Chương III. Góc và đường thẳng song song

Bài 8. Góc ở vị trí đặc biệt. Tia phân giác của một góc (trang 40-45)

SGK Toán 7 — Kết nối tri thức, tập 1 · 17 bài tập, mỗi câu ít nhất 2 cách giải.

Mở bài học này trong app ↗
Bài 1 · HĐ1Trang 41Nhận biết hai góc kề bù trên hình ảnh thực tế
HĐ1 (trang 41). Quan sát hình vẽ bên (mặt chiếc bánh chưng với các dây lạt cắt nhau tại tâm ). Em hãy nhận xét quan hệ về đỉnh, về cạnh của hai góc được đánh dấu.
O
Kiến thức cần nhớ
  • Hai góc có một cạnh chung, hai cạnh còn lại là hai tia đối nhau được gọi là hai góc kề bù.
  • Hai góc kề bù có tổng số đo bằng .
  • Hai tia đối nhau là hai tia chung gốc và cùng nằm trên một đường thẳng, hướng về hai phía khác nhau.
  • Góc bẹt có số đo bằng .
🧠 Phân tích tư duy
Hai góc được đánh dấu cùng tựa vào một chỗ giao nhau của các dây lạt — dấu hiệu phải soi đúng hai thứ: đỉnh của chúng có trùng nhau không, và ba cạnh xếp với nhau thế nào. Nên soi cạnh trước rồi mới nói tới số đo, vì quan hệ về cạnh mới là thứ quyết định tên gọi, còn số đo chỉ để kiểm lại. Bẫy của đề là hai góc trông «dính nhau» rất dễ bị gọi bừa là kề bù, trong khi kề bù còn đòi thêm điều kiện hai cạnh còn lại phải thẳng hàng.
1Cách 1. Soi thẳng định nghĩa — đỉnh chung, cạnh chung, hai cạnh còn lại đối nhau

Định hướng. Cứ bám đúng ba ý trong định nghĩa hai góc kề bù mà đối chiếu với hình.

Hai góc được đánh dấu đều có đỉnh là tâm của mặt bánh (điểm chung của các dây lạt)
Hai góc có chung cạnh là tia lạt chéo đi lên phía trên bên phải
Hai cạnh còn lại là hai tia lạt ngang, cùng nằm trên một dây lạt và hướng về hai phía của
Hai tia đó là hai tia đối nhau

Vậy hai góc được đánh dấu có chung đỉnh , có một cạnh chung, hai cạnh còn lại là hai tia đối nhau, nên đó là hai góc kề bù.

2Cách 2. Kiểm lại bằng số đo — đo hai góc rồi cộng

Định hướng. Nếu quả thật kề bù thì tổng số đo phải bằng ; lấy thước đo góc kiểm chứng.

Các dây lạt chia mặt bánh thành phần bằng nhau nên mỗi phần là
Góc nhỏ được đánh dấu gồm phần:
Góc lớn được đánh dấu gồm phần:

Vậy tổng số đo hai góc bằng , phù hợp với tính chất của hai góc kề bù.

3Cách 3. Nhìn qua góc bẹt — một tia chia đôi góc bẹt

Định hướng. Hai tia lạt ngang tạo thành một đường thẳng, tức là một góc bẹt ở đỉnh ; tia lạt chéo nằm trong góc bẹt ấy nên cắt nó thành đúng hai mảnh.

Hai tia lạt ngang đối nhau nên chúng tạo ở một góc bẹt, số đo
Tia lạt chéo nằm giữa hai tia ấy nên chia góc bẹt thành hai góc
Tổng số đo hai mảnh đúng bằng số đo góc bẹt:

Vậy hai góc được đánh dấu là hai mảnh của cùng một góc bẹt, có chung cạnh là tia lạt chéo, nên chúng kề bù.

Nhận xét. Cách nhìn «một tia cắt đôi góc bẹt» dùng lại được cho mọi bài về hai góc kề bù sau này, vì nó biến quan hệ hình học thành một phép trừ đơn giản.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi nên dùng Cách 1: câu hỏi chỉ đòi «nhận xét về đỉnh và về cạnh» nên trả lời đúng theo định nghĩa là đủ điểm, còn Cách 2 chỉ nên dùng để tự kiểm.
Đáp số. Hai góc được đánh dấu có chung đỉnh , có một cạnh chung, hai cạnh còn lại là hai tia đối nhau; tổng số đo của chúng bằng (cụ thể là ).
Sai lầm thường gặp. Nhiều bạn thấy hai góc «dính nhau» là kết luận ngay kề bù mà quên kiểm hai cạnh còn lại có đối nhau không. Phản ví dụ: ở Hình 3.2b hai góc cũng chung đỉnh, chung một cạnh nhưng hai cạnh còn lại tạo thành một góc chứ không thẳng hàng, tổng số đo chỉ khoảng nên chúng chỉ kề nhau chứ không kề bù.
🚀 Mở rộng. Nếu cắt bánh bằng nhát lạt đi qua tâm và chia đều mặt bánh thì mỗi góc nhỏ bằng ; hãy thử tìm mọi cặp góc kề bù ghép từ các mảnh đó.
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 41
Bài 2 · HĐ2Trang 41Nhận xét quan hệ và tính tổng số đo hai góc kề bù
HĐ2 (trang 41). Cho ba tia , , như Hình 3.1, trong đó là hai tia đối nhau.
a) Em hãy nhận xét quan hệ về đỉnh, về cạnh của hai góc .
b) Đo rồi tính tổng số đo hai góc .
xyOz
Kiến thức cần nhớ
  • Hai góc có một cạnh chung, hai cạnh còn lại là hai tia đối nhau được gọi là hai góc kề bù.
  • Hai góc kề bù có tổng số đo bằng .
  • Nếu tia nằm giữa hai tia thì .
  • Góc bẹt là góc có hai cạnh là hai tia đối nhau, số đo bằng .
🧠 Phân tích tư duy
Đề đã tặng sẵn dữ kiện quý nhất: là hai tia đối nhau — đó chính là điều kiện thứ ba trong định nghĩa hai góc kề bù, nên câu a) chỉ còn việc chỉ ra đỉnh chung và cạnh chung. Ở câu b) tổng số đo không phụ thuộc vào việc tia nằm ở đâu, vì thế đo một góc rồi suy ra góc kia sẽ nhanh và an toàn hơn đo cả hai. Bẫy là đọc lướt chữ «tia đối nhau» thành «hai tia bất kì», khi ấy tổng số đo sẽ không còn bằng nữa.
1Cách 1. Đo trực tiếp hai góc bằng thước đo góc rồi cộng

Định hướng. Đây là cách tự nhiên nhất: có hình trong tay thì đo thật rồi cộng lại xem được bao nhiêu.

a) Hai góc có chung đỉnh , có chung cạnh
Hai cạnh còn lại là , đây là hai tia đối nhau (gt)
b) Đo trên Hình 3.1:

Vậy hai góc là hai góc kề bù và .

2Cách 2. Chỉ đo một góc — dùng góc bẹt để suy ra góc còn lại

Định hướng. Hai tia , đối nhau nên là góc bẹt; tia nằm giữa nên chỉ cần biết một mảnh là biết mảnh kia.

là hai tia đối nhau (gt) nên (góc bẹt)
Tia nằm giữa hai tia nên
Đo được

Vậy tổng số đo hai góc bằng , và chỉ cần một lần đo là đủ.

3Cách 3. Đặt ẩn cho số đo — kết quả đúng với mọi vị trí của tia

Định hướng. Thay vì đo, ta gọi số đo góc thứ nhất là một chữ rồi biểu diễn góc thứ hai theo chữ ấy, để thấy tổng không phụ thuộc vào cách vẽ hình.

Gọi với
(tia nằm giữa)


Vậy dù vẽ tia ở vị trí nào thì tổng hai góc vẫn luôn bằng .

