Bài 1 · Mở đầu★★Trang 48— Ghép bốn tứ giác bằng nhau quanh một điểm chung
Mở đầu (trang 48). Cắt bốn tứ giác như nhau bằng giấy rồi đánh số bốn góc của mỗi tứ giác như tứ giác ABCD trong Hình 3.1a. Ghép bốn tứ giác giấy đó để được hình như Hình 3.1b. – Em có thể ghép bốn tứ giác khít nhau như vậy không? – Em có nhận xét gì về bốn góc tại điểm chung của bốn tứ giác? Hãy cho biết tổng số đo của bốn góc đó.
Kiến thức cần nhớ
Tổng ba góc trong một tam giác bằng 180∘.
Các góc không chồng lên nhau và phủ kín quanh một điểm có tổng bằng 360∘.
Phép quay nửa vòng quanh trung điểm một đoạn thẳng đổi chỗ hai đầu mút của đoạn thẳng đó.
🧠 Phân tích tư duy
Đề không cho một số đo nào, chỉ cho bốn mảnh giấy giống hệt nhau — đó là dấu hiệu của bài thực nghiệm dẫn tới định lí: thứ phải tìm là TỔNG bốn góc chứ không phải từng góc. Nhìn vào điểm chung là ra ngay hướng đi, vì quanh một điểm luôn có 360∘, mà bốn góc phủ kín quanh điểm đó lại đúng là bốn góc 1, 2, 3, 4 của một tứ giác. Bẫy của đề nằm ở chỗ tưởng bốn mảnh giống nhau thì xoay kiểu gì cũng khít; thật ra phải xoay sao cho ở điểm chung có đủ mỗi số một góc, chụm hai góc cùng số vào đó là hở hoặc chồng ngay.
1Cách 1. Cắt ghép thật rồi quan sát điểm chung
Định hướng. Làm đúng như đề: cắt bốn tứ giác bằng nhau, đánh số 1, 2, 3, 4 rồi xoay từng mảnh sao cho bốn số KHÁC NHAU chụm về một điểm.
Bốn góc chụm tại điểm chung lần lượt là A, B, C, D (mỗi mảnh góp đúng một góc) Bốn góc đó không chồng lên nhau và phủ kín quanh điểm chung (quan sát Hình 3.1b) A+B+C+D=360∘ (tổng các góc quanh một điểm)
Vậy ghép được khít; bốn góc tại điểm chung là bốn góc khác nhau của tứ giác và tổng số đo của chúng bằng 360∘.
2Cách 2. Chỉ rõ phép xoay: quay nửa vòng quanh trung điểm mỗi cạnh
Định hướng. Nêu cách xoay cụ thể để khẳng định hai mảnh kề nhau khít dọc theo cạnh chung, không hở cũng không chồng.
Quay mảnh thứ nhất nửa vòng quanh trung điểm cạnh AB: đỉnh B về đúng đỉnh A, cạnh AB giữ nguyên Tại A hai mảnh góp A và B, kề nhau dọc cạnh AB Quay mảnh thứ nhất nửa vòng quanh trung điểm cạnh AD: đỉnh D về đúng đỉnh A, góp thêm D kề dọc cạnh AD Đặt mảnh thứ tư cho đỉnh C trùng A, khe còn lại được lấp bởi C A+B+C+D=360∘ (bốn góc phủ kín quanh điểm A)
Vậy bốn mảnh ghép khít quanh A; tổng bốn góc tại điểm chung bằng 360∘.
3Cách 3. Kẻ một đường chéo, đưa về tổng ba góc trong tam giác
Định hướng. Khỏi cần cắt giấy: chia tứ giác thành hai tam giác thì tổng bốn góc lộ ra ngay.
