Bài 1 · Hoạt động 2★Trang 104— Nhận biết hình có tâm đối xứng bằng phép quay nửa vòng
HĐ2 (trang 104). Quan sát hình tròn, hình chong chóng ba cánh, hình chong chóng bốn cánh lúc đầu và sau khi quay nửa vòng quanh điểm O (H.5.7). Trong ba hình trên, sau khi quay nửa vòng quanh điểm O, hình nào "chồng khít" với chính nó ở vị trí trước khi quay?
Kiến thức cần nhớ
Muốn biết điểm O có là tâm đối xứng của một hình hay không, ta quay hình đó nửa vòng (180∘) quanh O rồi xem hình thu được có "chồng khít" với hình ban đầu không.
Một hình xếp đều thành n "cánh" quanh tâm quay 180∘ chồng khít với chính nó khi và chỉ khi n là số chẵn (khi đó nửa vòng đưa đúng cánh này vào chỗ cánh đối diện).
1Cách 1. Quay từng hình nửa vòng rồi so sánh trực tiếp
Định hướng. Cứ tưởng tượng ghim mỗi hình tại O rồi xoay đúng nửa vòng, hình nào rơi đúng lại vị trí vạch xanh ban đầu thì hình đó chồng khít.
Hình tròn: quay 180∘ quanh tâm O, đường tròn trùng khít với chính nó Chong chóng ba cánh: quay 180∘, ba cánh rơi vào đúng giữa hai cánh cũ, không trùng khít Chong chóng bốn cánh: quay 180∘, cánh 1 trùng cánh 3, cánh 2 trùng cánh 4, hình chồng khít
Vậy hình tròn và chong chóng bốn cánh "chồng khít" sau khi quay nửa vòng quanh O; chong chóng ba cánh thì không.
2Cách 2. Đếm số cánh rồi xét chẵn — lẻ
Định hướng. Nửa vòng ứng với góc 180∘; một hình có n cánh cách đều nhau thì mỗi cánh cách cánh liền kề 360∘:n. Cánh gốc trùng cánh khác sau khi quay 180∘ đúng khi 180∘ là bội của 360∘:n, tức n chẵn.
Chong chóng ba cánh: n=3 là số lẻ, 180∘ không là bội của 360∘:3=120∘ Chong chóng bốn cánh: n=4 là số chẵn, 180∘=2×(360∘:4) Hình tròn: mọi góc quay đều khớp (đường tròn có vô số "cánh" bằng nhau)
Vậy hình tròn và chong chóng bốn cánh chồng khít; chong chóng ba cánh không chồng khít.
Nhận xét. Cách 2 giải thích được NGAY cả với chong chóng rất nhiều cánh mà không cần hình vẽ, chỉ cần đếm cánh rồi xét chẵn lẻ.
Đáp số.Hình tròn và chong chóng bốn cánh chồng khít với chính nó sau khi quay nửa vòng quanh O; chong chóng ba cánh thì không.
Sai lầm thường gặp.Cho rằng cứ hình "trông cân đối" là chồng khít khi quay nửa vòng; chong chóng ba cánh vẫn cân đối (ba cánh bằng nhau) nhưng quay đúng nửa vòng lại lệch sang khoảng trống giữa hai cánh cũ.
Bài 2 · Luyện tập 1★★Trang 104— Xác định tâm đối xứng của đoạn thẳng, chữ cái và hình biểu tượng
Luyện tập 1 (trang 104). ① Đoạn thẳng là một hình có tâm đối xứng. Tâm đối xứng của nó là điểm nào? ② Những chữ cái nào dưới đây có tâm đối xứng? Hãy dự đoán tâm đối xứng của chúng, rồi kiểm tra điều đó bằng cách quay hình nửa vòng: H,K,M,N,X. ③ Những hình nào dưới đây có tâm đối xứng: a) biển cấm dừng đỗ (vòng tròn đỏ, nền xanh, có gạch chéo hình chữ X); b) biển tam giác cảnh báo (dấu chấm than); c) biển vuông xanh có hình hai đường cong bắt chéo kiểu "nơ"; d) biển tròn xanh có ba mũi tên cong xếp vòng quanh?
Kiến thức cần nhớ
Trung điểm của một đoạn thẳng là tâm đối xứng của đoạn thẳng đó.
Với chữ cái hoặc hình vẽ bất kì, quay nửa vòng quanh điểm nghi ngờ là tâm rồi so sánh với hình ban đầu để kết luận.
1Cách 1. Quay nửa vòng quanh điểm nghi ngờ là tâm
Định hướng. Với mỗi hình, chọn điểm có vẻ "cân" nhất (trung điểm, giao điểm các nét) rồi quay thử nửa vòng quanh điểm đó.
① Trung điểm O của đoạn thẳng AB: quay nửa vòng quanh O, điểm A đổi chỗ cho điểm B, đoạn thẳng chồng khít ② Quay nửa vòng quanh tâm mỗi chữ: H,N,X chồng khít; K,M không chồng khít ③ Quay nửa vòng quanh tâm hình: biển a) và biển c) chồng khít; biển b) và biển d) không chồng khít
Vậy ① tâm đối xứng của đoạn thẳng là trung điểm của nó; ② H,N,X có tâm đối xứng, K,M không có; ③ biển a) và c) có tâm đối xứng, biển b) và d) không có.
2Cách 2. Xét từng nét chữ/hình có "đôi" đối nhau qua tâm hay không
Định hướng. Một hình có tâm đối xứng khi mọi nét của nó đều ghép được thành từng cặp nét đối xứng nhau qua đúng một điểm; chỉ cần tìm một nét lẻ loi, không có nét đối diện là kết luận ngay "không có".