Nhận xét. Chính lập luận của Cách 3 là chỗ sách rút ra tính chất «hai góc kề bù có tổng số đo bằng » — kết quả đúng cho mọi hình chứ không riêng Hình 3.1.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 2: chỉ một lần đo nên hạn chế được sai số của thước, mà vẫn trả lời trọn cả hai ý; Cách 3 nên nhớ vì nó giải thích được vì sao tổng luôn bằng .
Đáp số. a) Hai góc có chung đỉnh , chung cạnh , hai cạnh còn lại là hai tia đối nhau. b) .
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là đo hai góc rồi cộng ra hoặc và ghi luôn kết quả lệch đó. Phản ví dụ cho thấy đo không thay được suy luận: nếu vẽ tia gần trùng , số đo chỉ vài độ, thước rất khó đọc chính xác, nhưng tổng hai góc vẫn phải đúng bằng .
🚀 Mở rộng. Nếu thay điều kiện «, đối nhau» bằng «» thì tổng bằng bao nhiêu, và hai góc ấy còn kề bù nữa không?
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 41
Bài 3 · Câu hỏi (Hình 3.2)★★Trang 41Nhận biết hai góc kề bù qua hình vẽ
Câu hỏi (trang 41). Hai góc được đánh dấu trong hình nào dưới đây là hai góc kề bù? (Hình 3.2a, 3.2b, 3.2c)
12Oa)12Ob)12Mc)
Kiến thức cần nhớ
  • Hai góc có một cạnh chung, hai cạnh còn lại là hai tia đối nhau được gọi là hai góc kề bù.
  • Hai góc kề bù có tổng số đo bằng .
  • Hai góc kề nhau là hai góc có một cạnh chung và hai cạnh còn lại nằm khác phía nhau đối với đường thẳng chứa cạnh chung.
  • Hai góc bù nhau là hai góc có tổng số đo bằng .
🧠 Phân tích tư duy
Ba hình đều cho hai góc chung đỉnh và chung một cạnh, nên điều duy nhất phân biệt chúng là hai cạnh còn lại có phải hai tia đối nhau hay không — hãy dò đúng chỗ ấy. Cách nhanh nhất là nhìn xem hai cạnh còn lại có nằm gọn trên một đường thẳng không, vì mắt bắt đường thẳng dễ hơn bắt góc. Bẫy nằm ở hình b): hai góc kề nhau rất «đẹp» nhưng hai cạnh còn lại lại tạo với nhau một góc nhọn.
1Cách 1. Soi đủ ba điều kiện của định nghĩa cho từng hình

Định hướng. Lần lượt kiểm đỉnh chung, cạnh chung, rồi mới xét hai cạnh còn lại.

Hình 3.2a: hai góc chung đỉnh , chung cạnh là tia hướng lên
hai cạnh còn lại nằm trên một đường thẳng và về hai phía của nên là hai tia đối nhau
Hình 3.2b: hai góc chung đỉnh , chung cạnh là tia dốc đứng
hai cạnh còn lại là tia nằm ngang và tia chếch lên bên trái, hai tia này không đối nhau
Hình 3.2c: hai góc chung đỉnh , chung cạnh là tia hướng xuống
hai cạnh còn lại nằm trên một đường thẳng và về hai phía của nên là hai tia đối nhau

Vậy hai góc được đánh dấu ở Hình 3.2a và Hình 3.2c là hai góc kề bù; ở Hình 3.2b thì không.

2Cách 2. Loại nhanh bằng «đường thẳng» — chỉ nhìn hai cạnh không chung

Định hướng. Hai tia đối nhau ghép lại đúng bằng một đường thẳng, nên chỉ cần xem hai cạnh không chung có tạo thành một nét thẳng đi qua đỉnh hay không.

Hình 3.2a: hai cạnh không chung nối lại cho một nét thẳng đi qua
Hình 3.2c: hai cạnh không chung nối lại cho một nét thẳng đi qua
Hình 3.2b: hai cạnh không chung gấp khúc tại , không thành nét thẳng

Vậy chỉ Hình 3.2a và Hình 3.2c cho hai góc kề bù.

3Cách 3. Kiểm bằng tổng số đo — chỗ nào tổng khác thì loại

Định hướng. Hai góc kề bù buộc phải có tổng bằng ; dùng thước đo góc để loại trường hợp không đạt.

Hình 3.2a: đo được , tổng bằng
Hình 3.2c: đo được , tổng bằng
Hình 3.2b: đo được , tổng bằng

Vậy Hình 3.2b bị loại, hai hình còn lại cho hai góc kề bù.

Nhận xét. Tổng bằng chỉ dùng để LOẠI chứ chưa đủ để kết luận: hai góc ở hai chỗ khác nhau cũng có thể có tổng mà chẳng kề nhau.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 2: chỉ liếc xem hai cạnh không chung có thẳng hàng không nên nhanh nhất, sau đó viết lại lời giải thích theo định nghĩa như Cách 1 để lấy trọn điểm.
Đáp số. Hai góc được đánh dấu ở Hình 3.2a và Hình 3.2c là hai góc kề bù; Hình 3.2b không phải.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm phổ biến là chọn cả hình b) vì thấy hai góc «kề nhau và cùng nằm dưới». Phản ví dụ ngay trong hình b): hai cạnh không chung là tia nằm ngang và tia chếch lên trên tạo với nhau một góc khoảng , khác , nên hai tia ấy không đối nhau và hai góc chỉ kề nhau chứ không bù nhau.
🚀 Mở rộng. Hãy vẽ thêm một hình trong đó hai góc có tổng số đo đúng bằng nhưng không kề bù — điều đó cho thấy «bù nhau» và «kề bù» là hai khái niệm khác nhau.
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 41
Bài 4 · Luyện tập 1★★Trang 42Gọi tên hai góc kề bù và tính số đo góc còn lại
Luyện tập 1 (trang 42). Viết tên hai góc kề bù trong Hình 3.4 và tính số đo góc . (Trong Hình 3.4, là hai tia đối nhau, .)
mnOt60°
Kiến thức cần nhớ
  • Hai góc có một cạnh chung, hai cạnh còn lại là hai tia đối nhau được gọi là hai góc kề bù.
  • Hai góc kề bù có tổng số đo bằng .
  • Nếu tia nằm giữa hai tia thì .
  • Góc bẹt có số đo bằng .
🧠 Phân tích tư duy
Trên hình có một đường thẳng và một tia xuất phát từ — đúng khuôn của dạng «một tia cắt đôi góc bẹt», nên chắc chắn sinh ra một cặp góc kề bù. Đã biết một góc thì góc kia lấy trừ đi, không cần đo. Bẫy ở chỗ đề hỏi góc chứ không phải góc đã cho sẵn, đọc vội là ghi luôn .
1Cách 1. Dùng thẳng tính chất hai góc kề bù

Định hướng. Chỉ ra cặp kề bù rồi lấy trừ đi góc đã biết.

là hai tia đối nhau nên là hai góc kề bù (chung đỉnh , chung cạnh )
(hai góc kề bù)


Vậy hai góc kề bù trong hình là ; .

2Cách 2. Trừ từ góc bẹt

Định hướng. Coi là một góc bẹt bị tia cắt thành hai mảnh, rồi lấy cả trừ mảnh.

là hai tia đối nhau nên (góc bẹt)
Tia nằm giữa hai tia nên

Vậy .

3Cách 3. Đặt ẩn cho số đo góc rồi lập phương trình

Định hướng. Gọi số đo cần tìm là một chữ, viết điều kiện kề bù thành một đẳng thức rồi giải.

Gọi là số đo góc , đơn vị là độ,
kề bù nên

Vậy .