Kẻ đường chéo AC, tứ giác ABCD được chia thành hai tam giác ABC và ACD BAC+B+BCA=180∘ (tổng ba góc trong tam giác ABC) CAD+D+ACD=180∘ (tổng ba góc trong tam giác ACD) A=BAC+CAD và C=BCA+ACD (tia AC nằm giữa) A+B+C+D=180∘+180∘=360∘
Vậy tổng bốn góc của tứ giác bằng 360∘, đúng bằng tổng các góc quanh một điểm nên bốn mảnh ghép khít.
Nhận xét. Cách 1 và Cách 2 cho thấy điều đó có thật bằng giấy, còn Cách 3 mới là lời chứng minh; chính Cách 3 sẽ được viết lại thành định lí ở trang 50.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 3: chỉ hai dòng, không lệ thuộc vào việc cắt dán và dùng lại được cho mọi tứ giác; Cách 1 chỉ hợp để giải thích trực quan chứ chưa phải chứng minh.
Đáp số.Ghép được khít. Bốn góc tại điểm chung chính là bốn góc của tứ giác, mỗi góc một cái, và tổng số đo của chúng bằng 360∘.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm nặng nhất là nhớ nhầm tổng các góc của tứ giác bằng 180∘ vì lẫn với tam giác. Phản ví dụ: hình chữ nhật có bốn góc vuông, tổng là 4⋅90∘=360∘ chứ không phải 180∘. Sai lầm thứ hai là xoay các mảnh cho hai góc CÙNG SỐ chụm vào điểm chung: khi ấy tổng bốn góc ở đó là 2A+2B, chẳng hạn tứ giác có A=60∘, B=80∘ thì tổng chỉ là 280∘, còn hở một khe 80∘.
🚀 Mở rộng.Thử thay bốn tứ giác bằng ba lục giác đều: mỗi góc là 120∘ nên ba góc chụm lại vừa đúng 360∘ — hãy tìm xem còn đa giác đều nào lát kín được mặt phẳng theo kiểu ấy.
Bài 2 · Câu hỏi★Trang 49— Gọi tên tứ giác có bốn đỉnh cho trước
Câu hỏi (trang 49). Cho bốn điểm E, F, G, H (Hình 3.3). Kể tên một tứ giác có các đỉnh là bốn điểm đã cho.
Kiến thức cần nhớ
Tứ giác ABCD là hình gồm bốn đoạn thẳng AB, BC, CD, DA trong đó không có hai đoạn thẳng nào nằm trên cùng một đường thẳng.
Tên tứ giác đọc theo đúng thứ tự các đỉnh gặp khi đi dọc bốn cạnh.
Tứ giác lồi là tứ giác mà hai đỉnh thuộc một cạnh bất kì luôn nằm về một phía của đường thẳng đi qua hai đỉnh còn lại.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho bốn điểm rời và bắt gọi TÊN một tứ giác — dấu hiệu của bài kiểm tra định nghĩa: tứ giác là hình gồm bốn đoạn thẳng nối liên tiếp bốn điểm, chỉ cần không có hai đoạn nào nằm trên cùng một đường thẳng. Hướng an toàn nhất là đi vòng quanh theo mép ngoài của bốn điểm, vì khi đó chắc chắn được một tứ giác lồi, dễ nhìn và dùng được cho mọi bài sau. Bẫy ở chỗ tên tứ giác phải ghi theo đúng thứ tự nối, nên viết EFGH theo thói quen chữ cái là ra một hình khác hẳn.
1Cách 1. Nối vòng theo mép ngoài
Định hướng. Đi vòng quanh bốn điểm theo mép ngoài thì bốn đoạn nối liên tiếp không cắt nhau, cho ngay một tứ giác lồi.
Đi vòng quanh bốn điểm theo mép ngoài, thứ tự gặp là E, G, F, H Nối liên tiếp được bốn đoạn EG, GF, FH, HE Không có hai đoạn nào nằm trên cùng một đường thẳng (bốn điểm không có ba điểm nào thẳng hàng)
VậyEGFH là một tứ giác, hơn nữa đó là tứ giác lồi.