H: hai nét đứng đối nhau qua trung điểm nét ngang, nét ngang tự đối xứng — có tâm N: nét chéo đi đúng qua tâm, hai nét đứng đối nhau qua tâm — có tâm X: hai nét chéo cùng đi qua giao điểm — có tâm K: nét chéo trên đi lên bên phải, nét chéo dưới cũng lệch cùng phía, không có nét đối xứng qua một điểm — không có tâm M: đỉnh nhọn ở giữa chỉ có một nét chúc xuống, phần trên hai nét đứng không có nét đối xứng qua điểm giữa — không có tâm biển b) hình tam giác (3 cạnh, số lẻ) không thể có tâm đối xứng; biển d) ba mũi tên xếp lệch 120∘ (số lẻ) nên quay nửa vòng không khớp
Vậy kết quả giống Cách 1: H,N,X và biển a), c) có tâm đối xứng; K,M và biển b), d) thì không.
Nhận xét. Cách 2 không cần vẽ hình quay mà chỉ cần "soi cặp nét", làm nhanh hơn khi phải xét nhiều chữ cùng lúc.
Đáp số.① Tâm đối xứng của đoạn thẳng là trung điểm của nó. ② H,N,X có tâm đối xứng; K,M không có. ③ Biển a) và biển c) có tâm đối xứng; biển b) và biển d) không có.
Sai lầm thường gặp.Nhầm rằng chữ có "trông cân" theo chiều dọc (như M) hay có trục đối xứng (như K có trục ngang) thì cũng có tâm đối xứng; thực ra trục đối xứng và tâm đối xứng là hai tính chất khác nhau.
Bài 3 · Thực hành 1★Trang 105— Kiểm tra tâm đối xứng của hình gấp giấy bốn cánh
Thực hành 1 (trang 105). Gấp đôi tờ giấy hai lần theo Hình 5.8a. Cắt tờ giấy vừa gấp theo một đường như Hình 5.8b. Mở phần cắt được ra ta có một hình bông hoa bốn cánh (H.5.8c). Gọi giao điểm của hai nếp gấp là O. Bằng cách quay hình nửa vòng quanh O, em hãy kiểm tra xem điểm O có phải là tâm đối xứng của hình đó không.
Kiến thức cần nhớ
Gấp đôi tờ giấy hai lần liên tiếp rồi cắt sẽ tạo ra một hình có 4 phần giống hệt nhau xếp đều quanh giao điểm hai nếp gấp.
4 là số chẵn nên theo nhận xét ở HĐ2, hình 4 cánh luôn có tâm đối xứng tại giao điểm hai nếp gấp.
1Cách 1. Quay hình nửa vòng quanh O rồi so sánh
Định hướng. Cứ ghim hình tại O rồi xoay đúng nửa vòng, xem 4 cánh hoa có rơi đúng lại 4 vị trí cũ hay không.
Bốn cánh hoa xếp đều quanh O, mỗi cánh cách cánh liền kề 90∘ Quay nửa vòng (180∘) quanh O: cánh ở vị trí trên chuyển xuống vị trí dưới, cánh trái chuyển sang phải Cả bốn cánh đều có cánh đối diện giống hệt để thế chỗ
Vậy sau khi quay nửa vòng quanh O, hình bông hoa bốn cánh chồng khít với chính nó, nên O là tâm đối xứng của hình.
2Cách 2. Dùng lại nhận xét "số cánh chẵn" ở HĐ2
Định hướng. Hình này cũng là một hình nhiều "cánh" xếp đều quanh một điểm như ở HĐ2, nên áp dụng thẳng nhận xét đã có mà không cần quay hình lại từ đầu.
Bông hoa có 4 cánh xếp đều quanh O 4 là số chẵn Theo HĐ2: hình có số cánh chẵn thì quay nửa vòng luôn chồng khít
VậyO là tâm đối xứng của hình bông hoa bốn cánh.
Nhận xét. Nếu gấp giấy đến ba lần rồi cắt thì được hình 8 cánh, 8 vẫn là số chẵn nên vẫn có tâm đối xứng tại giao điểm các nếp gấp.
Đáp số.Điểm O (giao điểm hai nếp gấp) là tâm đối xứng của hình bông hoa bốn cánh.
Sai lầm thường gặp.Chỉ gấp một lần rồi vội kết luận hình có tâm đối xứng; gấp một lần chỉ tạo ra trục đối xứng (hình 2 cánh đối xứng qua một đường thẳng), phải gấp đủ hai lần vuông góc nhau mới chắc chắn có tâm đối xứng.
Bài 4 · Hoạt động 3★Trang 105— Tâm đối xứng của hình bình hành
HĐ3 (trang 105). Cắt một hình bình hành ABCD bằng giấy. Bằng cách quay hình bình hành một nửa vòng quanh giao điểm O của hai đường chéo AC và BD, hãy cho biết giao điểm này có là tâm đối xứng của hình bình hành không.
Kiến thức cần nhớ
Trong hình bình hành, hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.
Nếu quay nửa vòng quanh O mà từng đỉnh đổi đúng chỗ cho đỉnh đối diện thì O là tâm đối xứng.
1Cách 1. Quay hình bình hành nửa vòng quanh O
Định hướng. Vì O là trung điểm của cả AC lẫn BD, quay nửa vòng quanh O sẽ đưa mỗi đỉnh sang đúng vị trí đỉnh đối diện.
O là trung điểm AC nên quay nửa vòng quanh O: A đổi chỗ cho C O là trung điểm BD nên quay nửa vòng quanh O: B đổi chỗ cho D Cạnh AB đổi chỗ cho cạnh CD, cạnh BC đổi chỗ cho cạnh DA
Vậy sau khi quay nửa vòng quanh O, hình bình hành ABCD chồng khít với chính nó, nên O là tâm đối xứng của hình bình hành.
