất hai ẩn ax+by>c với a, b không đồng thời bằng 0 đều có VÔ SỐ nghiệm — đây là kết luận chung, không riêng bài này.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần nêu vài nghiệm như (2;0), (3;0), (4;0) rồi nhận xét có vô số nghiệm là chọn được C ngay.
Đáp số.Chọn C.
Sai lầm thường gặp.Nhầm bất phương trình bậc nhất hai ẩn với bất phương trình bậc nhất một ẩn nên chọn D, tưởng tập nghiệm là một khoảng số thực.
🚀 Mở rộng.Bất phương trình bậc nhất hai ẩn chỉ VÔ NGHIỆM khi cả hai hệ số của x, y đều bằng 0 và bất đẳng thức số còn lại sai, chẳng hạn 0x+0y>3; ngoài trường hợp suy biến đó thì luôn có vô số nghiệm.
Bài 3 · 2.9★★Trang 31— Nhận biết miền nghiệm của bất phương trình bậc nhất hai ẩn qua đồ thị
2.9 (trang 31). Hình nào sau đây biểu diễn miền nghiệm (phần không bị gạch chéo) của bất phương trình x−y<3? A. Đường thẳng nét đứt đi qua (0;3) và (3;0); phần không gạch là tam giác tạo bởi đường thẳng đó với hai trục toạ độ (không chứa các phần còn lại của mặt phẳng). B. Cùng đường thẳng nét đứt như hình A, nhưng phần không gạch đổi sang phía đối diện, tức phía trên bên phải của đường thẳng. C. Đường thẳng nét đứt đi qua (3;0) và (0;−3); phần không gạch là phía trên bên trái đường thẳng, chứa gốc toạ độ O. D. Cùng đường thẳng nét đứt như hình C, nhưng phần không gạch là phía dưới bên phải, không chứa gốc toạ độ O.
Kiến thức cần nhớ
Miền nghiệm của x−y<3 là nửa mặt phẳng bờ đường thẳng x−y=3 (nét đứt vì bất phương trình chặt), không kể đường thẳng.
Thử toạ độ gốc O(0;0): O thoả mãn thì miền nghiệm là nửa mặt phẳng chứa O.
🧠 Phân tích tư duy
Bốn hình khác nhau ở hai chi tiết độc lập: ĐƯỜNG BIÊN là đường nào và MIỀN nằm về phía nào, nên nên xử lí hai chi tiết đó tách rời. Đường biên x−y=3 cắt hai trục tại (3;0) và (0;−3), khác hẳn đường của hai hình A, B nên loại ngay được một nửa số phương án. Bẫy là vội thử điểm mà chưa kiểm xem hình vẽ có đúng đường biên hay không.
1Cách 1. Xác định đúng đường thẳng biên rồi thử điểm O.
Định hướng. Trước hết xác định đúng phương trình đường thẳng biên của x−y<3, sau đó thử toạ độ gốc O để biết miền nghiệm nằm về phía nào.
Đường thẳng biên của x−y<3 là x−y=3, đi qua hai điểm (3;0) và (0;−3) (vì 3−0=3 và 0−(−3)=3). Bất phương trình chặt (<) nên đường thẳng biên vẽ nét đứt, không thuộc miền nghiệm. Thử toạ độ gốc O(0;0): 0−0=0<3 đúng, nên O thuộc miền nghiệm. Hình A, B vẽ đường thẳng đi qua (0;3) và (3;0), tức đường thẳng x+y=3, không phải x−y=3, nên cả hai đều sai đường biên. Hình C và D cùng vẽ đúng đường thẳng x−y=3 nhưng lấy hai phía ngược nhau; hình C lấy phía chứa O, hình D lấy phía không chứa O.
Vậy miền nghiệm đúng là phía chứa gốc toạ độ O của đường thẳng x−y=3, tức là hình C. Chọn C.
2Cách 2. Thử một điểm cụ thể trên mỗi hình để loại trừ.
Định hướng. Với mỗi phương án, lấy một điểm thuộc phần không gạch của hình đó rồi thay vào x−y<3 để kiểm tra, từ đó loại các hình sai.
Hình A: điểm (−5;0) nằm ngoài tam giác nên bị gạch dù −5−0=−5<3 vẫn đúng ⇒ hình A gạch nhầm cả điểm thoả mãn bất phương trình, sai. Hình B: điểm (4;−4) thuộc phần không gạch của hình B nhưng 4−(−4)=8<3 sai ⇒ hình B cũng gạch nhầm, sai. Hình D: điểm (0;0) thuộc phần không gạch của hình D, nhưng 0−0=0<3 đúng nên O phải là nghiệm, tức là bị xếp sai phía ⇒ hình D sai. Hình C: điểm phía trên bên trái như (0;0), (−2;1) đều cho x−y<3 đúng, còn điểm phía dưới bên phải như (4;−1) cho 4−(−1)=5<3 sai, đúng như phần bị gạch của hình C.
Vậy chỉ hình C phân chia đúng hai miền theo bất phương trình đã cho. Chọn C.
Nhận xét. Sai lầm phổ biến là vẽ nhầm đường thẳng x+y=3 thay vì x−y=3 do đọc nhanh dấu trừ thành dấu cộng.
3Cách 3. Loại theo hai bước độc lập — chọn đúng đường biên rồi mới chọn đúng phía
Định hướng. Bước thứ nhất tìm giao điểm của đường biên với hai trục để loại các hình vẽ sai đường; bước thứ hai dùng dấu tại gốc toạ độ để chọn đúng nửa mặt phẳng.
Đường biên là x−y=3; cho y=0 được x=3, cho x=0 được y=−3 nên đường biên đi qua (3;0) và (0;−3) Hai hình A và B vẽ đường thẳng đi qua (0;3) và (3;0), tức đường x+y=3, sai đường biên nên bị loại Bất phương trình có dấu chặt nên đường biên phải vẽ nét đứt, cả C và D đều thoả điều này Thử gốc toạ độ: 0−0=0<3 nên O thuộc miền nghiệm Hình C có phần không gạch chứa gốc toạ độ, hình D thì không
Vậy chọn phương án C.
Nhận xét. Tách thành hai bước độc lập giúp mỗi bước chỉ trả lời một câu hỏi, nên không bị rối khi bốn phương án chỉ khác nhau chút ít.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 3: tìm hai giao điểm với trục trước — thao tác này loại được ngay các hình vẽ sai đường biên, phần còn lại chỉ là một phép thử điểm.
Đáp số.Chọn C.
Sai lầm thường gặp.Vẽ nhầm đường thẳng x+y=3 (qua (0;3), (3;0)) thay vì x−y=3 (qua (3;0), (0;−3)), hoặc vẽ đúng đường thẳng nhưng lấy nhầm phía không chứa gốc toạ độ.
🚀 Mở rộng.Nếu đổi thành x−y≤3 thì đường biên giữ nguyên nhưng phải vẽ NÉT LIỀN và miền nghiệm lấy thêm cả bờ — đáp án khi ấy là hình C với đường liền.
