Bài 1 · Hoạt động 1 – Bước 1★★Trang 111— Diện tích hình chữ nhật, hình vuông — kiểm tra kích thước vật liệu
Hoạt động 1 – Bước 1 (trang 111). Từ một tờ bìa A4 kích thước 21 cm×29,7 cm, em hãy vẽ rồi cắt một hình vuông có cạnh 20 cm để làm tấm thiệp. Kiểm tra xem tờ bìa A4 đã cho có đủ để cắt được hình vuông này không, sau đó tính diện tích phần bìa còn thừa lại.
Kiến thức cần nhớ
Diện tích hình chữ nhật bằng chiều dài nhân chiều rộng.
Diện tích hình vuông cạnh a bằng a×a.
Muốn cắt một hình vuông cạnh 20 cm từ một hình chữ nhật thì cả hai cạnh của hình chữ nhật đều phải không nhỏ hơn 20 cm.
1Cách 1. Lấy diện tích tờ bìa trừ diện tích hình vuông
Định hướng. Cạnh hình vuông cần cắt là 20 cm, còn hai cạnh tờ bìa là 21 cm và 29,7 cm đều lớn hơn 20 cm nên đủ bìa để cắt; phần thừa lại chính là hiệu hai diện tích.
21 cm>20 cm ; 29,7 cm>20 cm Diện tích tờ bìa: 21×29,7=623,7 cm2 Diện tích hình vuông: 20×20=400 cm2 Diện tích phần thừa: 623,7−400=223,7 cm2
Vậy tờ bìa A4 đủ để cắt hình vuông cạnh 20 cm, phần bìa còn thừa có diện tích 223,7 cm2.
2Cách 2. Chia phần bìa thừa thành hai hình chữ nhật rồi cộng lại
Định hướng. Sau khi cắt hình vuông ở một góc, phần bìa còn lại tách được thành một dải ngang và một dải dọc; cộng diện tích hai dải đó cũng ra đúng phần thừa.
Dải ngang: 20×(29,7−20)=20×9,7=194 cm2 Dải dọc: (21−20)×29,7=1×29,7=29,7 cm2 Diện tích phần thừa: 194+29,7=223,7 cm2
Vậy phần bìa còn thừa có diện tích 223,7 cm2, khớp với Cách 1.
Nhận xét. Cách 2 không cần nhớ công thức trừ diện tích mà vẫn ra cùng kết quả, đồng thời cho biết rõ hình dạng từng mảnh bìa thừa để tận dụng cắt các chi tiết trang trí nhỏ tiếp theo.
Đáp số.Tờ bìa A4 đủ để cắt hình vuông cạnh 20 cm ; diện tích phần bìa còn thừa là 223,7 cm2.
Sai lầm thường gặp.Lấy 21+29,7 rồi trừ cho 20+20 (trừ theo chu vi) thay vì trừ theo diện tích; hoặc quên kiểm tra cả hai cạnh của tờ bìa trước khi kết luận đủ vật liệu.
Bài 2 · Hoạt động 1 – Bước 2★Trang 111— Diện tích hình chữ nhật tạo thành khi gấp đôi hình vuông
Hoạt động 1 – Bước 2 (trang 111). Gấp đôi hình vuông cạnh 20 cm vừa cắt ở Bước 1 thành hai hình chữ nhật chồng khít lên nhau để tạo hình tấm thiệp. Em hãy tính kích thước và diện tích của mỗi mặt tấm thiệp sau khi gấp.
Kiến thức cần nhớ
Gấp đôi một hình vuông theo đường trung trực của một cạnh cho hai hình chữ nhật bằng nhau, mỗi hình có một cạnh bằng cạnh hình vuông, cạnh còn lại bằng nửa cạnh đó.
Diện tích hình chữ nhật bằng chiều dài nhân chiều rộng.
1Cách 1. Tính trực tiếp kích thước rồi nhân
Định hướng. Gấp đôi hình vuông theo đường giữa thì cạnh 20 cm giữ nguyên, còn cạnh kia bị chia đôi, nên chỉ cần xác định đúng hai cạnh của hình chữ nhật rồi nhân lại.
Cạnh giữ nguyên: 20 cm Cạnh bị chia đôi: 20:2=10 cm Diện tích mỗi mặt: 10×20=200 cm2
Vậy mỗi mặt tấm thiệp sau khi gấp có kích thước 10 cm×20 cm, diện tích 200 cm2.
2Cách 2. Lấy nửa diện tích hình vuông ban đầu
Định hướng. Gấp đôi chia hình vuông thành hai phần bằng nhau tuyệt đối, nên diện tích mỗi mặt đúng bằng một nửa diện tích cả hình vuông, không cần tính lại kích thước.