Nhận xét. Đặt ẩn tuy dài hơn nhưng rất đáng nhớ: khi đề cho quan hệ chứ không cho số đo cụ thể (chẳng hạn «góc này gấp đôi góc kia») thì chỉ có lối đặt ẩn mới đi được.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: viết đúng một dòng lý do «hai góc kề bù» rồi một phép trừ là xong, không mất công dựng thêm góc bẹt như Cách 2.
Đáp số. Hai góc kề bù là ; .
Sai lầm thường gặp. Lỗi thường gặp là kể tên cặp «» — sai vì là góc bẹt chứa chứ không kề với nó. Một lỗi khác là lấy do nhầm kề bù với hai góc phụ nhau.
🚀 Mở rộng. Nếu đề đổi thành « gấp lần » thì mỗi góc bằng bao nhiêu độ? Tổng quát: khi thì .
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 42
Bài 5 · HĐ3Trang 42Nhận biết hai góc đối đỉnh trên hình ảnh thực tế
HĐ3 (trang 42). Quan sát hình ảnh hai góc được đánh dấu trong hình bên (mặt bánh chưng với các dây lạt cắt nhau tại ). Em hãy nhận xét quan hệ về đỉnh, về cạnh của hai góc được đánh dấu.
O
Kiến thức cần nhớ
  • Hai góc đối đỉnh là hai góc mà mỗi cạnh của góc này là tia đối của một cạnh của góc kia.
  • Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau.
  • Hai góc kề bù có tổng số đo bằng .
  • Hai tia đối nhau là hai tia chung gốc và cùng nằm trên một đường thẳng, hướng về hai phía khác nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Lần này hai góc được đánh dấu nằm ở hai phía đối nhau qua tâm chứ không dính nhau — dấu hiệu của hai góc đối đỉnh chứ không phải kề bù. Việc cần làm là ghép từng cạnh của góc này với một cạnh của góc kia xem có tạo thành đường thẳng không. Bẫy là chỉ kiểm một cặp cạnh rồi kết luận vội, trong khi định nghĩa đòi cả hai cặp cạnh đều phải đối nhau.
1Cách 1. Ghép từng cặp cạnh theo định nghĩa

Định hướng. Với hai góc đối đỉnh, mỗi cạnh của góc này phải là tia đối của một cạnh của góc kia.

Hai góc được đánh dấu cùng có đỉnh là tâm
Cạnh nằm ngang của góc thứ nhất và cạnh nằm ngang của góc thứ hai cùng nằm trên một dây lạt, về hai phía của , nên là hai tia đối nhau
Cạnh chéo của góc thứ nhất và cạnh chéo của góc thứ hai cùng nằm trên một dây lạt khác, về hai phía của , nên cũng là hai tia đối nhau

Vậy hai góc được đánh dấu có chung đỉnh và mỗi cạnh của góc này là tia đối của một cạnh của góc kia, nên đó là hai góc đối đỉnh.

2Cách 2. Đo hai góc rồi so sánh

Định hướng. Nếu đúng là đối đỉnh thì hai góc phải bằng nhau; lấy thước đo góc kiểm chứng.

Các dây lạt chia mặt bánh thành phần bằng nhau, mỗi phần
Góc thứ nhất gồm phần:
Góc thứ hai gồm phần:

Vậy hai góc được đánh dấu bằng nhau, đúng với tính chất của hai góc đối đỉnh.

3Cách 3. Bắc cầu qua góc trung gian

Định hướng. Chen vào giữa một góc thứ ba kề bù với cả hai góc đang xét, rồi so sánh gián tiếp.

Gọi , là hai góc được đánh dấu và là góc nằm giữa chúng, phía dưới dây lạt ngang bên phải
(hai góc kề bù)
(hai góc kề bù)

Suy ra

Vậy hai góc đối đỉnh bằng nhau, và kết luận này không cần đo đạc gì cả.

Nhận xét. Lối bắc cầu ở Cách 3 chính là cách sách chứng minh tính chất «hai góc đối đỉnh thì bằng nhau» ở mục Tập suy luận trang 42.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: đề hỏi «quan hệ về đỉnh, về cạnh» nên phải trả lời bằng ngôn ngữ cạnh và tia đối, còn Cách 2 chỉ để kiểm lại cho chắc.
Đáp số. Hai góc được đánh dấu có chung đỉnh , mỗi cạnh của góc này là tia đối của một cạnh của góc kia, nên chúng là hai góc đối đỉnh và bằng nhau (cùng bằng ).
Sai lầm thường gặp. Lỗi hay gặp là chỉ thấy hai góc «nằm chéo nhau qua tâm» là kết luận đối đỉnh. Phản ví dụ: ở Hình 3.6a hai góc được đánh dấu cũng nằm hai bên đỉnh nhưng hai cạnh chếch xuống không đối nhau, và quả thật hai góc ấy không bằng nhau ().
🚀 Mở rộng. Trên mặt bánh có dây lạt đi qua tâm; hãy đếm xem tất cả có bao nhiêu cặp góc đối đỉnh được tạo thành từ các mảnh liền nhau.
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 42
Bài 6 · HĐ4★★Trang 42Dự đoán và kiểm chứng hai góc đối đỉnh bằng nhau
HĐ4 (trang 42). Cho hai đường thẳng cắt nhau tại (Hình 3.5).
a) Dự đoán xem hai góc có bằng nhau không.
b) Đo rồi so sánh số đo hai góc .
123xyx′y′O
Kiến thức cần nhớ
  • Hai góc đối đỉnh là hai góc mà mỗi cạnh của góc này là tia đối của một cạnh của góc kia.
  • Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau.
  • Hai góc kề bù có tổng số đo bằng .
  • Hai đường thẳng cắt nhau tại một điểm tạo thành bốn góc, chia thành hai cặp góc đối đỉnh.
🧠 Phân tích tư duy
Hai đường thẳng cắt nhau tại sinh ra bốn góc, trong đó nằm đối nhau qua — đúng hình mẫu của hai góc đối đỉnh. Đo là cách đề gợi ý, nhưng đo chỉ khẳng định được cho một hình cụ thể, còn muốn chắc chắn phải mượn góc thứ ba làm trung gian. Bẫy là ghép nhầm cặp: đối đỉnh với chứ không phải với .
1Cách 1. Dự đoán rồi đo bằng thước đo góc

Định hướng. Nhìn hình để dự đoán, sau đó dùng thước đo góc kiểm chứng đúng như đề yêu cầu.

a) Nhìn Hình 3.5, dự đoán
b) Đo được
Đo được

Vậy .

2Cách 2. Bắc cầu qua góc — không cần đo

Định hướng. Góc kề bù với cả hai góc đang xét, nên so sánh gián tiếp qua nó.

, ,
(hai góc kề bù, chung cạnh )
(hai góc kề bù, chung cạnh )

Suy ra

Vậy , đúng như dự đoán.

3Cách 3. Đặt ẩn cho số đo — thấy ngay kết quả không phụ thuộc hình vẽ

Định hướng. Gọi số đo góc là một chữ rồi lần lượt tính hai góc còn lại theo chữ ấy.

Gọi với
(kề bù với )
(kề bù với )

Vậy với mọi cách vẽ hai đường thẳng cắt nhau.

Nhận xét. Ba cách cho cùng một kết quả nhưng giá trị khác hẳn nhau: Cách 1 chỉ đúng cho hình đã vẽ, Cách 2 và Cách 3 đúng cho mọi hình — đó là lí do sách gọi mục này là «Tập suy luận».