Bài 4 · 2.10★Trang 31— Nhận biết hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn
2.10 (trang 31). Hệ bất phương trình nào sau đây là hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn? A. {x−y<02y≥0. B. {3x+y3<0x+y>3. C. {x+2y<0y2+3<0. D. {−x3+y<4x+2y<1.
Kiến thức cần nhớ
Hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn là hệ mà MỌI bất phương trình thành phần đều là bất phương trình bậc nhất hai ẩn.
Chỉ cần một bất phương trình trong hệ chứa luỹ thừa bậc cao hơn 1 (như x3, y2, y3) là cả hệ không còn bậc nhất.
🧠 Phân tích tư duy
Một hệ chỉ là hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn khi MỌI bất phương trình trong hệ đều bậc nhất hai ẩn, nên chỉ cần một dòng vi phạm là loại cả hệ. Ba phương án B, C, D đều lộ luỹ thừa bậc cao ở một dòng: y3, y2, x3. Bẫy là chỉ đọc dòng đầu của mỗi hệ rồi kết luận, trong khi lỗi có thể nằm ở dòng thứ hai.
1Cách 1. Kiểm tra từng bất phương trình thành phần.
Định hướng. Xét từng bất phương trình trong mỗi hệ, hệ chỉ là bậc nhất hai ẩn khi cả hai bất phương trình thành phần đều bậc nhất.
A. x−y<0 bậc nhất; 2y≥0 bậc nhất (hệ số của x bằng 0 vẫn hợp lệ) ⇒ cả hai bậc nhất. B. 3x+y3<0 chứa y3, không bậc nhất ⇒ loại. C. y2+3<0 chứa y2, không bậc nhất ⇒ loại. D. −x3+y<4 chứa x3, không bậc nhất ⇒ loại.
Vậy chỉ hệ A có cả hai bất phương trình đều bậc nhất hai ẩn. Chọn A.
2Cách 2. Loại trừ nhanh bằng dấu hiệu luỹ thừa bậc cao.
Định hướng. Quét nhanh từng hệ để tìm số hạng có luỹ thừa từ bậc hai trở lên, hệ chứa số hạng đó bị loại ngay.
Hệ B có y3⇒ loại ngay. Hệ C có y2⇒ loại ngay. Hệ D có x3⇒ loại ngay. Hệ A không có bất kì luỹ thừa bậc hai trở lên nào ở cả hai bất phương trình ⇒ hệ A là hệ bậc nhất hai ẩn.
Vậy chọn A.
Nhận xét. Bất phương trình y2+3<0 trong hệ C còn vô nghiệm (vì y2+3≥3>0 với mọi y), nhưng điều đó không liên quan tới việc xét bậc — hệ C vẫn bị loại vì y2.
3Cách 3. Kiểm bằng hình dạng miền nghiệm của cả hệ
Định hướng. Miền nghiệm của hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn là GIAO của các nửa mặt phẳng; xét xem miền nghiệm của mỗi hệ có đúng dạng đó không.
A: x−y<0 cho một nửa mặt phẳng, 2y≥0 tức y≥0 cũng cho một nửa mặt phẳng, giao của chúng là một góc nên A là hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn B: 3x+y3<0 có đường biên y3=−3x là một đường cong, không phải đường thẳng nên B bị loại C: y2+3<0 có y2≥0 nên y2+3≥3>0, bất phương trình này vô nghiệm và cũng không bậc nhất, nên C bị loại D: −x3+y<4 có đường biên y=x3+4 là đường cong nên D bị loại
Vậy chọn phương án A.
Nhận xét. Riêng hệ C còn hỏng nặng hơn: nó VÔ NGHIỆM, vì y2+3 luôn dương với mọi y.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 2: quét mọi dòng của cả bốn hệ để tìm số mũ khác 1 trên ẩn, thấy là loại — cách này bắt được ngay ba phương án hỏng.
Đáp số.Chọn A.
Sai lầm thường gặp.Cho rằng 2y≥0 không phải bất phương trình hai ẩn vì thiếu x, trong khi hệ số của x được phép bằng 0 miễn a, b không đồng thời bằng 0.
🚀 Mở rộng.Hệ x−y<0, 2y≥0 có miền nghiệm là góc phần tư mở phía trên đường phân giác y=x và phía trên trục hoành — miền không bị chặn, cho thấy hệ bậc nhất hai ẩn không nhất thiết cho miền đa giác hữu hạn.
Bài 5 · 2.11★★Trang 32— Kiểm tra điểm thuộc miền nghiệm của hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn
2.11 (trang 32). Cho hệ bất phương trình {x−y<−32y≥−4. Điểm nào sau đây thuộc miền nghiệm của hệ bất phương trình đã cho? A. (0;0). B. (−2;1). C. (3;−1). D. (−3;1).
Kiến thức cần nhớ
Một điểm thuộc miền nghiệm của hệ khi và chỉ khi toạ độ của nó thoả mãn ĐỒNG THỜI mọi bất phương trình trong hệ.
Chỉ cần một bất phương trình bị vi phạm là điểm đó bị loại, không cần thử bất phương trình còn lại.
🧠 Phân tích tư duy
Hệ có hai bất phương trình nên một điểm phải thoả CẢ HAI mới thuộc miền nghiệm; chỉ cần một dòng sai là loại. Rút gọn trước sẽ nhanh hơn nhiều: x−y<−3 thành y>x+3 và 2y≥−4 thành y≥−2. Bẫy là kiểm đúng một bất phương trình rồi kết luận vội, hoặc quên chia hai vế của 2y≥−4 cho 2.
1Cách 1. Thay trực tiếp toạ độ từng điểm vào hệ.
Định hướng. Thay lần lượt toạ độ bốn điểm vào cả hai bất phương trình của hệ, điểm thoả mãn đồng thời cả hai mới là nghiệm.
A. (0;0): x−y=0−0=0, 0<−3 sai ⇒ loại. B. (−2;1): x−y=−2−1=−3, −3<−3 sai (bằng chứ không nhỏ hơn) ⇒ loại. C. (3;−1): x−y=3−(−1)=4, 4<−3 sai ⇒ loại. D. (−3;1): x−y=−3−1=−4, −4<−3 đúng; 2y=2⋅1=2, 2≥−4 đúng ⇒ thoả mãn cả hai.
Vậy điểm (−3;1) thuộc miền nghiệm của hệ. Chọn D.
2Cách 2. Xác định miền nghiệm trên hình rồi đối chiếu vị trí từng điểm.
Định hướng. Vẽ hai đường thẳng biên x−y=−3 (nét đứt) và y=−2 (nét liền), xác định miền nghiệm là phần phía trên cả hai đường, rồi đối chiếu vị trí bốn điểm.