Diện tích hình vuông ban đầu: 20×20=400 cm2 Diện tích mỗi mặt sau khi gấp: 400:2=200 cm2
Vậy diện tích mỗi mặt tấm thiệp là 200 cm2, khớp với Cách 1.
Nhận xét. Cách 2 nhanh hơn khi chỉ cần biết diện tích, còn Cách 1 cho biết thêm cả hai cạnh cụ thể 10 cm và 20 cm để tiện đo khi dán các chi tiết trang trí.
Đáp số.Mỗi mặt tấm thiệp có kích thước 10 cm×20 cm, diện tích 200 cm2.
Sai lầm thường gặp.Tưởng gấp đôi thì diện tích không đổi, hoặc chia đôi nhầm cạnh 20 cm (đáng lẽ phải giữ nguyên) thay vì chia đôi cạnh còn lại.
Bài 3 · Hoạt động 1 – Bước 3, 4★★★Trang 111— Diện tích hình chữ nhật và tam giác đều — cộng nhiều mảnh nhỏ
Hoạt động 1 – Bước 3, 4 (trang 111 – 112). Từ giấy màu, em cắt 2 hình chữ nhật kích thước 1 cm×4 cm, 2 hình chữ nhật kích thước 1 cm×3 cm, 2 hình chữ nhật kích thước 1 cm×2 cm và 9 tam giác đều cạnh 1,5 cm, rồi dán tất cả vào mặt trước tấm thiệp (kích thước 10 cm×20 cm). Em hãy tính tổng diện tích các hình trang trí và cho biết chúng có đủ chỗ để dán vừa lên mặt thiệp hay không.
Kiến thức cần nhớ
Diện tích hình chữ nhật bằng chiều dài nhân chiều rộng.
Diện tích tam giác bằng nửa tích một cạnh đáy với chiều cao tương ứng, tức là S=21×a×h với a là cạnh đáy, h là chiều cao.
Với tam giác đều cạnh 1,5 cm, đo trực tiếp bằng thước hoặc compa cho chiều cao xấp xỉ 1,3 cm.
1Cách 1. Tính diện tích từng loại hình rồi cộng lại
Định hướng. Có bốn loại hình khác nhau nên tính diện tích một hình của mỗi loại, nhân với số lượng rồi cộng tất cả lại thành tổng diện tích trang trí.
2 hình 1×4: 2×(1×4)=8 cm2 2 hình 1×3: 2×(1×3)=6 cm2 2 hình 1×2: 2×(1×2)=4 cm2 1 tam giác đều, chiều cao đo được 1,3 cm: 21×1,5×1,3=0,975 cm2 9 tam giác: 9×0,975=8,775 cm2 Tổng diện tích trang trí: 8+6+4+8,775=26,775 cm2 So sánh: 26,775 cm2<200 cm2
Vậy tổng diện tích các hình trang trí xấp xỉ 26,8 cm2, nhỏ hơn nhiều so với diện tích 200 cm2 của mặt thiệp nên đủ chỗ dán vừa, còn thừa khoảng 173,2 cm2 để viết chữ và trang trí thêm.
2Cách 2. Ước lượng bằng lưới ô vuông cạnh 1 cm
Định hướng. Đặt các hình đã cắt lên tờ giấy kẻ ô vuông cạnh 1 cm, đếm số ô mà mỗi hình che kín (kể cả ô che một nửa) để ước lượng diện tích mà không cần nhớ công thức.
2 hình 1×4 che đúng 4 ô mỗi hình: 2×4=8 ô 2 hình 1×3 che đúng 3 ô mỗi hình: 2×3=6 ô 2 hình 1×2 che đúng 2 ô mỗi hình: 2×2=4 ô 1 tam giác đều nằm gọn trong nửa hình chữ nhật bao quanh 1,5×1,3, che khoảng 0,975 ô: 9×0,975=8,775 ô Tổng số ô bị che: 8+6+4+8,775=26,775 ô, mỗi ô diện tích 1 cm2
Vậy tổng diện tích trang trí ước lượng được là 26,775 cm2, khớp với Cách 1.
Nhận xét. Cách 2 trực quan, phù hợp khi thực hành cắt dán thật vì có thể đếm ngay trên giấy kẻ ô mà không cần tính nhiều; Cách 1 cho kết quả gọn hơn khi cần ghi vào báo cáo.
Đáp số.Tổng diện tích các hình trang trí ≈26,8 cm2, nhỏ hơn diện tích mặt thiệp 200 cm2 nên đủ chỗ dán vừa (còn thừa khoảng 173,2 cm2).
Sai lầm thường gặp.Quên nhân số lượng (chỉ tính diện tích một hình mỗi loại), hoặc dùng nhầm cạnh tam giác làm chiều cao khi tính diện tích tam giác đều.