2Cách 2. Chọn trước một đường chéo rồi ghép hai đỉnh còn lại
Định hướng. Trong tứ giác, hai đỉnh đối nhau nối thành đường chéo; chọn đoạn nằm hẳn bên trong làm đường chéo thì hai đỉnh còn lại tự khắc về hai phía.
Đoạn GH nằm bên trong, lấy GH làm một đường chéo Hai điểm E và F nằm về hai phía của đường thẳng GH Hai đỉnh đối nhau còn lại là E và F, nên thứ tự các đỉnh là E, G, F, H
Vậy được tứ giác EGFH với hai đường chéo EF và GH.
3Cách 3. Liệt kê đủ mọi cách ghép rồi chọn
Định hướng. Bốn điểm chỉ cho đúng ba cách ghép thành tứ giác, liệt kê hết rồi chọn cái đẹp nhất.
Ba cách ghép bốn điểm thành tứ giác là EFGH, EFHG, EGFH EFGH và EFHG có hai cạnh cắt nhau (dạng như Hình 3.2c) EGFH có bốn cạnh không cắt nhau
Vậy cả ba đều là tứ giác theo định nghĩa, trong đó EGFH là tứ giác lồi.
Nhận xét. Từ nay khi nói tứ giác mà không chú thích gì thêm thì hiểu đó là tứ giác lồi, nên câu trả lời nên chọn EGFH.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: nhìn mép ngoài rồi đọc tên, chỉ mất vài giây và luôn cho tứ giác lồi; Cách 3 dành cho lúc đề hỏi 'có bao nhiêu tứ giác'.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là ghi tên theo thứ tự chữ cái EFGH mà không nhìn hình, rồi lại khẳng định đó là tứ giác lồi. Phản ví dụ: với vị trí bốn điểm ở Hình 3.3, nối E→F→G→H thì hai cạnh cắt nhau, hình thu được giống Hình 3.2c — vẫn là tứ giác nhưng KHÔNG lồi. Sai lầm thứ hai là nghĩ bốn điểm cho ta 4!=24 tứ giác khác nhau; thật ra mỗi tứ giác được gọi bằng 8 tên nên chỉ có 3 tứ giác.
🚀 Mở rộng.Với 5 điểm mà không có ba điểm nào thẳng hàng thì ghép được bao nhiêu ngũ giác khác nhau — hãy dùng lập luận 'mỗi hình có 10 tên' để trả lời.
Bài 3 · Luyện tập 1★Trang 49— Nhận biết đường chéo, cạnh đối, góc đối của tứ giác
Luyện tập 1 (trang 49 – 50). Quan sát tứ giác ABCD trong Hình 3.4. – Hai đỉnh không cùng thuộc một cạnh gọi là hai đỉnh đối nhau. Đoạn thẳng nối hai đỉnh đối nhau là một đường chéo, chẳng hạn AC là một đường chéo. Kể tên đường chéo còn lại. – Cặp cạnh AB, CD là cặp cạnh đối. Chỉ ra cặp cạnh đối còn lại. – Cặp góc A, C là cặp góc đối. Hãy kể tên cặp góc đối còn lại.
Kiến thức cần nhớ
Trong tứ giác ABCD: các điểm A, B, C, D là các đỉnh; các đoạn thẳng AB, BC, CD, DA là các cạnh.
Hai đỉnh không cùng thuộc một cạnh là hai đỉnh đối nhau; đoạn nối hai đỉnh đối nhau là một đường chéo.
Trong một tứ giác, hai đường chéo cắt nhau tại một điểm nằm giữa mỗi đường.
🧠 Phân tích tư duy
Cả ba ý đều xoay quanh một chữ 'đối', nên việc đầu tiên là chốt cho đúng nghĩa: hai đỉnh đối nhau là hai đỉnh KHÔNG cùng thuộc một cạnh. Hướng gọn nhất là đọc dãy A, B, C, D theo vòng rồi lấy hai chữ cách nhau một chữ, khỏi phải nhìn hình. Bẫy của bài nằm ở chữ 'cạnh đối': AB và BC trông cũng như một cặp nhưng chúng chung đỉnh B nên là hai cạnh KỀ nhau, không phải cạnh đối.