Đường thẳng x−y=−3 đi qua (−3;0) và (0;3); thử O(0;0): 0<−3 sai nên miền nghiệm của x−y<−3 ở phía đối diện với O. Đường thẳng y=−2 nằm ngang; thử O(0;0): 0≥−4 đúng nên miền nghiệm của 2y≥−4 chứa phía của O. Trên hình, điểm (0;0) và (3;−1) nằm dưới đường x−y=−3, ngoài miền nghiệm; điểm (−2;1) nằm đúng trên đường nét đứt x−y=−3 nên không thuộc miền; chỉ điểm (−3;1) nằm hẳn phía trên cả hai đường biên.
Vậy quan sát hình cho cùng kết quả với cách 1: chọn D.
Nhận xét. Điểm (−2;1) tuy gần miền nghiệm nhưng nằm đúng trên đường biên nét đứt của bất phương trình chặt nên không được tính là nghiệm.
3Cách 3. Rút gọn hệ về dạng y rồi lọc các phương án bằng điều kiện chặt hơn trước
Định hướng. Đưa cả hai bất phương trình về dạng chặn cho y; điều kiện y>x+3 khắt khe hơn nên đem nó ra lọc trước, phương án nào qua được mới cần kiểm điều kiện thứ hai.
x−y<−3⇔y>x+3 và 2y≥−4⇔y≥−2 A với (0;0): cần 0>0+3, sai nên loại B với (−2;1): cần 1>−2+3=1, sai nên loại C với (3;−1): cần −1>3+3=6, sai nên loại D với (−3;1): có 1>−3+3=0 nên thoả điều kiện thứ nhất; lại có 1≥−2 nên thoả điều kiện thứ hai
Vậy chọn phương án D.
Nhận xét. Phương án B rơi đúng vào trường hợp y=x+3, tức nằm TRÊN đường biên; vì bất phương trình có dấu chặt nên điểm trên biên bị loại.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 3: rút gọn về y>x+3 rồi lọc bằng đúng điều kiện này, vì ba phương án sai đều rớt ngay ở bước đầu, khỏi phải tính điều kiện thứ hai.
Đáp số.Chọn D.
Sai lầm thường gặp.Nhầm điểm (−2;1) là nghiệm vì tính x−y=−2−1=−3 rồi cho rằng −3<−3 là đúng, quên rằng bất phương trình chặt không nhận dấu bằng.
🚀 Mở rộng.Nếu đổi x−y<−3 thành x−y≤−3 thì điểm (−2;1) của phương án B trở thành nghiệm — bài sẽ có tới hai phương án đúng, nên dấu chặt ở đây là chi tiết bắt buộc phải đọc kĩ.
Bài 6 · 2.12★★Trang 32— Đưa bất phương trình có mẫu số về dạng bậc nhất hai ẩn rồi biểu diễn miền nghiệm
2.12 (trang 32). Biểu diễn miền nghiệm của bất phương trình 2x+y≥32x−y+1 trên mặt phẳng toạ độ.
Kiến thức cần nhớ
Nhân cả hai vế của bất phương trình với mẫu số chung dương để khử mẫu, chiều bất phương trình được giữ nguyên.
Sau khi rút gọn về dạng ax+by≤c (hay ≥), vẽ đường thẳng biên rồi thử điểm để xác định đúng miền nghiệm.
🧠 Phân tích tư duy
Bất phương trình có mẫu số nhưng mẫu là các HẰNG SỐ dương 2 và 3, nên nhân chéo không làm đổi chiều — đây là điểm khác hẳn với bất phương trình có mẫu chứa ẩn. Sau khi khử mẫu và chuyển vế, dạng thu gọn là x−5y+2≤0, tức một bất phương trình bậc nhất hai ẩn quen thuộc. Bẫy là nhân chéo mà quên nhân đủ hai hạng tử ở tử số bên phải, hoặc đổi chiều bất đẳng thức một cách vô cớ.
1Cách 1. Khử mẫu, rút gọn về dạng chuẩn rồi thử điểm O.
Định hướng. Nhân hai vế với mẫu số chung 6 (dương nên giữ nguyên chiều bất phương trình) để khử mẫu, rút gọn về dạng ax+by≥c, sau đó vẽ đường thẳng biên và thử điểm O để xác định miền nghiệm.
2x+y≥32x−y+1 3(x+y)≥2(2x−y+1) 3x+3y≥4x−2y+2 5y−x≥2 x−5y+2≤0. Đường thẳng biên x−5y+2=0 đi qua (−2;0) và (8;2) (vì −2−0+2=0 và 8−10+2=0), vẽ nét liền vì bất phương trình có dấu bằng. Thử toạ độ gốc O(0;0): 0−0+2=2≤0 sai, nên miền nghiệm là nửa mặt phẳng bờ đường thẳng trên KHÔNG chứa gốc toạ độ O.
Vậy miền nghiệm là nửa mặt phẳng bờ x−5y+2=0 (kể cả bờ) không chứa gốc toạ độ O, như hình vẽ.
2Cách 2. Rút y theo x rồi so sánh trực tiếp.
Định hướng. Từ dạng rút gọn, biểu diễn y theo x để thấy ngay miền nghiệm nằm phía trên hay dưới đường thẳng, rồi thử một điểm khác để kiểm chứng.
Từ 5y−x≥2 suy ra y≥5x+2. Vậy miền nghiệm gồm mọi điểm nằm phía trên (kể cả trên) đường thẳng y=5x+2. Thử điểm (0;1): 50+2=0,4; vì 1≥0,4 đúng nên (0;1) thuộc miền nghiệm.
Vậy kết quả khớp cách 1: miền nghiệm là nửa mặt phẳng phía trên đường thẳng y=5x+2, không chứa gốc toạ độ O.
Nhận xét. Vì O(0;0) cho 0<50+2 nên O không thuộc miền nghiệm, khớp với kết luận ở cách 1.
3Cách 3. Thử hai điểm nằm hai phía để xác nhận phép khử mẫu, rồi vẽ biên qua hai giao điểm với trục
Định hướng. Sau khi rút gọn, thay hai điểm nằm hai phía đường biên vào BẤT PHƯƠNG TRÌNH GỐC để chắc chắn phép khử mẫu không làm đổi chiều; đường biên vẽ qua hai giao điểm với hai trục cho hình chuẩn.
2x+y≥32x−y+1⇔3(x+y)≥2(2x−y+1) 3x+3y≥4x−2y+2⇔0≥x−5y+2, tức x−5y+2≤0 hay y≥5x+2 Thử gốc O(0;0) vào bất phương trình gốc: vế trái bằng 0, vế phải bằng 31, mà 0<31 nên O KHÔNG thuộc miền nghiệm; dạng rút gọn cho 0−0+2=2>0, cùng kết luận Thử điểm (0;1): vế trái bằng 21, vế phải bằng 0, mà 21≥0 nên điểm này THUỘC miền nghiệm; dạng rút gọn cho 0−5+2=−3≤0, cùng kết luận Đường biên x−5y+2=0 cắt trục hoành tại (−2;0) và cắt trục tung tại (0;0,4)
Vậy miền nghiệm là nửa mặt phẳng bờ đường thẳng x−5y+2=0 vẽ nét liền (kể cả bờ), KHÔNG chứa gốc toạ độ O — đó là nửa mặt phẳng phía trên đường thẳng, ứng với y≥5x+2.