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 2: chỉ hai dòng kề bù rồi trừ đi phần chung, không phụ thuộc vào độ chính xác của thước như Cách 1.
Đáp số. a) Dự đoán . b) Đo được cả hai góc cùng bằng nên .
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là ghép với rồi kết luận hai góc ấy bằng nhau. Phản ví dụ ngay trên hình: còn , hai góc này kề bù chứ không đối đỉnh, vì chúng có chung cạnh .
🚀 Mở rộng. Hai đường thẳng cắt nhau cho cặp góc đối đỉnh; hãy thử tính xem đường thẳng phân biệt cùng đi qua thì tạo ra bao nhiêu cặp góc đối đỉnh.
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 42
Bài 7 · Câu hỏi (Hình 3.6)★★Trang 42Nhận biết hai góc đối đỉnh qua hình vẽ
Câu hỏi (trang 42). Hai góc được đánh dấu trong hình nào dưới đây là hai góc đối đỉnh? (Hình 3.6a, 3.6b)
12Ma)12Nb)
Kiến thức cần nhớ
  • Hai góc đối đỉnh là hai góc mà mỗi cạnh của góc này là tia đối của một cạnh của góc kia.
  • Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau.
  • Hai đường thẳng cắt nhau tại một điểm tạo thành đúng hai cặp góc đối đỉnh.
  • Muốn có hai góc đối đỉnh thì cả bốn cạnh phải nằm trên đúng hai đường thẳng.
🧠 Phân tích tư duy
Cả hai hình đều có một đường thẳng nằm ngang đi qua đỉnh, nên cặp cạnh nằm ngang chắc chắn đối nhau; điều còn phải soi là cặp cạnh chếch. Ở đây có một mẹo loại rất nhanh: hai góc đối đỉnh chỉ sinh ra khi có ĐỦ hai đường thẳng cắt nhau, nên hình nào chỉ có một đường thẳng cộng thêm mấy tia rời thì loại ngay. Bẫy là hai góc ở hình a) trông cân đối hai bên đỉnh nên rất dễ bị chọn nhầm.
1Cách 1. Soi từng cặp cạnh theo định nghĩa

Định hướng. Ghép cạnh của góc này với cạnh của góc kia, xem có thành hai tia đối nhau không.

Hình 3.6a: hai góc chung đỉnh
Cạnh nằm ngang bên trái và cạnh nằm ngang bên phải là hai tia đối nhau
Hai cạnh chếch xuống đều nằm phía dưới đường thẳng ngang nên không đối nhau
Hình 3.6b: hai góc chung đỉnh
Cạnh nằm ngang bên trái và cạnh nằm ngang bên phải là hai tia đối nhau
Cạnh chếch xuống bên trái và cạnh chếch lên bên phải cùng nằm trên một đường thẳng, về hai phía của , nên là hai tia đối nhau

Vậy chỉ hai góc được đánh dấu ở Hình 3.6b là hai góc đối đỉnh.

2Cách 2. Đếm đường thẳng — loại hình chỉ có một đường thẳng

Định hướng. Hai góc đối đỉnh bắt buộc phải là hai trong bốn góc do hai đường thẳng cắt nhau tạo ra, nên đếm số đường thẳng trước.

Hình 3.6a: qua chỉ có một đường thẳng nằm ngang; hai nét chếch là hai tia rời nhau, không thẳng hàng
Số đường thẳng qua chỉ là , chưa đủ để sinh ra góc đối đỉnh
Hình 3.6b: qua có hai đường thẳng cắt nhau nên tạo ra góc và cặp đối đỉnh

Vậy Hình 3.6a bị loại, Hình 3.6b cho hai góc đối đỉnh.

3Cách 3. Loại bằng số đo — hai góc đối đỉnh thì phải bằng nhau

Định hướng. Đo hai góc được đánh dấu; hễ chúng khác nhau là chắc chắn không đối đỉnh.

Hình 3.6a: đo được hai góc là
nên hai góc này không đối đỉnh
Hình 3.6b: đo được hai góc cùng bằng , chưa mâu thuẫn nên giữ lại rồi kiểm tiếp bằng định nghĩa

Vậy chỉ Hình 3.6b cho hai góc đối đỉnh.

Nhận xét. Cách 3 chỉ dùng để LOẠI: hai góc bằng nhau chưa chắc đối đỉnh, phải quay về định nghĩa mới kết luận được.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 2: đếm đường thẳng qua đỉnh là thao tác nhanh và không sợ sai số của thước, sau đó viết lý do theo định nghĩa như Cách 1.
Đáp số. Hai góc được đánh dấu ở Hình 3.6b là hai góc đối đỉnh; Hình 3.6a thì không.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm phổ biến là chọn hình a) vì hai góc nằm «đối xứng» hai bên đỉnh . Phản ví dụ ngay trong hình a): hai cạnh chếch cùng nằm phía dưới đường thẳng ngang, chúng tạo với nhau một góc chứ không thẳng hàng, và hai góc được đánh dấu đo ra khác nên không thể đối đỉnh.
🚀 Mở rộng. Hãy vẽ một hình có hai góc bằng nhau, chung đỉnh, không có cạnh chung mà vẫn KHÔNG đối đỉnh — bài này cho thấy «bằng nhau» chỉ là hệ quả chứ không phải dấu hiệu.
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 42
Bài 8 · Luyện tập 2★★Trang 43Giải thích bốn góc tạo bởi hai đường thẳng vuông góc đều là góc vuông
Luyện tập 2 (trang 43). Hai đường thẳng cắt nhau tại sao cho góc vuông (Hình 3.8). Khi đó các góc , , cũng đều là góc vuông. Vì sao?
yx′xy′O
Kiến thức cần nhớ
  • Hai góc kề bù có tổng số đo bằng .
  • Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau.
  • Hai đường thẳng cắt nhau mà trong các góc tạo thành có một góc vuông thì được gọi là hai đường thẳng vuông góc.
  • Tổng số đo bốn góc tạo bởi hai đường thẳng cắt nhau tại một điểm bằng .
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho đúng một góc vuông và hỏi vì sao ba góc còn lại cũng vuông — dấu hiệu của dạng «lan truyền số đo quanh một điểm» bằng hai công cụ kề bù và đối đỉnh. Nên đi xen kẽ kề bù rồi đối đỉnh vì mỗi lần chỉ tốn một phép trừ. Bẫy là nói suông «vì hai đường thẳng vuông góc nên cả bốn góc vuông» mà không chỉ ra căn cứ cho từng góc.
1Cách 1. Xen kẽ kề bù rồi đối đỉnh

Định hướng. Từ góc vuông đã có, đi sang góc kề bù rồi bật sang góc đối đỉnh, mỗi bước chỉ một phép trừ.

(gt)
(hai góc kề bù)

(hai góc đối đỉnh)

(hai góc đối đỉnh)

Vậy .

2Cách 2. Đi vòng quanh chỉ bằng các cặp góc kề bù

Định hướng. Bốn góc xếp liên tiếp quanh , hai góc liền kề bất kì đều kề bù, nên chỉ cần lặp lại một phép trừ ba lần.

(hai góc kề bù, chung cạnh )

(hai góc kề bù, chung cạnh )

(hai góc kề bù, chung cạnh )

Vậy cả ba góc còn lại đều bằng .

3Cách 3. Dùng tổng bốn góc quanh điểm bằng

Định hướng. Gọi số đo góc chưa biết là một chữ, dùng hai cặp đối đỉnh để rút gọn rồi giải một phương trình duy nhất.

(hai góc đối đỉnh)
(hai góc đối đỉnh), gọi số đo chung là độ
Bốn góc , , , phủ kín quanh nên tổng bằng


Vậy .

Nhận xét. Ba cách đều dựa trên hai viên gạch duy nhất là kề bù và đối đỉnh; ai quen Cách 3 thì sau này gặp bài «bốn góc quanh một điểm» sẽ giải rất nhanh.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: mỗi góc có đúng một căn cứ rõ ràng đặt trong ngoặc, người chấm đọc là thấy ngay, mà chỉ mất ba dòng.
Đáp số. , tức là cả bốn góc tạo thành đều là góc vuông.
Sai lầm thường gặp. Lỗi hay gặp là chỉ ghi «vì nên bốn góc đều vuông» — đó chính là điều phải giải thích chứ không được dùng làm căn cứ. Một lỗi khác là gán với lý do «đối đỉnh»; phản ví dụ: hai góc này có chung cạnh nên chúng kề bù, nếu thì chứ không bằng nhau.
🚀 Mở rộng. Nếu thì ba góc còn lại bằng bao nhiêu? Tổng quát: bốn góc luôn là , , , , và chúng bằng nhau đúng khi .
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 43
Bài 9 · HĐ5Trang 43Tìm hiểu tia phân giác bằng cách gấp giấy
HĐ5 (trang 43). Cắt rời một góc từ một tờ giấy rồi gấp sao cho hai cạnh của góc trùng nhau (Hình 3.9). Mở mảnh giấy ra, nếp gấp cho ta hình ảnh tia chia góc ban đầu thành hai góc.
a) Em hãy nhận xét về vị trí của tia so với hai cạnh của góc .
b) Em hãy so sánh hai góc .
xyzO
Kiến thức cần nhớ
  • Tia nằm giữa hai cạnh của một góc và tạo với hai cạnh ấy hai góc bằng nhau được gọi là tia phân giác của góc đó.
  • Khi là tia phân giác của góc thì .
  • Nếu tia nằm giữa hai tia thì .
  • Nếu điểm nằm trong góc thì tia nằm giữa hai tia .
🧠 Phân tích tư duy
Phép gấp cho hai cạnh trùng khít nhau — dấu hiệu cho thấy nếp gấp là «trục» chia đôi góc, nên hai mảnh giấy hai bên nếp gấp phải chồng khít lên nhau. Trả lời câu a) trước rồi mới trả lời b), vì phải khẳng định nằm giữa thì mới được phép cộng hai góc thành góc . Bẫy là kết luận «nếp gấp chia đôi» chỉ dựa vào cảm giác mà quên nêu căn cứ là hai phần chồng khít nhau.
1Cách 1. Đọc thẳng từ phép gấp — hai phần chồng khít nhau