1Cách 1. Dùng thẳng định nghĩa 'không cùng thuộc một cạnh'
Định hướng. Viết ra bốn cạnh rồi soi xem cặp đỉnh nào không cùng nằm trên một cạnh nào cả.
Bốn cạnh của tứ giác là AB, BC, CD, DA B và D không cùng thuộc cạnh nào (định nghĩa hai đỉnh đối nhau) Đường chéo còn lại là BD BC và AD không có đỉnh chung nên là một cặp cạnh đối B và D là góc tại hai đỉnh đối nhau B và D
Vậy đường chéo còn lại là BD; cặp cạnh đối còn lại là BC và AD; cặp góc đối còn lại là B và D.
2Cách 2. Đọc theo vòng A, B, C, D — lấy hai chữ cách nhau một chữ
Định hướng. Xếp bốn đỉnh thành vòng thì 'đối nhau' chính là 'cách nhau một đỉnh', khỏi cần nhìn hình.
Vòng các đỉnh: A→B→C→D→A Cách nhau một đỉnh: cặp (A;C) và cặp (B;D) Đề đã cho đường chéo AC, còn lại đường chéo BD Cạnh đối là hai cạnh cách nhau một cạnh: (AB;CD) và (BC;DA) Góc đối là góc tại hai đỉnh đối nhau: (A;C) và (B;D)
VậyBD; cặp cạnh BC và AD; cặp góc B và D.
3Cách 3. Loại trừ — gạch hết cái đã dùng
Định hướng. Mỗi loại chỉ có đúng hai cặp; đề đã cho một cặp nên cái còn lại là duy nhất.
Số đoạn nối hai đỉnh của tứ giác là 6; trong đó 4 đoạn là cạnh 6−4=2 nên tứ giác có đúng 2 đường chéo, đề cho AC, còn lại BD Bốn cạnh chia thành 2 cặp cạnh đối, đề cho (AB;CD), còn lại (BC;AD) Bốn góc chia thành 2 cặp góc đối, đề cho (A;C), còn lại (B;D)
Vậy đường chéo BD; cặp cạnh đối BC và AD; cặp góc đối B và D.
Nhận xét. Trên Hình 3.4 hai đường chéo AC và BD cắt nhau tại một điểm nằm giữa mỗi đường — đó là dấu hiệu quen thuộc của tứ giác lồi.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 2: chỉ cần đọc vòng A, B, C, D và lấy hai chữ cách nhau một chữ, làm được cả ba ý trong một dòng mà không sợ nhìn nhầm hình.
Đáp số.Đường chéo còn lại là BD; cặp cạnh đối còn lại là BC và AD; cặp góc đối còn lại là B và D.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là gọi AB và BC là cặp cạnh đối. Phản ví dụ: hai cạnh này cùng đi qua đỉnh B, tức là có đỉnh chung, nên chúng là hai cạnh KỀ nhau; cặp cạnh đối phải không có đỉnh chung. Sai lầm thứ hai là coi AC là một cạnh của tứ giác, từ đó kết luận tứ giác có 5 cạnh; AC chỉ là đường chéo, tứ giác luôn có đúng 4 cạnh.
🚀 Mở rộng.Trong ngũ giác ABCDE, mỗi đỉnh nối được với hai đỉnh không kề — hãy đếm xem ngũ giác có bao nhiêu đường chéo và tổng quát cho đa giác n đỉnh.
Bài 4 · HĐ★★Trang 50— Chứng minh tổng các góc của một tứ giác bằng 360 độ
HĐ (trang 50). Cho tứ giác ABCD. Kẻ đường chéo BD (H.3.5). Vận dụng định lí về tổng ba góc trong một tam giác đối với các tam giác ABD và CBD, tính tổng A+B+C+D của tứ giác ABCD.
Kiến thức cần nhớ
Tổng ba góc trong một tam giác bằng 180∘.