2Cách 2. Xét từng cặp cạnh song song và bằng nhau
Định hướng. Hình bình hành có hai cặp cạnh đối vừa song song vừa bằng nhau; đó chính là dấu hiệu để hình quay nửa vòng quanh giao điểm hai đường chéo mà vẫn khớp.
AB∥DC và AB=DC AD∥BC và AD=BC Hai đường chéo cắt nhau tại O là trung điểm chung
Vậy mỗi cạnh đều có một cạnh đối song song, bằng nhau nằm đối xứng qua O, nên hình bình hành nhận O làm tâm đối xứng.
Nhận xét. Tính chất "hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường" chính là lí do mọi hình bình hành đều có tâm đối xứng, dù hình có bị "méo" thế nào.
Đáp số.Có. Giao điểm hai đường chéo O là tâm đối xứng của hình bình hành ABCD.
Sai lầm thường gặp.Nhầm rằng chỉ hình bình hành "cân đối" (như hình chữ nhật, hình thoi) mới có tâm đối xứng; thực ra MỌI hình bình hành, kể cả hình bình hành "xiên", đều có tâm đối xứng tại giao điểm hai đường chéo.
Bài 5 · Hoạt động 4★★Trang 105— Tâm đối xứng của các tứ giác đặc biệt và lục giác đều
HĐ4 (trang 105). Bằng cách làm tương tự HĐ3, em hãy chỉ ra tâm đối xứng của mỗi hình dưới đây (nếu có): a) hình vuông; b) hình chữ nhật; c) hình lục giác đều; d) hình thoi.
Kiến thức cần nhớ
Hình vuông, hình chữ nhật, hình thoi đều là hình bình hành đặc biệt nên có tâm đối xứng là giao điểm hai đường chéo (theo HĐ3).
Hình lục giác đều có ba đường chéo chính chia hình thành sáu tam giác đều bằng nhau; ba đường chéo chính cùng đi qua một điểm.
1Cách 1. Quay từng hình nửa vòng quanh giao điểm các đường chéo
Định hướng. Cả bốn hình đều "cân" quanh một điểm, nên cứ quay nửa vòng quanh giao điểm các đường chéo rồi kiểm tra như đã làm ở HĐ3.
a) Hình vuông là hình bình hành đặc biệt: quay nửa vòng quanh giao điểm hai đường chéo, bốn đỉnh đổi chỗ cho đỉnh đối diện, hình chồng khít b) Hình chữ nhật cũng vậy: giao điểm hai đường chéo là tâm đối xứng c) Hình thoi cũng vậy: giao điểm hai đường chéo là tâm đối xứng d) Lục giác đều: quay nửa vòng quanh giao điểm ba đường chéo chính, đỉnh 1 đổi chỗ cho đỉnh 4, đỉnh 2 đổi chỗ cho đỉnh 5, đỉnh 3 đổi chỗ cho đỉnh 6
Vậy cả bốn hình đều có tâm đối xứng: với a), b), d) đó là giao điểm hai đường chéo; với c) đó là giao điểm ba đường chéo chính.
2Cách 2. Suy từ tính chất hình bình hành và lục giác đều
Định hướng. Không cần cắt giấy quay lại từ đầu: hình vuông, hình chữ nhật, hình thoi vốn đã là hình bình hành nên áp dụng thẳng kết luận của HĐ3; lục giác đều thì ghép từ sáu tam giác đều quanh tâm.
Hình vuông, hình chữ nhật, hình thoi đều có hai cặp cạnh đối song song và bằng nhau ⇒ là hình bình hành ⇒ có tâm đối xứng tại giao điểm hai đường chéo (HĐ3) Lục giác đều gồm 6 tam giác đều bằng nhau ghép quanh tâm, 6 là số chẵn nên quay nửa vòng khớp đúng
Vậy a), b), d) có tâm đối xứng tại giao điểm hai đường chéo; c) có tâm đối xứng tại giao điểm ba đường chéo chính.
Nhận xét. Đây cũng là nội dung được chốt lại trong khung Nhận xét của SGK trang 105.
Đáp số.Cả bốn hình đều có tâm đối xứng: hình vuông, hình chữ nhật, hình thoi — tâm là giao điểm hai đường chéo; lục giác đều — tâm là giao điểm ba đường chéo chính.
Sai lầm thường gặp.Cho rằng chỉ hình vuông (hình "đều" nhất) mới có tâm đối xứng, còn hình chữ nhật hay hình thoi thì không; thực ra cả bốn hình này đều có tâm đối xứng vì cùng có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường (hoặc ba đường chéo chính đồng quy với lục giác đều).
Bài 6 · Luyện tập 2★★Trang 106— Vẽ thêm hình để nhận một điểm cho trước làm tâm đối xứng
Luyện tập 2 (trang 106). Vẽ lại các hình bên vào giấy kẻ ô vuông rồi vẽ thêm để được một hình nhận điểm O là tâm đối xứng.
Kiến thức cần nhớ
Muốn một hình nhận O làm tâm đối xứng, mỗi điểm M của hình phải có điểm đối xứng M′ qua O cũng thuộc hình, với O là trung điểm của MM′.
Trên giấy kẻ ô vuông, điểm đối xứng của M qua O tìm được bằng cách đếm ô: đi từ M qua O thêm đúng bấy nhiêu ô theo hướng ngược lại.
1Cách 1. Lấy đối xứng từng đỉnh qua O rồi nối lại
Định hướng. Chỉ cần lấy điểm đối xứng của TỪNG đỉnh đã cho qua O, các điểm mới đó chính là các đỉnh còn thiếu của hình cần vẽ.