Định hướng. Khi gấp, cạnh đặt trùng lên cạnh ; hai mảnh giấy hai bên nếp gấp vì thế chồng khít, kéo theo hai góc bằng nhau.

a) Nếp gấp nằm hẳn bên trong tờ giấy hình góc nên tia nằm giữa hai tia
b) Khi gấp, cạnh trùng với cạnh và nếp gấp đứng yên
Phần giấy giới hạn bởi chồng khít lên phần giấy giới hạn bởi
Hai phần chồng khít thì hai góc tương ứng bằng nhau

Vậy tia nằm giữa hai tia , .

2Cách 2. Kiểm chứng bằng thước đo góc

Định hướng. Mở tờ giấy ra rồi đo lần lượt hai góc để thấy chúng bằng nhau.

Giả sử góc cắt ra có
Đo được
Đo được

Vậy , phù hợp với kết quả gấp giấy.

3Cách 3. Đặt ẩn cho hai góc rồi dùng phép cộng góc

Định hướng. Gọi số đo hai mảnh là hai chữ, viết điều kiện chồng khít và điều kiện cộng góc thành hai đẳng thức rồi rút ra kết quả tổng quát.

Gọi
Hai phần giấy chồng khít nên
Tia nằm giữa hai tia , nên

Vậy , tức là nếp gấp chia góc thành hai góc bằng nhau và mỗi góc bằng nửa góc ban đầu.

Nhận xét. Kết quả của Cách 3 chính là tính chất của tia phân giác dùng suốt về sau: biết cả góc thì chia đôi, biết nửa góc thì nhân đôi.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: đề hỏi về thao tác gấp giấy nên phải trả lời bằng lý do «hai phần chồng khít», còn Cách 3 để dành khi cần tính số đo cụ thể.
Đáp số. a) Tia nằm giữa hai tia . b) .
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là bỏ qua câu a) và viết ngay . Phản ví dụ: nếu tia nằm NGOÀI góc , chẳng hạn nằm phía bên kia với , thì chứ tổng hai góc không còn bằng nữa.
🚀 Mở rộng. Gấp tiếp một lần nữa để chia đôi góc : sau lần gấp, góc nhỏ nhất thu được bằng .
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 43
Bài 10 · Luyện tập 3★★Trang 44Tính số đo góc khi biết một nửa góc do tia phân giác tạo ra
Luyện tập 3 (trang 44). Cho góc có số đo bằng là tia phân giác của góc (Hình 3.12). Tính số đo góc .
xmyA65°
Kiến thức cần nhớ
  • Tia nằm giữa hai cạnh của một góc và tạo với hai cạnh ấy hai góc bằng nhau được gọi là tia phân giác của góc đó.
  • Khi là tia phân giác của góc thì .
  • Nếu tia nằm giữa hai tia thì .
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho nửa góc và hỏi cả góc — đây là chiều NGƯỢC của dạng tia phân giác quen thuộc, nên phải nhân đôi chứ không chia đôi. Trong ba lối đi thì cộng hai góc bằng nhau là tự nhiên nhất với học sinh lớp 7, còn dùng thẳng công thức thì gọn nhất. Bẫy lớn nhất là quán tính chia cho , ra .
1Cách 1. Cộng hai góc bằng nhau

Định hướng. Tia phân giác chia góc thành hai góc bằng nhau, cộng lại là ra cả góc.

là tia phân giác của góc (gt) nên

Tia nằm giữa hai tia nên

Vậy .

2Cách 2. Dùng thẳng tính chất tia phân giác

Định hướng. Áp dụng công thức rồi nhân đôi.

là tia phân giác của góc (gt) nên (tính chất tia phân giác)


Vậy .

3Cách 3. Đặt ẩn cho số đo góc rồi lập phương trình

Định hướng. Gọi số đo cần tìm là một chữ, viết điều kiện phân giác thành phương trình rồi giải.

Gọi độ, với
là tia phân giác của góc (gt) nên

Vậy .

Nhận xét. Có thể kiểm lại bằng thước đo góc: dựng rồi , đo góc ngoài cùng đúng .

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 2: một dòng công thức và một phép nhân là xong, ít chỗ sai nhất; Cách 1 dài hơn nhưng dễ giải thích khi phải trình bày kỹ.
Đáp số. .
Sai lầm thường gặp. Sai lầm điển hình là lấy vì thấy chữ «phân giác» là chia đôi. Phản ví dụ để nhớ: nếu chỉ bằng thì nửa của nó là chứ không thể bằng như đề cho, nên đáp số đó vô lý.
🚀 Mở rộng. Nếu thêm dữ kiện « là tia phân giác của góc » thì bằng bao nhiêu? Tổng quát: chia đôi liên tiếp lần cho góc .
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 44
Bài 11 · Thực hành★★Trang 44Vẽ tia phân giác của một góc cho trước
Thực hành (trang 44). Vẽ tia phân giác của góc có số đo bằng , sử dụng thước đo góc theo hướng dẫn.
xyzO34°34°
Kiến thức cần nhớ
  • Tia nằm giữa hai cạnh của một góc và tạo với hai cạnh ấy hai góc bằng nhau được gọi là tia phân giác của góc đó.
  • Khi là tia phân giác của góc thì .
  • Muốn vẽ tia phân giác của góc có số đo , ta vẽ tia nằm trong góc sao cho .
  • Hai điểm cách đều hai đầu của một đoạn thẳng thì nằm trên đường trung trực của đoạn thẳng đó.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho số đo cả góc và đòi dựng tia phân giác — dấu hiệu phải tính trước nửa góc rồi mới đặt thước, chứ không ướm bằng mắt. Vì chia hết cho nên đo góc là lối gọn nhất; nếu số đo lẻ thì compa hoặc gấp giấy lại lợi hơn. Bẫy là đặt vạch của thước không trùng cạnh , khiến tia vẽ ra lệch hẳn.
1Cách 1. Dùng thước đo góc theo đúng hướng dẫn của sách

Định hướng. Tính nửa số đo trước, rồi đánh dấu điểm ứng với vạch ấy và kẻ tia đi qua.

là tia phân giác của góc nên (tính chất tia phân giác)


Vẽ góc có số đo ; đặt thước đo góc sao cho tâm thước trùng và vạch nằm trên tia ; đánh dấu điểm ứng với vạch ; kẻ tia đi qua điểm đã đánh dấu

Vậy tia vừa dựng thoả mãn nên là tia phân giác của góc .

2Cách 2. Gấp giấy — không cần thước đo góc

Định hướng. Dùng lại đúng cách làm ở HĐ5: gấp cho hai cạnh trùng nhau, nếp gấp chính là tia phân giác.