Nhận xét. Hai phép thử ở hai phía là bằng chứng cho thấy phép nhân hai vế với 6 giữ nguyên chiều, vì 6 là số DƯƠNG.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: nhân hai vế với 6 để khử cả hai mẫu một lần rồi chuyển hết về một vế — làm thế chỉ mất hai dòng và tránh được lỗi nhân thiếu hạng tử.
Đáp số.Miền nghiệm là nửa mặt phẳng bờ đường thẳng x−5y+2=0 (kể cả bờ), không chứa gốc toạ độ O; tương đương y≥5x+2.
Sai lầm thường gặp.Nhân chéo hai phân thức mà quên nhân cả hệ số ở tử (ví dụ quên nhân 3 vào toàn bộ x+y), dẫn tới bất phương trình rút gọn sai hệ số.
🚀 Mở rộng.Nếu mẫu chứa ẩn, chẳng hạn xx+y≥1, thì KHÔNG được nhân chéo tuỳ tiện vì dấu của x chưa biết — phải chia trường hợp x>0 và x<0, và bài không còn là bất phương trình bậc nhất hai ẩn nữa.
Bài 7 · 2.13★★Trang 32— Biểu diễn miền nghiệm của hệ hai bất phương trình bậc nhất hai ẩn
2.13 (trang 32). Biểu diễn miền nghiệm của hệ bất phương trình {x+y<12x−y≥3 trên mặt phẳng toạ độ.
Kiến thức cần nhớ
Miền nghiệm của hệ là giao của hai nửa mặt phẳng nghiệm ứng với từng bất phương trình.
Toạ độ giao điểm của hai đường thẳng biên là điểm mà tại đó biên của miền nghiệm đổi từ đường này sang đường kia.
🧠 Phân tích tư duy
Hệ gồm hai bất phương trình với hai dấu khác loại: x+y<1 là dấu chặt nên biên vẽ nét đứt, còn 2x−y≥3 có dấu bằng nên biên vẽ nét liền. Đưa cả hai về dạng chặn TRÊN cho y thì thấy ngay miền nghiệm nằm phía dưới cả hai đường thẳng, tức không bị chặn về phía dưới. Bẫy là mô tả miền nghiệm như một tam giác — miền này mở, chỉ có duy nhất một đỉnh.
1Cách 1. Vẽ từng đường biên, thử điểm rồi lấy giao.
Định hướng. Vẽ hai đường thẳng biên x+y=1 (nét đứt) và 2x−y=3 (nét liền), xác định miền nghiệm từng bất phương trình bằng điểm thử, sau đó lấy phần giao của hai miền.
Đường thẳng x+y=1 đi qua (1;0) và (0;1), vẽ nét đứt vì bất phương trình chặt. Thử O(0;0) vào x+y<1: 0<1 đúng, miền nghiệm của bất phương trình này là nửa mặt phẳng chứa O. Đường thẳng 2x−y=3 đi qua (0;−3) và (1,5;0), vẽ nét liền vì có dấu bằng. Thử O(0;0) vào 2x−y≥3: 0≥3 sai, miền nghiệm của bất phương trình này là nửa mặt phẳng KHÔNG chứa O. Toạ độ giao điểm của hai đường thẳng: từ x+y=1 suy ra y=1−x, thế vào 2x−y=3: 2x−(1−x)=3⇒3x−1=3⇒x=34, khi đó y=1−34=−31. Miền nghiệm của hệ là phần mặt phẳng thoả mãn đồng thời cả hai điều kiện: phía dưới đường x+y=1 và phía dưới đường 2x−y=3, tạo thành một miền không bị chặn nhận điểm (34;−31) làm đỉnh.
Vậy miền nghiệm của hệ là miền không bị chặn có đỉnh (34;−31), giới hạn bởi tia thuộc đường 2x−y=3 (nét liền, lấy cả biên) ứng với x≤34 và tia thuộc đường x+y=1 (nét đứt, không lấy biên) ứng với x≥34, như hình vẽ.
2Cách 2. Thử điểm đại diện trong miền để kiểm chứng.
Định hướng. Chọn một điểm nằm sâu trong miền vừa xác định ở cách 1 và một điểm ngoài miền để kiểm tra lại bằng phép thay số trực tiếp vào hệ.
Chọn điểm (0;−4): x+y=0+(−4)=−4<1 đúng; 2x−y=0−(−4)=4≥3 đúng ⇒(0;−4) thuộc miền nghiệm. Chọn điểm (0;0): x+y=0<1 đúng nhưng 2x−y=0≥3 sai ⇒(0;0) không thuộc miền nghiệm dù thoả mãn bất phương trình thứ nhất. Chọn điểm (3;−2) (bên phải đỉnh, x>34): x+y=3+(−2)=1<1 sai (vì bằng 1) ⇒ điểm nằm đúng trên biên nét đứt, không thuộc miền nghiệm.
Vậy các điểm thử khớp với miền nghiệm đã xác định ở cách 1.
Nhận xét. Miền nghiệm của hệ hai bất phương trình bậc nhất hai ẩn không nhất thiết là một đa giác kín — ở đây miền nghiệm không bị chặn, mở rộng vô hạn về phía y càng nhỏ.
3Cách 3. Giải hệ hai phương trình đường biên để tìm đỉnh, rồi mô tả miền bằng hai tia
Định hướng. Đỉnh duy nhất của miền là giao điểm hai đường biên; tìm toạ độ đỉnh bằng cách giải hệ phương trình, sau đó mô tả miền bởi hai tia xuất phát từ đỉnh và kiểm bằng một điểm bên trong.
x+y<1⇔y<1−x và 2x−y≥3⇔y≤2x−3, cả hai đều chặn TRÊN cho y Giao hai đường biên: giải hệ x+y=1 và 2x−y=3; cộng hai phương trình được 3x=4 nên x=34 và y=1−34=−31 Đỉnh của miền là điểm I(34;−31) Với x≤34 thì 2x−3≤1−x nên ràng buộc chặt hơn là y≤2x−3, biên là tia thuộc đường 2x−y=3 vẽ nét liền Với x≥34 thì 1−x≤2x−3 nên ràng buộc chặt hơn là y<1−x, biên là tia thuộc đường x+y=1 vẽ nét đứt Kiểm chứng bằng điểm (2;−2): 2+(−2)=0<1 và 2⋅2−(−2)=6≥3, đúng là nghiệm
Vậy miền nghiệm là miền không bị chặn nằm phía dưới hai đường biên, có đỉnh I(34;−31), giới hạn bởi tia thuộc đường 2x−y=3 ứng với x≤34 (nét liền) và tia thuộc đường x+y=1 ứng với x≥34 (nét đứt).