Với mỗi đỉnh M của phần hình đã cho, đếm số ô từ M đến O theo chiều ngang và chiều dọc Đi tiếp đúng bấy nhiêu ô theo hai chiều đó, qua khỏi O, được điểm M′ O là trung điểm của MM′ Nối các điểm M′ tìm được theo đúng thứ tự các cạnh của phần hình đã cho
Vậy hình vẽ thêm (nét đứt hồng) là ảnh đối xứng của phần đã cho qua O; ghép hai phần lại được hình nhận O làm tâm đối xứng.
2Cách 2. Quay giấy nửa vòng quanh O để in phần còn lại
Định hướng. Thay vì tính từng toạ độ, có thể hình dung xoay cả tờ giấy đã vẽ nửa vòng quanh O rồi đồ lại đúng nét cũ ở vị trí mới, đó chính là phần hình cần vẽ thêm.
Ghim hình đã cho tại O Quay cả hình đúng nửa vòng (180∘) quanh O Đồ lại các nét ở vị trí sau khi quay bằng nét đứt
Vậy phần đồ thêm sau khi quay nửa vòng chính là phần hình cần vẽ, và theo cách dựng, hình mới chắc chắn nhận O làm tâm đối xứng.
Nhận xét. Cách 2 trực quan, không cần đếm ô, nhưng Cách 1 (đếm ô rồi nối điểm) chính xác hơn khi vẽ trên giấy kẻ ô vuông.
Đáp số.Hình vẽ thêm là ảnh đối xứng của phần đã cho qua O — mỗi đỉnh M có điểm M′ đối xứng qua O (đếm số ô bằng nhau về hai phía của O), nối các điểm M′ theo đúng thứ tự cạnh ban đầu.
Sai lầm thường gặp.Vẽ thêm một hình chỉ đối xứng với phần đã cho qua một ĐƯỜNG THẲNG đi qua O (tạo trục đối xứng) thay vì đối xứng qua chính điểm O; hai phần khi đó không tạo thành tâm đối xứng mà chỉ tạo trục đối xứng.
Bài 7 · Thực hành 2★Trang 106— Ứng dụng gấp giấy hai lần để tạo hình có tâm đối xứng
Thực hành 2 (trang 106). Ứng dụng tính đối xứng trong nghệ thuật cắt giấy: Chuẩn bị một mảnh giấy hình vuông kích thước 4 cm ×4 cm. Gấp đôi mảnh giấy hai lần sao cho các cạnh đối diện của nó trùng lên nhau (H.5.9a). Vẽ theo Hình 5.9b rồi cắt theo nét vẽ, sau đó mở ra ta được hình cỏ bốn lá (H.5.9c). Hình cỏ bốn lá nhận được có tâm đối xứng không? Nếu có, hãy chỉ ra tâm đối xứng đó.
Kiến thức cần nhớ
Gấp đôi hai lần liên tiếp (một lần dọc, một lần ngang) rồi cắt luôn cho ra hình có 4 phần bằng nhau xếp đều quanh giao điểm hai nếp gấp.
4 là số chẵn nên hình nhận được luôn có tâm đối xứng tại giao điểm hai nếp gấp — đây là cách chắc chắn nhất để tạo ra một hình có tâm đối xứng bằng cắt giấy.
1Cách 1. Theo dõi từng nếp gấp khi mở giấy ra
Định hướng. Vì đường cắt được lặp lại giống hệt nhau ở cả 4 lớp giấy chồng khít lúc gấp, nên khi mở ra, 4 lớp đó biến thành 4 cánh giống hệt nhau xếp quanh giao điểm hai nếp gấp.
Gấp dọc rồi gấp ngang: giấy vuông chia thành 4 lớp chồng khít nhau, chung đỉnh là giao điểm hai nếp gấp O Cắt một nét trên phần giấy đã gấp, nét cắt xuyên qua cả 4 lớp Mở giấy: 4 lớp tách ra thành 4 cánh giống hệt nhau, xếp đều quanh O
Vậy hình cỏ bốn lá có tâm đối xứng, tâm đối xứng chính là điểm O — giao điểm hai nếp gấp.
2Cách 2. Áp dụng nhận xét "4 cánh là số chẵn"
Định hướng. Không cần dựng lại từ đầu, chỉ cần nhận ra đây cũng là một hình 4 cánh xếp đều quanh một điểm, giống hệt dạng đã xét ở HĐ2 và Thực hành 1.
Hình cỏ bốn lá có 4 cánh bằng nhau xếp đều quanh O 4 là số chẵn Theo nhận xét ở HĐ2: hình có số cánh chẵn xếp đều quanh một điểm thì luôn có tâm đối xứng tại điểm đó
VậyO là tâm đối xứng của hình cỏ bốn lá.
Nhận xét. Nếu chỉ gấp một lần (không gấp đủ hai lần vuông góc) thì hình cắt ra chỉ có trục đối xứng, không chắc có tâm đối xứng.
Đáp số.Có. Hình cỏ bốn lá nhận được có tâm đối xứng, tâm đối xứng là điểm O (giao điểm hai nếp gấp).
Sai lầm thường gặp.Chỉ gấp một lần rồi cắt, tưởng hình 2 cánh thu được cũng có tâm đối xứng; thực ra hình 2 cánh (gấp một lần) chỉ có trục đối xứng qua nếp gấp, phải gấp đủ hai lần vuông góc mới chắc chắn có tâm đối xứng.
Bài 8 · Thử thách nhỏ★★Trang 106— Dự đoán tâm đối xứng của hình nhiều cánh trong thực tế
Thử thách nhỏ (trang 106). Em hãy dự đoán tâm đối xứng của các hình sau: ngôi sao sáu cánh; biểu tượng của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); hình ảnh "Bông tuyết".