Bài 4 · Hoạt động 1 – Bước 3 (đo và cắt)★★Trang 111— Chu vi hình chữ nhật, chu vi tam giác đều — cộng nhiều mảnh nhỏ
Hoạt động 1 – Bước 3 (trang 111). Để cắt đủ 6 hình chữ nhật (2 hình 1 cm×4 cm, 2 hình 1 cm×3 cm, 2 hình 1 cm×2 cm) và 9 tam giác đều cạnh 1,5 cm, em cần đo và kẻ đúng các cạnh trên giấy màu trước khi cắt. Hãy tính tổng độ dài các cạnh cần đo (tức tổng chu vi tất cả các hình trên) để ước lượng độ dài giấy màu cần chuẩn bị.
Kiến thức cần nhớ
Chu vi hình chữ nhật bằng hai lần tổng chiều dài và chiều rộng.
Chu vi tam giác đều cạnh a bằng 3×a.
1Cách 1. Tính chu vi từng hình rồi cộng
Định hướng. Tính chu vi của một hình mỗi loại theo công thức, nhân với số lượng hình cùng loại rồi cộng tất cả các loại lại.
2 hình 1×4: chu vi mỗi hình 2×(1+4)=10 cm, tổng 2×10=20 cm 2 hình 1×3: chu vi mỗi hình 2×(1+3)=8 cm, tổng 2×8=16 cm 2 hình 1×2: chu vi mỗi hình 2×(1+2)=6 cm, tổng 2×6=12 cm 9 tam giác đều cạnh 1,5 cm: chu vi mỗi tam giác 3×1,5=4,5 cm, tổng 9×4,5=40,5 cm Tổng độ dài cần đo: 20+16+12+40,5=88,5 cm
Vậy tổng độ dài các cạnh cần đo để cắt đủ vật liệu trang trí là 88,5 cm.
2Cách 2. Gộp nhóm rồi nhân một lần
Định hướng. Thay vì nhân hệ số 2 ở từng hình chữ nhật, cộng trước tổng các cặp chiều dài và chiều rộng của cả 6 hình rồi mới nhân 2 một lần; với tam giác thì đếm tổng số cạnh trước rồi mới nhân độ dài một cạnh.
Tổng (dài + rộng) của 6 hình chữ nhật: (1+4)+(1+4)+(1+3)+(1+3)+(1+2)+(1+2)=24 cm Chu vi 6 hình chữ nhật: 2×24=48 cm 9 tam giác đều có tất cả 9×3=27 cạnh, mỗi cạnh 1,5 cm: 27×1,5=40,5 cm Tổng độ dài cần đo: 48+40,5=88,5 cm
Vậy tổng độ dài cần đo là 88,5 cm, khớp với Cách 1.
Nhận xét. Cách 2 gộp phép nhân vào một bước duy nhất nên ít bị nhầm hệ số hơn khi số hình nhiều, đặc biệt hữu ích khi đếm nhanh số cạnh của một nhóm nhiều hình giống nhau.
Đáp số.Tổng độ dài các cạnh cần đo để cắt đủ vật liệu trang trí là 88,5 cm.
Sai lầm thường gặp.Quên nhân đôi số lượng hình cùng kích thước, hoặc lấy cạnh tam giác nhân 4 (nhầm với tứ giác) thay vì nhân 3.
Bài 5 · Hoạt động 2 – Đo diện tích nền và diện tích cửa★★Trang 112— Diện tích hình chữ nhật trong thực tiễn — đo đạc và tính toán
Hoạt động 2 (trang 112). Một nhóm học sinh đo phòng học của lớp và ghi lại số liệu: phòng học hình chữ nhật có chiều dài 8 m, chiều rộng 6 m; phòng có 2 cửa ra vào, mỗi cửa kích thước 1,2 m×2,4 m, và 8 cửa sổ, mỗi cửa kích thước 1,2 m×1,6 m. Em hãy tính diện tích nền phòng học S1 và tổng diện tích các cửa (cửa ra vào và cửa sổ) S2.
Kiến thức cần nhớ
Diện tích hình chữ nhật bằng chiều dài nhân chiều rộng.
Tổng diện tích nhiều cửa cùng kích thước bằng diện tích một cửa nhân với số lượng cửa.
1Cách 1. Tính diện tích từng loại rồi cộng theo đơn vị mét
Định hướng. Nền phòng và mỗi loại cửa đều có dạng hình chữ nhật nên áp dụng trực tiếp công thức chiều dài nhân chiều rộng cho từng loại, sau đó cộng diện tích các cửa lại.
Diện tích nền: S1=8×6=48 m2 Diện tích 1 cửa ra vào: 1,2×2,4=2,88 m2, 2 cửa: 2×2,88=5,76 m2 Diện tích 1 cửa sổ: 1,2×1,6=1,92 m2, 8 cửa: 8×1,92=15,36 m2 Tổng diện tích cửa: S2=5,76+15,36=21,12 m2
VậyS1=48 m2 và S2=21,12 m2.