Nhận xét. Vì cả hai bất phương trình đều chặn TRÊN cho y nên miền nghiệm chắc chắn mở xuống dưới — nhận xét này có ngay từ dạng của hệ, trước cả khi vẽ hình.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 3: giải hệ tìm đỉnh trước rồi mới vẽ, vì đỉnh có toạ độ phân số nên nhìn hình mà đọc thì gần như chắc chắn sai.
Đáp số.Miền nghiệm là miền không bị chặn có đỉnh (34;−31), giới hạn bởi tia thuộc 2x−y=3 (nét liền, x≤34) và tia thuộc x+y=1 (nét đứt, x≥34).
Sai lầm thường gặp.Tưởng hai bất phương trình luôn tạo miền bị chặn (đa giác kín), trong khi thực tế miền nghiệm ở đây không bị chặn.
🚀 Mở rộng.Nếu đổi x+y<1 thành x+y>1 thì hai ràng buộc thành y>1−x và y≤2x−3, miền nghiệm vẫn không bị chặn nhưng mở sang PHẢI và đỉnh I khi ấy không thuộc miền.
Bài 8 · 2.14★★★Trang 32— Biểu diễn miền nghiệm của hệ bốn bất phương trình rồi tìm GTLN, GTNN của biểu thức bậc nhất hai ẩn
2.14 (trang 32). Biểu diễn miền nghiệm của hệ bất phương trình ⎩⎨⎧y−2x≤2y≤4x≤5x+y≥−1 trên mặt phẳng toạ độ. Từ đó tìm giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của biểu thức F(x;y)=−x−y với (x;y) thoả mãn hệ trên.
Kiến thức cần nhớ
Miền nghiệm của hệ nhiều bất phương trình là giao của tất cả các nửa mặt phẳng nghiệm; khi miền là một đa giác, GTLN và GTNN của F=ax+by đạt tại một đỉnh của đa giác.
Đỉnh của miền nghiệm là giao điểm của hai đường thẳng biên, đồng thời phải thoả mãn các bất phương trình còn lại của hệ.
🧠 Phân tích tư duy
Biểu thức F=−x−y chỉ phụ thuộc TỔNG x+y, mà hệ lại có sẵn một ràng buộc về tổng là x+y≥−1 — đó là gợi ý mạnh rằng nên khảo sát t=x+y thay vì khảo sát riêng x, y. Vì các đường mức của F song song với cạnh x+y=−1 nên giá trị lớn nhất sẽ đạt trên CẢ MỘT CẠNH chứ không tại một điểm. Bẫy là chỉ kết luận “đạt tại một đỉnh” mà bỏ sót cả cạnh, làm mất ý quan trọng nhất của bài.
1Cách 1. Xác định các đỉnh của miền nghiệm rồi lập bảng giá trị F.
Định hướng. Tìm toạ độ các đỉnh của miền nghiệm bằng cách giải hệ từng cặp đường thẳng biên rồi kiểm tra với hai bất phương trình còn lại, sau đó lập bảng giá trị của F tại các đỉnh để tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất.
Bốn đường thẳng biên: y=2x+2; y=4; x=5; x+y=−1, đều vẽ nét liền vì cả bốn bất phương trình đều có dấu bằng. Giao của y=2x+2 và y=4: 2x+2=4⇒x=1, được điểm (1;4); kiểm tra x≤5 đúng, x+y=5≥−1 đúng. Giao của y=4 và x=5: điểm (5;4); kiểm tra y−2x=4−10=−6≤2 đúng, x+y=9≥−1 đúng. Giao của x=5 và x+y=−1: y=−1−5=−6, được điểm (5;−6); kiểm tra y−2x=−6−10=−16≤2 đúng, y=−6≤4 đúng. Giao của x+y=−1 và y=2x+2: −1−x=2x+2⇒−3=3x⇒x=−1, y=−1−(−1)=0, được điểm (−1;0); kiểm tra y=0≤4 đúng, x=−1≤5 đúng. Miền nghiệm là tứ giác với bốn đỉnh (−1;0), (1;4), (5;4), (5;−6). Bảng giá trị của F(x;y)=−x−y tại các đỉnh: F(−1;0)=−(−1)−0=1. F(1;4)=−1−4=−5. F(5;4)=−5−4=−9. F(5;−6)=−5−(−6)=1. So sánh bốn giá trị 1, −5, −9, 1: giá trị lớn nhất là 1, giá trị nhỏ nhất là −9.
Vậy miền nghiệm là tứ giác có bốn đỉnh (−1;0), (1;4), (5;4), (5;−6); F(x;y) đạt giá trị nhỏ nhất bằng −9 tại (5;4) và đạt giá trị lớn nhất bằng 1 tại cả hai đỉnh (−1;0) và (5;−6).
2Cách 2. Nhận xét F chỉ phụ thuộc tổng x+y rồi kiểm chứng bằng điểm trên cạnh.
Định hướng. Viết lại F(x;y)=−(x+y) để nhận ra F chỉ phụ thuộc vào tổng x+y; đối chiếu với bất phương trình x+y≥−1 trong hệ để chặn giá trị của F, rồi thử thêm điểm trên cạnh x+y=−1 để kiểm chứng.
F(x;y)=−x−y=−(x+y). Trong hệ có x+y≥−1, suy ra F(x;y)=−(x+y)≤−(−1)=1 với mọi (x;y) thoả mãn hệ; dấu bằng xảy ra khi và chỉ khi x+y=−1, tức tại mọi điểm trên cạnh nối (−1;0) và (5;−6) của miền nghiệm. Thử điểm (2;−3) nằm giữa cạnh đó: x+y=2+(−3)=−1, kiểm tra thuộc miền: y−2x=−3−4=−7≤2 đúng, y=−3≤4 đúng, x=2≤5 đúng ⇒(2;−3) thuộc miền nghiệm và F(2;−3)=−2−(−3)=1, đúng bằng giá trị lớn nhất. Với giá trị nhỏ nhất, so sánh trực tiếp bốn đỉnh như cách 1 cho F(5;4)=−9 là nhỏ nhất, vì đỉnh (5;4) có x+y=9 lớn nhất trong bốn đỉnh nên F=−(x+y) nhỏ nhất tại đó.
Vậy giá trị lớn nhất của F bằng 1, đạt tại mọi điểm trên cạnh nối (−1;0) và (5;−6); giá trị nhỏ nhất của F bằng −9, đạt tại đỉnh (5;4) — khớp với cách 1.
Nhận xét. Đây là trường hợp đặc biệt khi đường mức của F song song với một cạnh của miền nghiệm, nên giá trị lớn nhất đạt trên nguyên cả cạnh đó chứ không chỉ tại một đỉnh.
3Cách 3. Trượt họ đường mức x+y=−m trên miền nghiệm
Định hướng. Mỗi giá trị m của F ứng với một đường thẳng x+y=−m; họ đường này song song với nhau và song song luôn với cạnh x+y=−1, nên chỉ cần tìm hai đường mức ngoài cùng còn chạm miền.