Kiến thức cần nhớ
Với hình có nhiều "cánh" hoặc nhiều nhánh xếp đều quanh một điểm, đếm số cánh: số cánh chẵn thì có tâm đối xứng tại điểm chung đó.
Ngôi sao sáu cánh ghép từ hai tam giác đều lồng nhau; bông tuyết có 6 nhánh; biểu tượng ASEAN có bó lúa đối xứng cả trên-dưới lẫn trái-phải qua tâm.
1Cách 1. Đếm số cánh/nhánh rồi xét chẵn — lẻ
Định hướng. Áp dụng đúng nhận xét đã đúc kết từ HĐ2: hình xếp đều quanh một điểm với số cánh chẵn thì có tâm đối xứng tại điểm đó.
Ngôi sao sáu cánh: có 6 cánh xếp đều quanh tâm, 6 là số chẵn Bông tuyết: có 6 nhánh xếp đều quanh tâm, 6 là số chẵn Biểu tượng ASEAN: bó lúa đối xứng qua trục đứng và trục ngang cùng lúc, nên cũng đối xứng qua giao điểm hai trục đó
Vậy cả ba hình đều có tâm đối xứng, tâm chính là điểm chính giữa hình (giao điểm các trục/tâm hình tròn bao quanh).
2Cách 2. Quay thử nửa vòng quanh tâm hình để kiểm tra
Định hướng. Kiểm tra lại dự đoán bằng cách hình dung quay nửa vòng quanh điểm chính giữa mỗi hình.
Ngôi sao sáu cánh: quay 180∘ quanh tâm, cánh 1 trùng cánh 4, cánh 2 trùng cánh 5, cánh 3 trùng cánh 6 Bông tuyết: quay 180∘ quanh tâm, mỗi nhánh trùng đúng nhánh đối diện Biểu tượng ASEAN: quay 180∘ quanh tâm hình tròn, bó lúa phía trên đổi chỗ cho bó lúa phía dưới, khớp hoàn toàn
Vậy cả ba hình đều chồng khít sau khi quay nửa vòng quanh điểm chính giữa, xác nhận cả ba đều có tâm đối xứng tại đó.
Nhận xét. Đây cũng là ba ví dụ về tâm đối xứng gặp trong quốc huy, biểu tượng và tự nhiên mà SGK nhắc tới ngay đầu bài học.
Đáp số.Cả ba hình đều có tâm đối xứng, tâm đối xứng là điểm chính giữa mỗi hình: tâm ngôi sao sáu cánh, tâm vòng tròn của biểu tượng ASEAN, tâm bông tuyết.
Sai lầm thường gặp.Cho rằng hình càng nhiều chi tiết rườm rà (như bông tuyết) thì càng khó có tâm đối xứng; thực ra chỉ cần các chi tiết đó xếp đều quanh một điểm với số lượng chẵn là đủ để có tâm đối xứng.
Bài 9 · 5.5★Trang 107— Nhận biết tâm đối xứng qua số cánh chẵn — lẻ trong tự nhiên
Bài 5.5 (trang 107). Trong các hình dưới đây, hình nào có tâm đối xứng: a) lá cỏ bốn lá; b) hoa năm cánh màu tím; c) hoa cúc nhiều cánh màu hồng; d) hoa năm cánh màu đỏ?
Kiến thức cần nhớ
Hoa/lá có các cánh xếp đều quanh một điểm; đếm số cánh rồi xét chẵn — lẻ như đã học ở HĐ2.
Số cánh lẻ (như hoa 5 cánh) chỉ cho trục đối xứng, không cho tâm đối xứng.
1Cách 1. Đếm số cánh của từng hình rồi xét chẵn — lẻ
Định hướng. Áp dụng đúng nhận xét ở HĐ2: số cánh xếp đều quanh tâm phải là số chẵn thì mới có tâm đối xứng.
a) Cỏ bốn lá: 4 cánh xếp đều quanh tâm, 4 là số chẵn b) Hoa tím: 5 cánh xếp đều quanh tâm, 5 là số lẻ c) Hoa cúc: các cánh xếp đều quanh tâm nhưng số cánh lẻ (cánh hoa cúc thường mọc số lẻ) d) Hoa đỏ: 5 cánh xếp đều quanh tâm, 5 là số lẻ
Vậy chỉ hình a) (cỏ bốn lá) có tâm đối xứng; các hình b), c), d) không có tâm đối xứng.
2Cách 2. Quay thử nửa vòng quanh tâm mỗi hình
Định hướng. Kiểm tra lại bằng cách hình dung quay mỗi hình nửa vòng quanh điểm chính giữa của nó.
a) Quay 180∘: lá 1 trùng lá 3, lá 2 trùng lá 4 — chồng khít b) Quay 180∘: cánh 1 rơi vào giữa hai cánh cũ — không chồng khít c) Quay 180∘: các cánh so le, không có cánh đối diện đúng vị trí — không chồng khít d) Quay 180∘: giống hình b), 5 cánh không chia hết thành cặp đối nhau — không chồng khít
Vậy chỉ hình a) chồng khít sau khi quay nửa vòng, xác nhận chỉ hình a) có tâm đối xứng.
Nhận xét. Cả bốn hình đều có trục đối xứng (vì cánh hoa nào cũng "cân" hai bên), nhưng chỉ hình có SỐ CÁNH CHẴN mới có thêm tâm đối xứng.
Đáp số.Chỉ có hình a) — lá cỏ bốn lá — có tâm đối xứng.
Sai lầm thường gặp.Thấy hoa nào cũng "nở đều, cân đối" nên cho rằng hình nào cũng có tâm đối xứng; thực ra phải xét đúng SỐ CÁNH có chẵn hay không, hoa 5 cánh dù rất cân đối vẫn không có tâm đối xứng.