Vẽ góc có số đo lên giấy rồi cắt rời phần giấy chứa góc đó
Gấp mảnh giấy sao cho cạnh trùng khít cạnh
Mở giấy ra, nếp gấp cho ta tia
Hai phần giấy hai bên nếp gấp chồng khít nên

Vậy nếp gấp là tia phân giác của góc .

3Cách 3. Dựng bằng thước thẳng và compa — chính xác cho mọi số đo

Định hướng. Lấy trên hai cạnh hai điểm cách đều , rồi tìm điểm cách đều hai điểm ấy; đường nối với điểm vừa tìm chia đôi góc.

Vẽ cung tròn tâm bán kính tuỳ ý, cắt tại và cắt tại

Vẽ hai cung tròn tâm và tâm có cùng bán kính đủ lớn, chúng cắt nhau tại điểm nằm trong góc

Hai điểm cùng cách đều , nên tia chia góc thành hai góc bằng nhau

Vậy tia chính là tia phân giác của góc .

Nhận xét. Cách 3 không phụ thuộc số đo nên vẫn dựng được tia phân giác của một góc bất kỳ, kể cả khi số đo là số lẻ như mà thước chia độ khó đọc chính xác.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1 vì đề yêu cầu rõ «sử dụng thước đo góc»; Cách 3 để dành cho bài dựng hình bằng thước và compa.
Đáp số. Tia nằm trong góc với .
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là đo tính từ cạnh nhưng lại đọc trên dãy số ngược của thước, tia vẽ ra ứng với và nằm hẳn ngoài góc. Phản ví dụ kiểm nhanh: nếu thì đã lớn hơn cả góc , vô lý vì phải nằm trong góc.
🚀 Mở rộng. Hãy vẽ tiếp tia phân giác của góc để được góc ; tổng quát, chia đôi liên tiếp lần cho góc .
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 44
Bài 12 · Vận dụng★★★Trang 45Bài toán thực tế về tia phân giác và cân thăng bằng
Vận dụng (trang 45). Quan sát hình vẽ bên. Đĩa cân bên trái có một quả cân kg và một quả cân chưa biết khối lượng; đĩa cân bên phải có một túi gạo kg và một hộp g. Quả cân chưa biết ở đĩa cân bên trái nặng bao nhiêu kilôgam để cân thăng bằng, tức là kim trên mặt đồng hồ của cân là tia phân giác của góc ?
1 kg?3,5 kg500 gABO
Kiến thức cần nhớ
  • Tia nằm giữa hai cạnh của một góc và tạo với hai cạnh ấy hai góc bằng nhau được gọi là tia phân giác của góc đó.
  • Khi là tia phân giác của góc thì .
  • Kim của cân là tia phân giác của góc đúng khi hai đĩa cân có khối lượng bằng nhau.
  • kg g; g kg.
🧠 Phân tích tư duy
Câu «kim là tia phân giác của góc » chỉ là cách nói hình học của điều kiện «hai đĩa cân nặng bằng nhau» — nhận ra điều đó là bài toán hình biến thành bài toán số học. Nên quy hết về cùng một đơn vị trước khi cộng, vì đề trộn kilôgam với gam. Bẫy chính là g: nhiều bạn cộng thẳng .
1Cách 1. Tính tổng khối lượng đĩa bên phải rồi trừ đi phần đã biết ở đĩa bên trái

Định hướng. Kim chỉ đúng giữa nghĩa là hai đĩa nặng bằng nhau, nên tổng hai bên phải khớp nhau.

Đĩa bên phải: kg và g kg
Tổng khối lượng đĩa bên phải: (kg)
Kim là tia phân giác của góc nên cân thăng bằng, hai đĩa nặng bằng nhau
Tổng khối lượng đĩa bên trái cũng bằng kg
Khối lượng quả cân chưa biết: (kg)

Vậy quả cân ở đĩa bên trái nặng kg.

2Cách 2. Đặt ẩn và lập phương trình, quy hết về gam

Định hướng. Gọi khối lượng cần tìm là một chữ rồi viết điều kiện cân bằng thành một đẳng thức; đổi hết sang gam để khỏi lẫn đơn vị.

Gọi là khối lượng quả cân chưa biết, đơn vị gam,
Đĩa bên trái: (g)
Đĩa bên phải: (g)
Cân thăng bằng nên

(g) kg

Vậy quả cân ở đĩa bên trái nặng kg.

3Cách 3. Thử và loại trừ

Định hướng. Chỉ có vài giá trị tròn hợp lý, thử từng giá trị xem đĩa nào nặng hơn thì kim lệch về phía đó.

Thử kg: đĩa trái nặng (kg), đĩa phải nặng kg, đĩa phải nặng hơn nên kim lệch sang phía
Thử kg: đĩa trái nặng (kg), đĩa phải nặng kg, đĩa trái nặng hơn nên kim lệch sang phía
Thử kg: đĩa trái nặng (kg), đĩa phải nặng kg, hai đĩa bằng nhau nên kim chỉ đúng giữa

Vậy chỉ kg làm kim trở thành tia phân giác của góc .

Nhận xét. Cách 3 tuy thô nhưng rất hữu ích để tự kiểm: chỉ cần thử một giá trị lớn hơn và một giá trị nhỏ hơn đáp số là thấy ngay kim lệch về hai phía khác nhau.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: chỉ hai phép tính, không phải đặt ẩn; nhưng phải nhớ đổi g kg ngay từ dòng đầu.
Đáp số. Quả cân chưa biết ở đĩa cân bên trái nặng kg.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm chết người là quên đổi đơn vị, viết rồi trả lời kg. Phản ví dụ để tự phát hiện: kg là nửa tấn, không thể đặt vừa trên một đĩa cân gia đình, nên đáp số đó chắc chắn sai.
🚀 Mở rộng. Nếu kim lệch hẳn về phía thì có thể nói gì về khối lượng quả cân chưa biết? Tổng quát: kim là tia phân giác đúng khi kg, lệch về khi kg và lệch về khi kg.
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 45
Bài 13 · 3.1Trang 45Kể tên các cặp góc kề bù trên hình vẽ
Bài 3.1 (trang 45). Cho Hình 3.13, hãy kể tên các cặp góc kề bù. (Hình 3.13a: hai tia , đối nhau và tia ; Hình 3.13b: tam giác có điểm nằm trên cạnh và đoạn thẳng .)
mnOxa)ABCMb)
Kiến thức cần nhớ
  • Hai góc có một cạnh chung, hai cạnh còn lại là hai tia đối nhau được gọi là hai góc kề bù.
  • Hai góc kề bù có tổng số đo bằng .
  • Mỗi tia gốc nằm giữa hai tia đối nhau sinh ra đúng một cặp góc kề bù.
  • Ba điểm thẳng hàng , , với nằm giữa cho hai tia đối nhau .
🧠 Phân tích tư duy
Mỗi hình đều có sẵn một đường thẳng và một tia thứ ba xuất phát từ một điểm trên đường thẳng ấy — đó chính là khuôn sinh ra góc kề bù. Cứ tìm cho ra đường thẳng và tia cắt nó, cặp kề bù hiện ra ngay, không cần đo. Bẫy ở hình b) là ba điểm , , thẳng hàng nhưng lại được vẽ như một cạnh tam giác nên dễ bị bỏ sót.
1Cách 1. Soi định nghĩa ở từng đỉnh

Định hướng. Tại mỗi đỉnh, tìm hai tia đối nhau rồi ghép với tia còn lại.

Hình 3.13a: là hai tia đối nhau, tia có chung gốc
có chung đỉnh , chung cạnh , hai cạnh còn lại , đối nhau
Hình 3.13b: nằm giữa nên , là hai tia đối nhau; tia có chung gốc
có chung đỉnh , chung cạnh , hai cạnh còn lại , đối nhau

Vậy Hình 3.13a có cặp góc kề bù ; Hình 3.13b có cặp góc kề bù .

2Cách 2. Đếm theo khuôn «đường thẳng và tia cắt»

Định hướng. Mỗi đường thẳng đi qua đỉnh cho một góc bẹt; mỗi tia thêm vào cắt đôi góc bẹt ấy thành đúng một cặp kề bù, nhờ vậy biết trước cần tìm bao nhiêu cặp.