Bốn đường biên là y−2x=2, y=4, x=5, x+y=−1; giải từng cặp được các đỉnh (−1;0), (1;4), (5;4), (5;−6) Đặt t=x+y thì F=−t; tổng t tại bốn đỉnh lần lượt là −1, 5, 9, −1 Đường mức nhỏ nhất còn chạm miền là x+y=−1, chạm dọc theo cả cạnh nối (−1;0) và (5;−6) vì cạnh này NẰM TRÊN đường đó Đường mức lớn nhất còn chạm miền là x+y=9, chỉ chạm tại đúng đỉnh (5;4) Do đó t nhận mọi giá trị từ −1 đến 9, kéo theo F=−t nhận mọi giá trị từ −9 đến 1
Vậy miền nghiệm là tứ giác có bốn đỉnh (−1;0), (1;4), (5;4), (5;−6); F đạt giá trị nhỏ nhất bằng −9 tại (5;4) và đạt giá trị lớn nhất bằng 1 tại MỌI điểm trên cạnh nối (−1;0) với (5;−6).
Nhận xét. Đường mức song song với một cạnh chính là lí do giá trị lớn nhất đạt trên cả cạnh — hiện tượng này chỉ xảy ra khi hệ số của F tỉ lệ với hệ số của cạnh đó.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: lập bảng F tại bốn đỉnh cho ngay hai giá trị −9 và 1; nhưng phải ghi thêm nhận xét của Cách 3 rằng F=1 tại HAI đỉnh nên đạt trên cả cạnh nối chúng, nếu không sẽ mất điểm ý này.
Đáp số.Miền nghiệm là tứ giác (−1;0), (1;4), (5;4), (5;−6); F đạt giá trị nhỏ nhất −9 tại (5;4) và giá trị lớn nhất 1 tại mọi điểm trên cạnh nối (−1;0), (5;−6).
Sai lầm thường gặp.Chỉ so sánh giá trị F tại bốn đỉnh và chọn đại một đỉnh cho giá trị lớn nhất mà không nhận ra F bằng nhau tại hai đỉnh, dẫn đến bỏ sót việc cả cạnh nối hai đỉnh đó cùng đạt giá trị lớn nhất.
🚀 Mở rộng.Nếu đổi thành F=−x−2y thì đường mức không còn song song với cạnh nào, khi đó giá trị lớn nhất và nhỏ nhất đều đạt tại đúng một đỉnh duy nhất.
Bài 9 · 2.15★★★★Trang 32— Vận dụng hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn giải bài toán đầu tư tối ưu lợi nhuận
2.15 (trang 32). Bác An đầu tư 1,2 tỉ đồng vào ba loại trái phiếu: trái phiếu chính phủ với lãi suất 7% một năm, trái phiếu ngân hàng với lãi suất 8% một năm và trái phiếu doanh nghiệp rủi ro cao với lãi suất 12% một năm. Vì lí do giảm thuế, bác An muốn số tiền đầu tư trái phiếu chính phủ gấp ít nhất 3 lần số tiền đầu tư trái phiếu ngân hàng. Hơn nữa, để giảm thiểu rủi ro, bác An đầu tư không quá 200 triệu đồng cho trái phiếu doanh nghiệp. Hỏi bác An nên đầu tư mỗi loại trái phiếu bao nhiêu tiền để lợi nhuận thu được sau một năm là lớn nhất?
Kiến thức cần nhớ
Khi tổng ba khoản đầu tư là hằng số, có thể đưa khoản thứ ba về theo hai khoản còn lại để giảm bài toán ba biến về hai biến.
Giá trị lớn nhất của biểu thức bậc nhất hai ẩn trên một miền đa giác đạt được tại một đỉnh của miền đó.
🧠 Phân tích tư duy
Bài có ba khoản đầu tư nhưng tổng vốn cố định 1200 triệu đồng, nên khử được một ẩn và đưa về bài toán hai ẩn quen thuộc. Sau khi thay x=1200−y−z, lợi nhuận thành F=84+0,01y+0,05z với cả hai hệ số DƯƠNG, tức càng tăng y và z thì lãi càng lớn — chỉ cần tìm mức tối đa cho phép. Bẫy là dồn hết vốn vào trái phiếu lãi suất cao nhất, quên rằng trái phiếu doanh nghiệp bị chặn ở 200 triệu đồng và điều kiện x≥3y ràng buộc ngược lại phần ngân hàng.
1Cách 1. Đặt ẩn, rút gọn về hai biến rồi lập bảng giá trị F tại các đỉnh.
Định hướng. Gọi x, y lần lượt là số tiền (triệu đồng) đầu tư trái phiếu chính phủ và trái phiếu ngân hàng, suy ra số tiền đầu tư trái phiếu doanh nghiệp theo x, y từ tổng vốn cố định 1200 triệu đồng, lập hệ bất phương trình rồi lập bảng giá trị lợi nhuận tại các đỉnh của miền nghiệm.
Đổi 1,2 tỉ đồng =1200 triệu đồng. Gọi x, y (x≥0, y≥0, đơn vị triệu đồng) lần lượt là số tiền đầu tư trái phiếu chính phủ, trái phiếu ngân hàng; số tiền đầu tư trái phiếu doanh nghiệp là 1200−x−y. Điều kiện chính phủ gấp ít nhất 3 lần ngân hàng: x≥3y. Điều kiện doanh nghiệp không quá 200 triệu đồng: 1200−x−y≤200, tức x+y≥1000; đồng thời doanh nghiệp không âm: 1200−x−y≥0, tức x+y≤1200. Lợi nhuận sau một năm: F=0,07x+0,08y+0,12(1200−x−y)=144−0,05x−0,04y (triệu đồng). Miền nghiệm của hệ x≥3y, x+y≥1000, x+y≤1200, y≥0 là tứ giác với bốn đỉnh: giao x=3y và x+y=1000 cho (750;250); giao x=3y và x+y=1200 cho (900;300); giao y=0 và x+y=1000 cho (1000;0); giao y=0 và x+y=1200 cho (1200;0). Bảng giá trị của F tại bốn đỉnh: F(750;250)=144−0,05⋅750−0,04⋅250=144−37,5−10=96,5. F(900;300)=144−0,05⋅900−0,04⋅300=144−45−12=87. F(1000;0)=144−0,05⋅1000−0=144−50=94. F(1200;0)=144−0,05⋅1200−0=144−60=84. So sánh bốn giá trị 96,5; 87; 94; 84: giá trị lớn nhất là 96,5, đạt tại (750;250).
Vậy tại (x;y)=(750;250), số tiền đầu tư trái phiếu doanh nghiệp là 1200−750−250=200 (triệu đồng); bác An nên đầu tư 750 triệu đồng vào trái phiếu chính phủ, 250 triệu đồng vào trái phiếu ngân hàng và 200 triệu đồng vào trái phiếu doanh nghiệp để lợi nhuận lớn nhất, đạt 96,5 triệu đồng.