2Cách 2. Đổi ra xăng-ti-mét để kiểm tra chéo
Định hướng. Đổi tất cả kích thước sang xăng-ti-mét, tính lại diện tích rồi đổi kết quả về mét vuông (vì 1 m2=10000 cm2) để kiểm tra xem có khớp với Cách 1 hay không.
8 m=800 cm ; 6 m=600 cm: S1=800×600=480000 cm2=48 m2 1,2 m=120 cm ; 2,4 m=240 cm: 2 cửa ra vào =2×(120×240)=57600 cm2=5,76 m2 1,6 m=160 cm: 8 cửa sổ =8×(120×160)=153600 cm2=15,36 m2 S2=57600+153600=211200 cm2=21,12 m2
VậyS1=48 m2 và S2=21,12 m2, khớp với Cách 1.
Nhận xét. Đổi đơn vị để tính lại là một cách kiểm tra chéo hữu ích khi đo đạc thực tế, giúp phát hiện ngay lỗi nếu hai kết quả không trùng nhau.
Đáp số.S1=48 m2 ; S2=21,12 m2.
Sai lầm thường gặp.Cộng nhầm chiều dài và chiều rộng thay vì nhân; quên nhân số lượng cửa cùng kích thước; hoặc để lẫn đơn vị mét với xăng-ti-mét khi cộng.
Bài 6 · Hoạt động 2 – Chỉ số ánh sáng và kết luận★★★Trang 112— Tỉ số phần trăm trong thực tiễn — so sánh với mức chuẩn
Hoạt động 2 (trang 112). Dùng công thức A=S1S2×100 với S1=48 m2 và S2=21,12 m2 ở trên, em hãy tính chỉ số ánh sáng A của phòng học và so sánh với 20 để trả lời câu hỏi: Lớp học của em có đạt mức chuẩn về ánh sáng không? Em hãy so sánh thêm với một phòng học khác (phương án B) có cùng diện tích nền 48 m2 nhưng chỉ có 1 cửa ra vào 1 m×2 m và 4 cửa sổ 1 m×1 m.
Kiến thức cần nhớ
Muốn tính tỉ số phần trăm của S2 so với S1, lấy S2 chia S1 rồi nhân với 100.
Nếu A≥20 thì phòng học đủ ánh sáng (đạt mức chuẩn); nếu A<20 thì phòng học không đạt mức chuẩn về ánh sáng.
1Cách 1. Thay số trực tiếp vào công thức rồi so sánh
Định hướng. Đã có sẵn S1, S2 của phòng học đang xét (phương án A) và của phòng học so sánh (phương án B) nên chỉ cần thay số vào công thức A=S1S2×100 rồi đối chiếu với 20.
Phương án A: A=4821,12×100=44 44≥20 Phương án B: S2=1×2+4×(1×1)=2+4=6 m2 A=486×100=12,5 12,5<20
Vậy phòng học phương án A có A=44≥20 nên đạt mức chuẩn về ánh sáng, còn phòng học phương án B có A=12,5<20 nên không đạt mức chuẩn về ánh sáng dù có cùng diện tích nền.
2Cách 2. Tính riêng phần trăm do từng loại cửa đóng góp rồi cộng
Định hướng. Thay vì cộng S2 trước, tính tỉ số phần trăm của cửa ra vào và của cửa sổ so với S1 ở mỗi phương án rồi cộng hai kết quả lại, cũng ra đúng chỉ số A.
Phương án A: tỉ lệ cửa ra vào 485,76×100=12 ; tỉ lệ cửa sổ 4815,36×100=32 A=12+32=44 Phương án B: tỉ lệ cửa ra vào 482×100≈4,17 ; tỉ lệ cửa sổ 484×100≈8,33 A≈4,17+8,33=12,5
Vậy hai phương án cho cùng kết quả A=44 và A=12,5 như Cách 1: phương án A đạt mức chuẩn về ánh sáng, phương án B thì không.
Nhận xét. Tách riêng phần trăm của từng loại cửa còn cho thấy cửa sổ đóng góp phần lớn chỉ số A hơn cửa ra vào, nên muốn tăng ánh sáng cho một phòng học chưa đạt chuẩn thì nên ưu tiên mở thêm hoặc mở rộng cửa sổ.
Đáp số.A=44≥20: lớp học (phương án A) đạt mức chuẩn về ánh sáng. Phương án B có A=12,5<20: không đạt mức chuẩn, dù cùng diện tích nền.
Sai lầm thường gặp.Tính A=S2S1×100 (đảo ngược tử số và mẫu số), hoặc so sánh trực tiếp S2 với 20 thay vì so sánh A với 20.