Hình 3.13a: qua đường thẳng tia nên có cặp góc kề bù, đó là
Hình 3.13b: qua đường thẳng tia nên có cặp góc kề bù, đó là
Tại các đỉnh , , không có đường thẳng nào đi qua nên không sinh cặp nào

Vậy mỗi hình có đúng một cặp góc kề bù như đã kể.

3Cách 3. Kiểm lại bằng tổng số đo

Định hướng. Đo các góc rồi giữ lại những cặp có tổng đúng và có cạnh chung.

Hình 3.13a: đo được

Hình 3.13b: đo được

Vậy hai cặp góc kể trên đều có tổng số đo bằng và có cạnh chung, đúng là hai cặp góc kề bù.

Nhận xét. Ở hình b) còn nhiều cặp góc khác như , nhưng hai cạnh còn lại không đối nhau nên chúng chỉ kề nhau chứ không kề bù.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 2: chỉ cần chỉ đúng đường thẳng và tia cắt nó là biết ngay có bao nhiêu cặp, tránh vừa kể thiếu vừa kể thừa.
Đáp số. Hình 3.13a: . Hình 3.13b: .
Sai lầm thường gặp. Lỗi hay gặp ở hình b) là kể thêm cặp vì thấy chúng «kề nhau và ghép lại thành góc ». Phản ví dụ: hai cạnh còn lại là tạo thành góc của tam giác, rõ ràng không thẳng hàng, và tổng hai góc ấy chỉ bằng chứ không bằng .
🚀 Mở rộng. Nếu vẽ thêm một tia nữa ở Hình 3.13a thì có tất cả bao nhiêu cặp góc kề bù? Tổng quát: tia phân biệt nằm về một phía của đường thẳng cho cặp góc kề bù.
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 45
Bài 14 · 3.2Trang 45Kể tên các cặp góc đối đỉnh trên hình vẽ
Bài 3.2 (trang 45). Cho Hình 3.14, hãy kể tên các cặp góc đối đỉnh. (Hình 3.14a: hai đường thẳng cắt nhau tại ; Hình 3.14b: tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại .)
yxmtHa)ABCDOb)
Kiến thức cần nhớ
  • Hai góc đối đỉnh là hai góc mà mỗi cạnh của góc này là tia đối của một cạnh của góc kia.
  • Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau.
  • Hai đường thẳng cắt nhau tại một điểm tạo thành bốn góc và đúng hai cặp góc đối đỉnh.
  • Hai đoạn thẳng chỉ chung một đầu mút thì không tạo ra góc đối đỉnh.
🧠 Phân tích tư duy
Góc đối đỉnh chỉ mọc ra ở chỗ hai đường thẳng CẮT nhau, nên việc đầu tiên là khoanh cho đúng các điểm cắt. Ở mỗi điểm cắt luôn có đúng góc và đúng cặp đối đỉnh, nhờ con số ấy mà biết mình kể đủ hay chưa. Bẫy ở hình b) là các đỉnh , , , trông cũng «cắt nhau» nhưng ở đó chỉ có hai đoạn thẳng gặp nhau chứ không có hai đường thẳng.
1Cách 1. Soi định nghĩa ở từng điểm cắt

Định hướng. Với mỗi cặp góc, kiểm xem mỗi cạnh của góc này có là tia đối của một cạnh của góc kia không.

Hình 3.14a: hai đường thẳng cắt nhau tại
đối nhau; đối nhau
có các cạnh đôi một đối nhau
có các cạnh đôi một đối nhau
Hình 3.14b: hai đường thẳng chứa cắt nhau tại
đối nhau; đối nhau
có các cạnh đôi một đối nhau
có các cạnh đôi một đối nhau

Vậy Hình 3.14a có hai cặp với với ; Hình 3.14b có hai cặp với với .

2Cách 2. Đếm trước số cặp rồi mới kể tên

Định hướng. Mỗi điểm cắt của hai đường thẳng cho đúng cặp góc đối đỉnh, nên biết trước phải kể ra bao nhiêu cặp.

Hình 3.14a có điểm cắt là nên có cặp góc đối đỉnh
Bốn góc tại theo thứ tự vòng quanh là , , , ; ghép hai góc cách nhau một góc thì được với , và với
Hình 3.14b có điểm cắt là nên cũng có cặp
Bốn góc tại theo thứ tự vòng quanh là , , , ; ghép cách một được với , và với

Vậy mỗi hình có đúng hai cặp góc đối đỉnh, kể như trên.

3Cách 3. Quay nửa vòng quanh điểm cắt

Định hướng. Quay cả hình một nửa vòng quanh điểm cắt: góc nào chồng khít lên góc nào thì hai góc ấy đối đỉnh.

Quay Hình 3.14a nửa vòng quanh : tia chồng lên tia , tia chồng lên tia
Góc chồng khít góc , góc chồng khít góc
Quay Hình 3.14b nửa vòng quanh : tia chồng lên tia , tia chồng lên tia
Góc chồng khít góc , góc chồng khít góc

Vậy các cặp góc chồng khít nhau chính là các cặp góc đối đỉnh cần tìm.

Nhận xét. Phép quay nửa vòng còn giải thích luôn vì sao hai góc đối đỉnh bằng nhau: chúng chồng khít lên nhau nên buộc phải cùng số đo.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 2: đếm điểm cắt trước rồi ghép «cách một góc», nhờ vậy không bao giờ kể thiếu cặp thứ hai — lỗi mất điểm phổ biến nhất của bài này.
Đáp số. Hình 3.14a: ; . Hình 3.14b: ; .
Sai lầm thường gặp. Lỗi hay gặp là chỉ kể một cặp ở mỗi hình rồi dừng. Một lỗi khác ở hình b) là kể cặp vì thấy hai góc ấy «đối nhau» trong tứ giác; phản ví dụ: hai góc này có đỉnh khác nhau là , mà góc đối đỉnh bắt buộc phải chung đỉnh, nên chúng không thể đối đỉnh.
🚀 Mở rộng. Nếu vẽ thêm đường thẳng thứ ba qua ở Hình 3.14a thì số cặp góc đối đỉnh tăng lên bao nhiêu? Tổng quát: đường thẳng phân biệt cùng đi qua một điểm tạo ra cặp góc đối đỉnh «liền kề» và tổng cộng cặp góc đối đỉnh.
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 45
Bài 15 · 3.3★★Trang 45Vẽ hình rồi tính số đo góc bằng kề bù và tia phân giác
Bài 3.3 (trang 45). Vẽ góc có số đo bằng . Vẽ tia là tia đối của tia .
a) Viết tên hai góc kề bù có trong hình vừa vẽ.
b) Tính số đo góc .
c) Vẽ tia là tia phân giác của góc . Tính số đo các góc .
mxOyt30°30°
Kiến thức cần nhớ
  • Hai góc có một cạnh chung, hai cạnh còn lại là hai tia đối nhau được gọi là hai góc kề bù.
  • Hai góc kề bù có tổng số đo bằng .
  • Tia nằm giữa hai cạnh của một góc và tạo với hai cạnh ấy hai góc bằng nhau được gọi là tia phân giác của góc đó.
  • Khi là tia phân giác của góc thì .
  • Nếu tia nằm giữa hai tia thì .
🧠 Phân tích tư duy
Đề dựng dần hình theo ba bước và mỗi bước lại thêm một công cụ: tia đối cho góc kề bù, tia phân giác cho phép chia đôi. Nên vẽ hình chuẩn trước rồi mới tính, vì nhìn hình là biết ngay tia nào nằm giữa tia nào. Bẫy ở câu c) là góc không kề bù với góc mà kề bù với góc — ghép nhầm là ra thành .
1Cách 1. Kề bù, rồi phân giác, rồi cộng góc

Định hướng. Đi tuần tự theo đúng thứ tự đề dựng hình: có tia đối thì dùng kề bù, có phân giác thì chia đôi, rồi cộng hai góc liền nhau.

a) là hai tia đối nhau (gt) nên là hai góc kề bù
b) (hai góc kề bù)


c) là tia phân giác của góc (gt) nên (tính chất tia phân giác)

Tia nằm giữa hai tia nên

Vậy , , .