2Cách 2. Suy luận trực tiếp theo dấu hệ số rồi kiểm chứng bằng số tiền thực.
Định hướng. Từ nhận xét lợi nhuận giảm khi tăng x hoặc y (vì hệ số của x, y trong F=144−0,05x−0,04y đều âm), suy luận trực tiếp cần giảm x+y tới mức nhỏ nhất có thể rồi giảm tiếp x tới mức nhỏ nhất cho phép bởi x≥3y, sau đó tính lại lợi nhuận bằng số tiền thực từng loại để đối chiếu.
Vì hệ số của x và y trong F=144−0,05x−0,04y đều âm nên F lớn nhất khi x+y nhỏ nhất, tức x+y=1000 (ứng với đầu tư doanh nghiệp đúng mức tối đa 200 triệu đồng). Với x+y=1000, viết y=1000−x; điều kiện x≥3y trở thành x≥3(1000−x)=3000−3x, suy ra 4x≥3000, tức x≥750. Trên đường x+y=1000: F=144−0,05x−0,04(1000−x)=104−0,01x, giảm khi x tăng, nên F lớn nhất khi x nhỏ nhất, tức x=750, khi đó y=1000−750=250. Kiểm tra lại bằng số tiền thực: 0,07⋅750+0,08⋅250+0,12⋅200=52,5+20+24=96,5 (triệu đồng).
Vậy lợi nhuận lớn nhất là 96,5 triệu đồng, đạt khi đầu tư 750 triệu đồng chính phủ, 250 triệu đồng ngân hàng, 200 triệu đồng doanh nghiệp — khớp hoàn toàn với cách 1.
Nhận xét. Vì lãi suất doanh nghiệp cao nhất nên bài toán luôn ưu tiên đầu tư tối đa vào doanh nghiệp (200 triệu đồng); phần còn lại nên ưu tiên tối thiểu tiền vào chính phủ (lãi thấp hơn ngân hàng) trong giới hạn điều kiện x≥3y cho phép.
3Cách 3. Đánh giá chặn trên trực tiếp cho lợi nhuận rồi chỉ ra dấu bằng đạt được
Định hướng. Sau khi khử ẩn, dùng luôn hai ràng buộc để chặn trên biểu thức lợi nhuận bằng một dãy bất đẳng thức, rồi chỉ ra phương án làm mọi dấu bằng cùng xảy ra.
Gọi x, y, z (triệu đồng) lần lượt là số tiền đầu tư trái phiếu chính phủ, ngân hàng, doanh nghiệp; x+y+z=1200, x≥3y, 0≤z≤200, y≥0 Lợi nhuận F=0,07x+0,08y+0,12z; thay x=1200−y−z được F=84+0,01y+0,05z Từ x≥3y và x=1200−y−z suy ra 1200−y−z≥3y, tức 4y+z≤1200 nên y≤41200−z Do đó 0,01y≤0,01⋅41200−z=3−0,0025z Suy ra F≤84+3−0,0025z+0,05z=87+0,0475z Vì z≤200 nên F≤87+0,0475⋅200=87+9,5=96,5 Dấu bằng xảy ra khi z=200 và 4y+z=1200, tức y=250, khi đó x=1200−250−200=750
Vậy bác An nên đầu tư 750 triệu đồng vào trái phiếu chính phủ, 250 triệu đồng vào trái phiếu ngân hàng và 200 triệu đồng vào trái phiếu doanh nghiệp; lợi nhuận lớn nhất sau một năm là 96,5 triệu đồng.
Nhận xét. Dãy bất đẳng thức cho thấy hai ràng buộc z≤200 và x≥3y đều phải đạt dấu bằng ở phương án tối ưu — đó chính là đỉnh của miền nghiệm.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: khử ẩn để về hai biến rồi lập bảng F tại bốn đỉnh (0;0), (0;200), (250;200), (300;0) — bảng cho ngay đáp số mà không cần khéo léo biến đổi bất đẳng thức.
Đáp số.Đầu tư 750 triệu đồng trái phiếu chính phủ, 250 triệu đồng trái phiếu ngân hàng, 200 triệu đồng trái phiếu doanh nghiệp; lợi nhuận lớn nhất là 96,5 triệu đồng.
Sai lầm thường gặp.Quên điều kiện doanh nghiệp không âm (x+y≤1200) hoặc viết sai chiều điều kiện chính phủ gấp ít nhất 3 lần ngân hàng (x≥3y chứ không phải y≥3x), dẫn tới xác định sai miền nghiệm và sai đỉnh tối ưu.
🚀 Mở rộng.Nếu bỏ ràng buộc x≥3y thì F=84+0,01y+0,05z được cực đại tại z=200, y=1000, x=0 cho F=104 triệu đồng — đúng như trực giác “dồn vào loại lãi cao”, và cũng cho thấy ràng buộc thuế đã làm giảm lợi nhuận 7,5 triệu đồng.
Bài 10 · 2.16★★★★Trang 32— Vận dụng hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn giải bài toán tối ưu hiệu quả quảng cáo
2.16 (trang 32). Một công ty dự định chi tối đa 160 triệu đồng cho quảng cáo một sản phẩm mới trong một tháng trên các đài phát thanh và truyền hình. Biết cùng một thời lượng quảng cáo, số người mới quan tâm đến sản phẩm trên truyền hình gấp 8 lần trên đài phát thanh, tức là quảng cáo trên truyền hình có hiệu quả gấp 8 lần trên đài phát thanh. Đài phát thanh chỉ nhận các quảng cáo có tổng thời lượng trong một tháng tối đa là 900 giây với chi phí là 80 nghìn đồng/giây. Đài truyền hình chỉ nhận các quảng cáo có tổng thời lượng trong một tháng tối đa là 360 giây với chi phí là 400 nghìn đồng/giây. Công ty cần đặt thời gian quảng cáo trên các đài phát thanh và truyền hình như thế nào để hiệu quả nhất? Gợi ý. Nếu coi hiệu quả khi quảng cáo 1 giây trên đài phát thanh là 1 (đơn vị) thì hiệu quả khi quảng cáo 1 giây trên đài truyền hình là 8 (đơn vị). Khi đó hiệu quả quảng cáo x (giây) trên đài phát thanh và y (giây) trên truyền hình là F(x;y)=x+8y. Ta cần tìm giá trị lớn nhất của hàm F(x;y) với x, y thoả mãn các điều kiện trong đề bài.
Kiến thức cần nhớ
Lập đủ các bất phương trình ràng buộc: giới hạn thời lượng từng đài và giới hạn tổng chi phí; đổi cùng đơn vị tiền trước khi lập bất phương trình.
Khi miền nghiệm là ngũ giác (có đỉnh bị 'vát' do một ràng buộc thêm), vẫn so sánh F tại tất cả các đỉnh để tìm giá trị lớn nhất.