Bài 10 · 5.6★★Trang 107— Kiểm tra một điểm cho trước có đúng là tâm đối xứng hay không
Bài 5.6 (trang 107). Trong mỗi hình dưới đây, điểm O có phải là tâm đối xứng không? a) hình vuông ghép với hình thoi; b) hai đường tròn; c) bốn mũi tên xếp quanh O; d) một đường gấp khúc tuỳ ý.
Kiến thức cần nhớ
Không phải cứ hình "trông cân đối" là điểm đánh dấu O tự động là tâm đối xứng; phải quay đúng nửa vòng quanh CHÍNH điểm O đó để kiểm tra, không phải quanh tâm hình học của hình.
Hai hình có kích thước khác nhau (bán kính khác nhau) thì hợp của chúng không thể có tâm đối xứng ở bất cứ điểm nào.
1Cách 1. Quay nửa vòng đúng quanh điểm O đã cho
Định hướng. Luôn quay quanh ĐÚNG điểm O được đánh dấu trong hình, không quay quanh tâm hình học "nhìn có vẻ cân" của toàn hình.
a) O lệch khỏi giao điểm hai đường chéo (tâm thật) của hình vuông và hình thoi: quay nửa vòng quanh O, hình không chồng khít b) Hai đường tròn có bán kính khác nhau: dù quay quanh điểm nào, đường tròn lớn cũng không thể trùng khít đường tròn lớn ban đầu c) O lệch khỏi giao điểm bốn trục mũi tên (tâm thật): quay nửa vòng quanh O, hình không chồng khít d) Đường gấp khúc vẽ tuỳ ý, không có quy luật đối xứng nào: quay nửa vòng quanh O rõ ràng không chồng khít
Vậy cả bốn trường hợp, điểm O đều KHÔNG phải là tâm đối xứng của hình.
2Cách 2. So sánh vị trí O với tâm thật của hình (nếu hình có tâm)
Định hướng. Với hình vuông, hình thoi hay bốn mũi tên đều — nếu hình THẬT SỰ có tâm đối xứng thì tâm đó là DUY NHẤT (giao điểm các đường chéo/trục); chỉ cần so sánh O với điểm duy nhất đó.
a) Tâm thật của hình vuông và hình thoi (đồng tâm) là giao điểm hai đường chéo của chúng; O nằm lệch khỏi điểm đó nên O không phải tâm đối xứng b) Đường tròn lớn có bán kính khác đường tròn nhỏ nên hình ghép từ hai đường tròn này không có tâm đối xứng ở bất kì điểm nào, kể cả O c) Tâm thật của bốn mũi tên là giao điểm bốn trục mũi tên; O nằm lệch khỏi điểm đó d) Đường gấp khúc không có dạng đối xứng nào nên không có tâm đối xứng ở bất kì điểm nào
Vậy cả a), b), c), d) đều cho kết luận giống Cách 1: điểm O không phải là tâm đối xứng.
Nhận xét. Bài này nhắc ta: phải KIỂM TRA bằng phép quay chứ không được đoán bằng mắt, vì điểm đánh dấu có thể cố tình đặt lệch một chút so với tâm thật.
Đáp số.Cả bốn hình: điểm O đều KHÔNG phải là tâm đối xứng của hình (a, b, c bị lệch khỏi tâm thật hoặc không thể có tâm; d không có dạng đối xứng nào).
Sai lầm thường gặp.Nhìn hình a) và c) thấy "có vẻ đối xứng" rồi vội kết luận O là tâm đối xứng mà không để ý điểm O bị vẽ lệch khỏi giao điểm các đường chéo/trục thật sự.
Bài 11 · 5.7★★★Trang 107— Tìm tâm đối xứng (nếu có) của một hình cho trước, không có điểm gợi ý sẵn
Bài 5.7 (trang 107). Hình nào dưới đây có tâm đối xứng? Em hãy xác định tâm đối xứng (nếu có) của chúng: a) hai hình elip bằng nhau lồng vuông góc nhau; b) hình chữ thập có một đầu tròn, ba đầu nhọn; c) ba hình chữ nhật xếp lệch nhau; d) hình ngũ giác đều.
Kiến thức cần nhớ
Hình gồm hai hình BẰNG NHAU (cùng kích thước) lồng vào nhau và có chung một điểm chính giữa thì có tâm đối xứng tại điểm chung đó.
Đa giác đều n cạnh có tâm đối xứng khi và chỉ khi n là số chẵn; ngũ giác đều có n=5 lẻ nên KHÔNG có tâm đối xứng (dù vẫn có 5 trục đối xứng).
1Cách 1. Tìm điểm nghi ngờ là tâm rồi quay thử nửa vòng
Định hướng. Với mỗi hình, chọn điểm "có vẻ cân" nhất trước — thường là điểm chung của các trục hoặc giao các đường chéo — rồi quay thử nửa vòng quanh điểm đó.
a) Hai hình elip bằng nhau có chung tâm O: quay 180∘ quanh O, elip đứng trùng elip đứng, elip ngang trùng elip ngang — chồng khít b) Không có điểm nào mà quay quanh đó đầu tròn trùng được với một trong ba đầu nhọn — không chồng khít với bất kì tâm nào c) Ba hình chữ nhật xếp lệch tuỳ ý, không có điểm chung nào để quay khớp cả ba — không chồng khít d) Ngũ giác đều: quay 180∘ quanh tâm, đỉnh không rơi đúng vào đỉnh khác (vì 5 đỉnh không chia hết cho cặp) — không chồng khít
Vậy chỉ hình a) có tâm đối xứng, tâm chính là điểm chung của hai hình elip; các hình b), c), d) không có tâm đối xứng.