2Cách 2. Quy hết về góc bẹt rồi trừ

Định hướng. Coi là một góc bẹt ; mỗi tia vẽ thêm chỉ việc lấy trừ đi phần bên trái là ra phần bên phải.

là hai tia đối nhau (gt) nên (góc bẹt)


(tính chất tia phân giác)

Vậy , , .

3Cách 3. Đặt ẩn cho nửa góc rồi lập phương trình

Định hướng. Gọi nửa góc là một chữ, viết cả hai điều kiện phân giác và kề bù thành phương trình rồi giải một lượt.

Gọi độ,
là tia phân giác của góc (gt) nên


kề bù nên độ

kề bù nên

Vậy , , .

Nhận xét. Vẽ hình đúng tỉ lệ rồi đo lại bằng thước đo góc là cách kiểm nhanh nhất: ba số đo phải là , , và tổng .

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 2: mọi phép tính đều là trừ đi một số đã biết nên rất khó sai, không phải xét xem tia nào nằm giữa tia nào như Cách 1.
Đáp số. a) Hai góc kề bù là . b) . c) .
Sai lầm thường gặp. Lỗi phổ biến ở câu c) là viết nhưng lại giải thích bằng « kề bù». Phản ví dụ cho thấy lý do đó sai: hai góc có chung cạnh , hai cạnh còn lại là lại tạo với nhau góc chứ không đối nhau, nên chúng không kề bù; số đúng nhưng phải lấy từ cặp .
🚀 Mở rộng. Vẽ thêm tia là tia đối của tia rồi tính . Tổng quát: nếu thì , .
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 45
Bài 16 · 3.4Trang 45Tính số đo góc kề bù khi biết góc còn lại
Bài 3.4 (trang 45). Cho Hình 3.15a, biết . Tính số đo góc . (Trong Hình 3.15a, điểm nằm giữa , tia nằm phía trên đường thẳng .)
AMBD45°
Kiến thức cần nhớ
  • Hai góc có một cạnh chung, hai cạnh còn lại là hai tia đối nhau được gọi là hai góc kề bù.
  • Hai góc kề bù có tổng số đo bằng .
  • Hai góc phụ nhau có tổng số đo bằng , khác hẳn hai góc bù nhau.
  • Nếu tia nằm giữa hai tia thì .
🧠 Phân tích tư duy
Điểm nằm giữa nên là hai tia đối nhau — đọc được câu đó là bài coi như xong, chỉ còn một phép trừ. Không cần đo vì góc đã cho là số tròn. Bẫy duy nhất là nhầm kề bù với phụ nhau, lấy .
1Cách 1. Dùng tính chất hai góc kề bù

Định hướng. Chỉ ra cặp kề bù rồi lấy trừ đi góc đã cho.

nằm giữa nên là hai tia đối nhau
có chung đỉnh , chung cạnh , hai cạnh còn lại , đối nhau nên chúng kề bù
(hai góc kề bù)

Vậy .

2Cách 2. Đặt ẩn rồi lập phương trình

Định hướng. Gọi số đo cần tìm là một chữ và viết điều kiện kề bù thành một đẳng thức.

Gọi là số đo góc , đơn vị là độ,
kề bù nên

Vậy .

3Cách 3. Kẻ thêm tia vuông góc để bắc cầu

Định hướng. Dựng tia vuông góc với về phía chứa ; tia này chia góc thành hai phần dễ tính.

Kẻ tia thuộc nửa mặt phẳng chứa và vuông góc với tại

Tia nằm giữa hai tia nên

Tia nằm giữa hai tia nên

Vậy .

Nhận xét. Cách 3 dài hơn nhưng dạy một thói quen quý: khi chưa nhớ tính chất nào đó, kẻ thêm một tia vuông góc để cắt bài toán thành những mảnh đã biết.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: một dòng căn cứ «hai góc kề bù» rồi một phép trừ, ngắn nhất và đủ điểm; Cách 3 chỉ nên dùng khi đề đòi giải thích thật kỹ.
Đáp số. .
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là lấy do lẫn giữa hai góc phụ nhau và hai góc bù nhau. Phản ví dụ để tự phát hiện: nếu thì , trong khi hai góc này ghép lại đúng bằng góc bẹt , mâu thuẫn.
🚀 Mở rộng. Nếu thêm là tia phân giác của góc thì bằng bao nhiêu? Tổng quát: cho .
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 45
Bài 17 · 3.5★★Trang 45Tính ba góc còn lại khi hai đường thẳng cắt nhau
Bài 3.5 (trang 45). Cho Hình 3.15b, biết . Tính số đo các góc còn lại trong hình vẽ. (Trong Hình 3.15b, hai đường thẳng cắt nhau tại .)
yxmnB36°
Kiến thức cần nhớ
  • Hai góc kề bù có tổng số đo bằng .
  • Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau.
  • Hai góc đối đỉnh là hai góc mà mỗi cạnh của góc này là tia đối của một cạnh của góc kia.
  • Bốn góc tạo bởi hai đường thẳng cắt nhau có tổng số đo bằng .
🧠 Phân tích tư duy
Hai đường thẳng cắt nhau tại cho đúng bốn góc, biết một góc là suy ra ba góc còn lại — dấu hiệu để dùng ngay cặp đôi kề bù và đối đỉnh. Lối ngắn nhất là dùng đối đỉnh trước để chép ngay một góc bằng , rồi chỉ phải trừ một lần. Bẫy là ghép với rồi cho rằng chúng kề bù, trong khi hai góc ấy đối đỉnh và bằng nhau.
1Cách 1. Đi vòng quanh bằng ba lần kề bù

Định hướng. Bốn góc xếp liên tiếp quanh ; hai góc liền nhau bất kì đều kề bù nên cứ lấy trừ đi góc trước là ra góc sau.

(hai góc kề bù, chung cạnh )

(hai góc kề bù, chung cạnh )

(hai góc kề bù, chung cạnh )

Vậy , , .

2Cách 2. Dùng hai góc đối đỉnh làm lối tắt

Định hướng. Chép ngay góc đối đỉnh với góc đã cho, sau đó chỉ cần một phép trừ duy nhất là xong cả hai góc còn lại.

(hai góc đối đỉnh)

(hai góc kề bù)

(hai góc đối đỉnh)

Vậy .

3Cách 3. Dùng tổng bốn góc quanh điểm bằng

Định hướng. Gọi góc chưa biết là một chữ, dùng hai cặp đối đỉnh để chỉ còn một ẩn rồi giải phương trình.

(hai góc đối đỉnh)
(hai góc đối đỉnh), gọi số đo chung là độ
Bốn góc , , , phủ kín quanh nên tổng bằng


Vậy .

Nhận xét. Ba cách cho cùng kết quả nhưng Cách 2 chỉ tốn một phép trừ, còn Cách 1 tốn ba — khác biệt đó càng rõ khi bài có nhiều đường thẳng cùng cắt nhau.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 2: chỉ một phép trừ duy nhất nên gần như không thể sai số, mỗi dòng lại có sẵn căn cứ đối đỉnh hoặc kề bù đặt trong ngoặc.
Đáp số. , , .
Sai lầm thường gặp. Lỗi hay gặp là viết vì tưởng kề bù. Phản ví dụ: hai góc này không có cạnh nào chung ( có cạnh , ; có cạnh , ) nên không thể kề nhau; chúng là hai góc đối đỉnh nên phải BẰNG nhau, tức .
🚀 Mở rộng. Nếu vẽ thêm đường thẳng thứ ba đi qua và tạo với góc thì có bao nhiêu góc mới và bao nhiêu cặp đối đỉnh? Tổng quát: bốn góc luôn là , , , .
Nguồn: SGK Toán 7 — KNTT, tập 1, trang 45