Nếu tia Oz nằm giữa hai tia Ox, Oy thì xOy=xOz+zOy.
Định lí. Tổng các góc của một tứ giác bằng 360∘.
🧠 Phân tích tư duy
Đề tự tay kẻ sẵn đường chéo BD và nhắc tới hai tam giác ABD, CBD — đó là chỉ dẫn thẳng: chuyển bài toán về tứ giác thành bài toán về hai tam giác đã biết tổng ba góc. Hướng này ngắn vì A và C giữ nguyên, chỉ có B và D bị đường chéo chia đôi rồi cộng lại đúng như cũ. Bẫy ở chỗ phải nêu được B=B1+B2; nếu tứ giác không lồi thì BD có thể nằm ngoài hình và đẳng thức đó hỏng.
1Cách 1. Kẻ đường chéo BD như đề chỉ dẫn
Định hướng. Đường chéo BD cắt tứ giác thành hai tam giác; cộng hai lần 180∘ rồi gom các góc lại.
A+B1+D1=180∘ (tổng ba góc trong tam giác ABD) C+B2+D2=180∘ (tổng ba góc trong tam giác CBD) A+C+(B1+B2)+(D1+D2)=360∘ B1+B2=B và D1+D2=D (tia BD nằm giữa) A+B+C+D=360∘
Vậy tổng các góc của tứ giác ABCD bằng 360∘.
2Cách 2. Lấy một điểm trong tứ giác, chia thành bốn tam giác
Định hướng. Nối một điểm trong với bốn đỉnh được bốn tam giác; phần thừa đúng bằng các góc quanh điểm đó nên trừ đi là xong.
Lấy điểm O nằm trong tứ giác, nối OA, OB, OC, OD Được bốn tam giác OAB, OBC, OCD, ODA Tổng các góc của bốn tam giác là 4⋅180∘=720∘ Tổng các góc tại đỉnh O là 360∘ (các góc quanh một điểm) A+B+C+D=720∘−360∘=360∘
Vậy tổng các góc của tứ giác bằng 360∘.
3Cách 3. Ghép bốn tứ giác bằng nhau quanh một điểm
Định hướng. Dùng lại cách ghép ở bài toán mở đầu: bốn góc của tứ giác phủ vừa kín quanh một điểm.
Quay tứ giác nửa vòng quanh trung điểm cạnh AB: đỉnh B về A, góp B vào đỉnh A Quay tứ giác nửa vòng quanh trung điểm cạnh AD: đỉnh D về A, góp D vào đỉnh A Tịnh tiến tứ giác theo vectơ đưa C về A, góp C vào đỉnh A Bốn góc A, B, C, D kề nhau và phủ kín quanh A A+B+C+D=360∘
Vậy tổng các góc của tứ giác bằng 360∘.
Nhận xét. Cách 2 dùng được cho mọi đa giác: chia n-giác thành n tam giác rồi trừ 360∘, ta được tổng các góc là (n−2)⋅180∘.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: đúng gợi ý của đề, chỉ có hai dòng tổng ba góc rồi cộng lại, gần như không thể sai; Cách 2 để dành khi bài hỏi tổng các góc của đa giác nhiều cạnh.
Đáp số.A+B+C+D=360∘.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là ghi ngay A+B+C+D=180∘ vì quen với tam giác. Phản ví dụ: hình vuông có bốn góc 90∘, tổng là 360∘. Sai lầm thứ hai là quên nêu B=B1+B2: nếu tứ giác KHÔNG lồi, chẳng hạn tứ giác dạng Hình 3.2b, thì đường chéo BD có thể nằm ngoài hình và đẳng thức cộng góc ấy không còn đúng, nên lời giải chỉ chuẩn với tứ giác lồi.
🚀 Mở rộng.Cùng cách chia tam giác, hãy tính tổng các góc của ngũ giác và của lục giác, rồi kiểm lại bằng công thức (n−2)⋅180∘.