🧠 Phân tích tư duy
Bài có ba loại ràng buộc: trần chi phí chung, trần thời lượng của từng đài, và điều kiện không âm — nên miền nghiệm là một đa giác năm cạnh. Vì hiệu quả mỗi nghìn đồng chi cho truyền hình là 4008 còn cho phát thanh là 801, tức truyền hình hiệu quả hơn, nên nên dùng hết thời lượng truyền hình rồi mới dồn phần còn lại cho phát thanh. Bẫy là quên đổi 160 triệu đồng thành 160000 nghìn đồng khi lập ràng buộc chi phí.
1Cách 1. Lập hệ bất phương trình, xác định miền nghiệm và lập bảng giá trị F.
Định hướng. Gọi x, y là thời lượng quảng cáo (giây) trên đài phát thanh, truyền hình; lập đủ bốn ràng buộc gồm giới hạn thời lượng từng đài và giới hạn tổng chi phí, xác định các đỉnh của miền nghiệm rồi lập bảng giá trị F=x+8y.
Đổi 160 triệu đồng =160000 nghìn đồng. Gọi x, y (x≥0, y≥0) lần lượt là thời lượng (giây) quảng cáo trên đài phát thanh, truyền hình. Giới hạn thời lượng: x≤900; y≤360. Chi phí: 80x+400y≤160000, chia hai vế cho 80: x+5y≤2000. Hệ bất phương trình: x≥0, y≥0, x≤900, y≤360, x+5y≤2000. Giao của x=900 và x+5y=2000: 900+5y=2000⇒y=220, được điểm (900;220); kiểm tra y=220≤360 đúng. Giao của y=360 và x+5y=2000: x+1800=2000⇒x=200, được điểm (200;360); kiểm tra x=200≤900 đúng. Kiểm tra đỉnh (900;360) của hình chữ nhật x≤900, y≤360: x+5y=900+1800=2700>2000, vi phạm ràng buộc chi phí nên đỉnh này bị vát bỏ, thay bằng hai đỉnh (900;220) và (200;360) vừa tìm. Miền nghiệm là ngũ giác với các đỉnh (0;0), (900;0), (900;220), (200;360), (0;360). Bảng giá trị của F(x;y)=x+8y tại các đỉnh: F(0;0)=0+8⋅0=0. F(900;0)=900+8⋅0=900. F(900;220)=900+8⋅220=900+1760=2660. F(200;360)=200+8⋅360=200+2880=3080. F(0;360)=0+8⋅360=2880. So sánh năm giá trị 0; 900; 2660; 3080; 2880: giá trị lớn nhất là 3080, đạt tại (200;360).
Vậy công ty nên đặt 200 giây quảng cáo trên đài phát thanh và 360 giây quảng cáo trên đài truyền hình để đạt hiệu quả lớn nhất, bằng 3080 (đơn vị hiệu quả).
2Cách 2. Ưu tiên dùng hết thời lượng truyền hình rồi so sánh với các phương án đơn lẻ.
Định hướng. Vì truyền hình hiệu quả gấp 8 lần phát thanh, dự đoán phương án tối ưu nên dùng hết tối đa thời lượng truyền hình cho phép rồi dùng phần chi phí còn lại cho phát thanh, sau đó so sánh với các phương án chỉ dùng một loại đài.
Nếu dùng hết thời lượng tối đa truyền hình y=360 giây: chi phí truyền hình là 400⋅360=144000 nghìn đồng, còn lại 160000−144000=16000 nghìn đồng cho phát thanh, ứng với x=16000÷80=200 giây (nhỏ hơn mức tối đa 900 giây nên hợp lệ). Hiệu quả khi đó: F(200;360)=200+8⋅360=3080. Nếu chỉ dùng phát thanh, không dùng truyền hình (y=0): giới hạn thời lượng cho x≤900; hiệu quả F(900;0)=900, nhỏ hơn nhiều so với 3080. Nếu chỉ dùng truyền hình tối đa, không dùng phát thanh (x=0, y=360): F(0;360)=2880, vẫn nhỏ hơn 3080.
Vậy phương án dùng hết thời lượng truyền hình tối đa kết hợp thêm phát thanh cho hiệu quả lớn nhất 3080, khớp với cách 1 và tốt hơn hẳn hai phương án chỉ dùng một loại đài.
Nhận xét. Kết quả cho thấy nên ưu tiên tối đa thời lượng truyền hình (hiệu quả cao hơn) trước, phần ngân sách còn lại mới dùng cho phát thanh, đúng như trực giác vì truyền hình có hiệu quả gấp 8 lần.
3Cách 3. Đánh giá chặn trên cho hiệu quả bằng chính ràng buộc chi phí
Định hướng. Dùng ràng buộc chi phí để chặn x theo y, thay vào biểu thức hiệu quả thì F chỉ còn bị chặn bởi y; kết hợp với trần thời lượng truyền hình là ra ngay giá trị lớn nhất.
Gọi x, y (giây) là thời lượng quảng cáo trên đài phát thanh và trên đài truyền hình Ràng buộc chi phí: 80x+400y≤160000, rút gọn thành x+5y≤2000 Ràng buộc thời lượng: 0≤x≤900 và 0≤y≤360; hiệu quả F=x+8y Từ x+5y≤2000 suy ra x≤2000−5y Do đó F=x+8y≤(2000−5y)+8y=2000+3y Vì y≤360 nên F≤2000+3⋅360=2000+1080=3080 Dấu bằng xảy ra khi y=360 và x+5y=2000, tức x=2000−1800=200; giá trị x=200 thoả 0≤x≤900
Vậy công ty nên đặt 200 giây quảng cáo trên đài phát thanh và 360 giây trên đài truyền hình; khi đó hiệu quả lớn nhất là F=3080.
Nhận xét. Bất đẳng thức F≤2000+3y nói rõ vì sao phải dùng HẾT thời lượng truyền hình: mỗi giây truyền hình còn lại làm hiệu quả tăng thêm 3 đơn vị.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: lập hệ rồi tính F tại các đỉnh (0;0), (900;0), (900;220), (200;360), (0;360) — bảng cho 0, 900, 2660, 3080, 2880 nên chọn ngay đỉnh (200;360).
Đáp số.Đặt 200 giây quảng cáo trên đài phát thanh và 360 giây trên đài truyền hình; hiệu quả lớn nhất F=3080.
Sai lầm thường gặp.Chỉ xét bốn đỉnh của hình chữ nhật [0;900]×[0;360] mà quên rằng đỉnh (900;360) vi phạm ràng buộc chi phí, dẫn tới bỏ sót hai đỉnh thực sự (900;220) và (200;360) của miền nghiệm.
🚀 Mở rộng.Nếu chi phí truyền hình tăng lên 1000 nghìn đồng mỗi giây thì hiệu quả trên mỗi nghìn đồng của truyền hình chỉ còn 10008, thấp hơn 801 của phát thanh — khi ấy phương án tối ưu lật ngược sang ưu tiên đài phát thanh.