2Cách 2. Xét tính "chẵn — lẻ" của số phần bằng nhau quanh tâm
Định hướng. Dùng lại quy tắc đã có: hình gồm các phần bằng nhau xếp đều (hoặc lồng nhau) quanh một điểm có tâm đối xứng khi số phần đó chẵn hoặc khi ghép đúng cặp đối xứng qua điểm đó.
a) 2 elip bằng nhau lồng nhau (2 là số chẵn, mỗi elip tự đối xứng qua tâm chung) — có tâm đối xứng b) 4 đầu nhưng không bằng nhau (1 đầu tròn khác 3 đầu nhọn) nên không ghép được thành cặp đối xứng — không có tâm đối xứng c) Ba hình chữ nhật (3 là số lẻ, lại xếp lệch tuỳ ý) không ghép được thành cặp — không có tâm đối xứng d) Ngũ giác đều có 5 cạnh, 5 đỉnh (5 là số lẻ) — không có tâm đối xứng
Vậy chỉ a) có tâm đối xứng (tại tâm chung của hai elip); b), c), d) đều không có.
Nhận xét. Ngũ giác đều tuy có tới 5 trục đối xứng (rất "cân") nhưng vẫn KHÔNG có tâm đối xứng — trục đối xứng và tâm đối xứng là hai điều hoàn toàn khác nhau.
Đáp số.Chỉ hình a) có tâm đối xứng, tâm đối xứng là điểm chung (tâm) của hai hình elip. Các hình b), c), d) không có tâm đối xứng.
Sai lầm thường gặp.Cho rằng ngũ giác đều (hay hình "đều", có nhiều trục đối xứng) chắc chắn cũng có tâm đối xứng; thực chất đa giác đều số cạnh lẻ không bao giờ có tâm đối xứng.
Bài 12 · 5.8★★Trang 107— Vận dụng cách gấp — cắt hai lần để tạo hình bốn cánh có tâm đối xứng
Bài 5.8 (trang 107). Em hãy trình bày các bước gấp và cắt giấy như trong Thực hành 2 (cắt hình cỏ bốn lá) ở mục 2 để gấp và cắt được hình bên (bốn hình bát giác nối nhau, ở giữa có một lỗ nhỏ hình thoi).
Kiến thức cần nhớ
Vẫn dùng đúng nguyên lí của Thực hành 2: gấp đôi giấy hai lần vuông góc nhau rồi cắt một lần, mở ra được hình bốn phần bằng nhau, có tâm đối xứng tại giao điểm hai nếp gấp.
Nét cắt trên phần giấy đã gấp quyết định hình dạng của mỗi "cánh" (ở đây là một góc bát giác) sau khi mở ra.
1Cách 1. Nêu các bước gấp — cắt theo đúng thứ tự
Định hướng. Làm giống hệt Thực hành 2, chỉ thay đường cắt cong bằng đường cắt thẳng để tạo góc bát giác thay vì cánh hoa tròn.
Cắt một mảnh giấy hình vuông Gấp đôi mảnh giấy theo chiều dọc, cho hai cạnh trái phải trùng nhau Gấp đôi tiếp theo chiều ngang, cho hai cạnh trên dưới trùng nhau — được một hình vuông nhỏ gồm 4 lớp giấy, đỉnh chung là điểm O Vẽ và cắt theo một đường gấp khúc gồm các đoạn thẳng tạo góc vát (để mỗi lớp giấy thành một phần tám hình bát giác), phần giấy sát góc O không cắt đứt rời hẳn Mở giấy ra
Vậy sau khi mở, được hình gồm bốn hình bát giác nối với nhau quanh điểm O, chính giữa để hở một lỗ nhỏ hình thoi.
2Cách 2. Giải thích vì sao hình nhận được có tâm đối xứng tại O
Định hướng. Không cần thao tác lại, chỉ cần lí giải bằng đúng nhận xét "gấp hai lần vuông góc — cắt một lần" đã dùng ở Thực hành 2.
Gấp dọc rồi gấp ngang tạo ra 4 lớp giấy chồng khít, chung đỉnh O Một đường cắt xuyên qua cả 4 lớp tạo ra 4 hình giống hệt nhau khi mở ra 4 là số chẵn nên 4 hình đó xếp đều quanh O và có tâm đối xứng tại O
Vậy hình bốn bát giác nối nhau nhận được chắc chắn có tâm đối xứng, tâm chính là điểm O — giao điểm hai nếp gấp.
Nhận xét. Muốn hình có lỗ hình thoi ở giữa, đường cắt tạo góc vát phải chừa lại một đoạn nhỏ gần góc O chứ không cắt sát hẳn vào đỉnh.
Đáp số.Gấp đôi giấy vuông theo chiều dọc rồi theo chiều ngang (được 4 lớp chung đỉnh O), cắt theo một đường gấp khúc tạo góc vát rồi mở ra, được hình bốn bát giác nối nhau nhận O làm tâm đối xứng, ở giữa có một lỗ hình thoi.
Sai lầm thường gặp.Chỉ gấp một lần rồi cắt nên khi mở ra chỉ được hình hai cánh (có trục đối xứng) chứ không phải bốn cánh bát giác nối nhau như hình mẫu.
Bài 13 · 5.9★★Trang 107— Vẽ thêm hình để nhận một điểm cho trước làm tâm đối xứng (tương tự Luyện tập 2)
Bài 5.9 (trang 107). Vẽ lại các hình sau vào giấy kẻ ô vuông rồi vẽ thêm để được một hình nhận điểm O là tâm đối xứng: a) hình dạng chữ L màu cam; b) hình mũi tên màu xanh lá.