Bài 5 · Luyện tập 2★Trang 50— Tính một góc của tứ giác khi biết ba góc còn lại
Luyện tập 2 (trang 50). Cho tứ giác EFGH như Hình 3.7. Hãy tính góc F.
Kiến thức cần nhớ
Tổng các góc của một tứ giác bằng 360∘.
Kí hiệu ô vuông ở một đỉnh nghĩa là góc tại đỉnh đó bằng 90∘.
Trong tam giác vuông, hai góc nhọn phụ nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Hình cho hai ô vuông góc tại E và G cùng số đo H=55∘ — biết ba góc, hỏi góc thứ tư, đúng dạng áp dụng trực tiếp định lí tổng các góc của tứ giác. Hướng này ngắn nhất vì chỉ còn một phép trừ. Bẫy của đề là ô vuông góc không ghi số: phải tự đọc ra E=G=90∘ rồi mới cộng, quên một trong hai là hụt mất 90∘.
1Cách 1. Dùng định lí tổng các góc của tứ giác
Định hướng. Đọc ba góc đã biết từ hình rồi lấy 360∘ trừ đi.
E=G=90∘ (kí hiệu ô vuông góc trên hình) H=55∘ (gt) E+F+G+H=360∘ (tổng các góc của tứ giác) F=360∘−(90∘+90∘+55∘) F=360∘−235∘=125∘
VậyF=125∘.
2Cách 2. Kẻ đường chéo HF, tách thành hai tam giác vuông
Định hướng. Đường chéo HF nối hai đỉnh còn lại cắt tứ giác thành hai tam giác vuông tại E và tại G; trong tam giác vuông hai góc nhọn phụ nhau.
Kẻ đường chéo HF, được tam giác HEF vuông tại E và tam giác HGF vuông tại G EFH=90∘−EHF (hai góc nhọn của tam giác vuông HEF) GFH=90∘−GHF (hai góc nhọn của tam giác vuông HGF) F=EFH+GFH=180∘−(EHF+GHF) EHF+GHF=H=55∘ (tia HF nằm giữa) F=180∘−55∘=125∘
VậyF=125∘.
3Cách 3. Đặt ẩn rồi lập phương trình
Định hướng. Gọi số đo góc cần tìm là x rồi viết điều kiện tổng bốn góc thành một phương trình bậc nhất.
Gọi x là số đo của F, đơn vị độ, điều kiện 0<x<180 90+x+90+55=360 (tổng các góc của tứ giác) x+235=360 x=360−235 x=125 (thoả mãn điều kiện)
VậyF=125∘.
Nhận xét. Cách 2 cho luôn một kết quả đẹp: tứ giác có hai góc đối vuông thì hai góc còn lại bù nhau, tức F+H=180∘.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: một dòng cộng, một dòng trừ là xong; Cách 2 hay hơn khi đề chỉ cho quan hệ giữa F và H chứ không cho số đo cụ thể.
Đáp số.F=125∘.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là chỉ cộng 90∘+55∘=145∘ rồi lấy 360∘−145∘=215∘ vì bỏ sót một ô vuông góc — kết quả 215∘ vô lí, vì mỗi góc của tứ giác lồi phải nhỏ hơn 180∘. Sai lầm thứ hai là dùng 180∘ thay cho 360∘, khi đó F=180∘−235∘=−55∘, một số âm nên chắc chắn sai.
🚀 Mở rộng.Giữ nguyên E=G=90∘ và cho H=α: hãy chứng tỏ luôn có F=180∘−α, tức hai góc F, H bù nhau với mọi α.
Bài 6 · Vận dụng★★Trang 50— Vận dụng định lí tổng các góc của tứ giác vào bài toán ghép hình
Vận dụng (trang 50). Giải bài toán mở đầu: cắt bốn tứ giác như nhau bằng giấy, đánh số bốn góc của mỗi tứ giác rồi ghép bốn tứ giác đó lại. Hỏi có ghép khít được không và tổng số đo bốn góc tại điểm chung bằng bao nhiêu?
Kiến thức cần nhớ
Tổng các góc của một tứ giác bằng 360∘.
Tổng các góc kề nhau phủ kín quanh một điểm bằng 360∘.
Hai tứ giác bằng nhau thì các góc tương ứng bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Bây giờ đã có định lí trong tay nên bài mở đầu đổi hẳn tính chất: không còn là 'cắt giấy xem thử' mà là 'giải thích vì sao nhất định ghép khít'. Dấu hiệu để nối hai vế là hai con số cùng bằng 360∘ — tổng bốn góc của tứ giác và tổng các góc quanh một điểm. Bẫy của đề là chỉ nói 'tổng bằng 360∘ nên ghép khít': còn phải nêu bốn góc ấy đôi một kề nhau và không chồng lên nhau thì lập luận mới kín.
1Cách 1. Đối chiếu hai lần 360∘
Định hướng. So tổng bốn góc của tứ giác với tổng các góc quanh một điểm; hai số bằng nhau nên vừa khít.
Bốn mảnh bằng nhau nên các góc tương ứng bằng nhau; tại điểm chung ta xếp bốn góc A, B, C, D, mỗi mảnh một góc A+B+C+D=360∘ (tổng các góc của tứ giác) Bốn góc đó đôi một kề nhau dọc theo các cạnh chung và có tổng bằng 360∘ Bốn góc phủ kín quanh điểm chung, không hở, không chồng
Vậy ghép được bốn tứ giác khít nhau và tổng số đo bốn góc tại điểm chung bằng 360∘.
2Cách 2. Chia mỗi tứ giác thành hai tam giác
Định hướng. Không dùng lại định lí mà dựng lại từ tam giác: mỗi mảnh là hai tam giác, bốn mảnh là tám tam giác.
Kẻ đường chéo AC, tứ giác ABCD chia thành hai tam giác ABC và ACD A+B+C+D=2⋅180∘=360∘ Bốn mảnh bằng nhau nên bốn góc chụm tại điểm chung có tổng cũng bằng 360∘ Tổng các góc quanh một điểm bằng 360∘
Vậy bốn góc lấp vừa đủ quanh điểm chung, tức bốn mảnh ghép khít; tổng số đo của chúng là 360∘.
3Cách 3. Chỉ ra phép xoay để ghép, không cần đo
Định hướng. Chỉ rõ từng phép xoay thì thấy ngay hai mảnh kề nhau dán khít theo một cạnh, khỏi cần tính số đo.
Mảnh 2 là ảnh của mảnh 1 qua phép quay nửa vòng quanh trung điểm cạnh AB, hai mảnh dán khít dọc AB Mảnh 3 là ảnh của mảnh 1 qua phép quay nửa vòng quanh trung điểm cạnh AD, hai mảnh dán khít dọc AD Mảnh 4 đặt sao cho đỉnh C trùng điểm chung, hai cạnh của nó dán khít với mảnh 2 và mảnh 3 Tại điểm chung có đủ bốn góc A, B, C, D kề nhau A+B+C+D=360∘
Vậy ghép được khít và tổng bốn góc tại điểm chung bằng 360∘.
Nhận xét. Lặp mãi cách ghép này ta lát kín được cả mặt phẳng bằng những viên gạch hình tứ giác như nhau — chính là hình ở mục Em có biết trang 51.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: gọi thẳng định lí vừa học rồi đối chiếu với 360∘ quanh một điểm, đúng ba dòng; Cách 3 hợp khi đề bắt mô tả cách ghép chứ không hỏi số đo.
Đáp số.Ghép được bốn tứ giác khít nhau; bốn góc tại điểm chung là bốn góc của tứ giác và tổng số đo của chúng bằng 360∘.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là kết luận 'tổng bốn góc bằng 360∘ nên ghép kiểu nào cũng khít'. Phản ví dụ: nếu xếp hai mảnh cho hai góc A cùng chụm vào điểm chung, chẳng hạn tứ giác có A=60∘, B=80∘, C=100∘, D=120∘, thì tổng bốn góc ở đó là 60∘+60∘+80∘+100∘=300∘, còn hở một khe 60∘. Sai lầm thứ hai là quên điều kiện tứ giác LỒI: với tứ giác lõm, góc lõm lớn hơn 180∘ nên không thể chụm bốn góc quanh một điểm theo kiểu này.