Kiến thức cần nhớ
Cách làm giống hệt Luyện tập 2: lấy điểm đối xứng của từng đỉnh đã cho qua O rồi nối lại theo đúng thứ tự.
Trên giấy ô vuông, cứ đếm số ô theo hai chiều từ một đỉnh đến O rồi đi tiếp đúng bấy nhiêu ô là được điểm đối xứng của đỉnh đó.
1Cách 1. Lấy đối xứng từng đỉnh qua O rồi nối lại
Định hướng. Áp dụng đúng cách đã làm ở Luyện tập 2: tìm ảnh đối xứng của từng đỉnh của hình đã cho qua O.
Với mỗi đỉnh M của hình đã cho, đếm số ô từ M đến O theo chiều ngang và chiều dọc Đi tiếp đúng bấy nhiêu ô qua khỏi O, được điểm đối xứng M′ O là trung điểm của đoạn MM′ Nối các điểm M′ theo đúng thứ tự các cạnh của hình đã cho
Vậy hình vẽ thêm (nét đứt hồng) là ảnh đối xứng qua O của hình đã cho; ghép hai phần được hình nhận O làm tâm đối xứng.
2Cách 2. Quay cả hình nửa vòng quanh O để đồ nét mới
Định hướng. Hình dung xoay cả tờ giấy đã vẽ đúng nửa vòng quanh O, nét vẽ ở vị trí mới chính là phần cần vẽ thêm.
Ghim hình đã cho tại O Quay cả hình 180∘ quanh O Đồ lại nét ở vị trí sau khi quay bằng nét đứt
Vậy phần đồ thêm sau khi quay nửa vòng chính là phần hình cần vẽ, và hình ghép hai phần chắc chắn nhận O làm tâm đối xứng theo đúng cách dựng.
Nhận xét. Kết quả Cách 1 và Cách 2 phải trùng nhau; nếu lệch thì một trong hai bước đếm ô hoặc quay hình đã bị nhầm.
Đáp số.Hình vẽ thêm là ảnh đối xứng qua O của hình đã cho: mỗi đỉnh M có điểm đối xứng M′ qua O (đếm số ô bằng nhau về hai phía O), nối các điểm M′ theo đúng thứ tự cạnh ban đầu.
Sai lầm thường gặp.Vẽ thêm phần đối xứng qua một ĐƯỜNG THẲNG đi qua O (chỉ tạo trục đối xứng) thay vì đối xứng qua chính điểm O.
Bài 14 · 5.10★★★Trang 107— Vận dụng gấp hai lần vuông góc để dự đoán hình mở ra
Bài 5.10 (trang 107). An gấp những mảnh giấy kích thước 3 cm ×5 cm lần lượt theo chiều ngang và chiều dọc rồi cắt như những hình sau. Theo em, khi mở những mảnh giấy này, An sẽ nhận được chữ gì? a) mảnh giấy cắt theo hình bậc thang; b) mảnh giấy cắt theo hình cong.
Kiến thức cần nhớ
Gấp lần lượt theo chiều ngang rồi chiều dọc (hai nếp gấp vuông góc nhau) tạo ra 4 lớp giấy chồng khít; cắt một lần xuyên qua cả 4 lớp.
Hình mở ra có cả hai trục đối xứng (theo hai nếp gấp) và một tâm đối xứng tại giao điểm hai trục đó.
1Cách 1. Hình dung mở giấy dần theo từng nếp gấp
Định hướng. Mở lần lượt từng nếp gấp một, mỗi lần mở nhân đôi phần đã cắt bằng một ảnh đối xứng qua nếp gấp đó.
Mở nếp gấp dọc trước: phần đã cắt nhân đôi thành hai nửa đối xứng qua trục dọc Mở tiếp nếp gấp ngang: hình vừa có nhân đôi tiếp thành bốn phần đối xứng qua trục ngang a) Bốn phần ghép lại tạo hai "cột" đứng nối với nhau bằng một vạch ngang ở giữa — dáng gần giống chữ H b) Bốn phần cong ghép lại khép kín thành một vòng — dáng gần giống chữ O
Vậy mở mảnh a) An được hình gần giống chữ H; mở mảnh b) An được hình gần giống chữ O.
2Cách 2. Dùng tính chất "2 trục vuông góc cho 1 tâm đối xứng"
Định hướng. Không cần mở tưởng tượng từng bước, chỉ cần biết chắc hình cuối cùng có cả hai trục đối xứng lẫn tâm đối xứng, rồi so hình dạng với các chữ cái đã học có tính chất này.
Gấp ngang rồi gấp dọc ⇒ hình mở ra có trục đối xứng ngang, trục đối xứng dọc, và tâm đối xứng tại giao điểm hai trục Trong các chữ cái đã xét ở Luyện tập 1, H và X vừa có đủ hai trục vuông góc vừa có tâm đối xứng a) Đường cắt bậc thang khớp với dáng thẳng của chữ H b) Đường cắt cong khép kín khớp với dáng tròn của chữ O (chữ O cũng có đủ hai trục và tâm đối xứng như H, X)
Vậy a) An nhận được chữ H; b) An nhận được chữ O.
Nhận xét. Điều chắc chắn về mặt Toán học là: hình nhận được ở cả hai câu LUÔN có tâm đối xứng, vì được tạo từ hai nếp gấp vuông góc nhau.
Đáp số.a) An nhận được chữ H; b) An nhận được chữ O. (Cả hai chữ đều có tâm đối xứng, đúng như tính chất của cách gấp hai lần vuông góc.)
Sai lầm thường gặp.Chỉ để ý hình dạng đường cắt mà quên rằng gấp hai lần vuông góc luôn tạo ra bốn lớp chồng khít; nếu chỉ tưởng tượng "mở một nửa" (một nếp gấp) sẽ đoán sai hình cuối cùng.