🚀 Mở rộng.Nếu thay bốn tứ giác bằng sáu tam giác như nhau thì tổng ba góc là 180∘, cần mấy mảnh mới phủ kín quanh một điểm — hãy trả lời rồi thử ghép bằng giấy.
Bài 7 · Thử thách nhỏ★★★Trang 50— Đánh giá số góc tù, góc nhọn của một tứ giác
Thử thách nhỏ (trang 50). Trong một tứ giác, hỏi số góc tù nhiều nhất là bao nhiêu và số góc nhọn nhiều nhất là bao nhiêu? Vì sao?
Kiến thức cần nhớ
Góc nhọn có số đo nhỏ hơn 90∘; góc tù có số đo lớn hơn 90∘ và nhỏ hơn 180∘.
Tổng các góc của một tứ giác bằng 360∘.
Mỗi góc của một tứ giác lồi đều nhỏ hơn 180∘.
🧠 Phân tích tư duy
Đề hỏi 'nhiều nhất' nên phải làm hai việc: chặn trên bằng lập luận và chỉ ra một tứ giác đạt đúng con số đó. Dấu hiệu để chặn trên là mốc 90∘ so với tổng cố định 360∘=4⋅90∘: bốn góc tù thì tổng vượt 360∘, bốn góc nhọn thì tổng hụt 360∘. Bẫy của bài là chỉ chứng minh 'không thể có bốn' rồi kết luận ngay; thiếu ví dụ có ba góc tù và ví dụ có ba góc nhọn thì chưa trả lời được chữ 'nhiều nhất'.
1Cách 1. Phản chứng bằng cách so với 4⋅90∘
Định hướng. Giả sử có đủ bốn góc cùng loại rồi cộng lại, so với 360∘ là thấy vô lí ngay.
Giả sử tứ giác có bốn góc tù, khi đó mỗi góc lớn hơn 90∘ Tổng bốn góc lớn hơn 4⋅90∘=360∘, trái với A+B+C+D=360∘ Giả sử tứ giác có bốn góc nhọn, khi đó mỗi góc nhỏ hơn 90∘ Tổng bốn góc nhỏ hơn 4⋅90∘=360∘, cũng trái với 360∘ Tứ giác có các góc 100∘, 100∘, 100∘, 60∘ có tổng 360∘ và có ba góc tù Tứ giác có các góc 80∘, 80∘, 80∘, 120∘ có tổng 360∘ và có ba góc nhọn
Vậy một tứ giác có nhiều nhất 3 góc tù và nhiều nhất 3 góc nhọn.
2Cách 2. Đặt ẩn là số góc rồi đánh giá tổng
Định hướng. Gọi n là số góc cùng loại, chặn tổng bốn góc bằng n rồi giải bất phương trình theo n.
Gọi n là số góc tù, n là số tự nhiên và 0≤n≤4 360>90n (mỗi góc tù lớn hơn 90∘, các góc còn lại đều dương) n<4, suy ra n≤3 Gọi m là số góc nhọn, mỗi góc còn lại nhỏ hơn 180∘ (tứ giác lồi) 360<90m+180(4−m)=720−90m 90m<360, suy ra m<4 và m≤3
Vậy số góc tù nhiều nhất là 3 và số góc nhọn nhiều nhất là 3.
3Cách 3. Chuyển sang góc ngoài
Định hướng. Mỗi góc trong tù thì góc ngoài kề bù với nó là góc nhọn; tổng bốn góc ngoài cũng là 360∘ nên lập luận lặp lại y hệt.
Tổng bốn góc ngoài của tứ giác lồi là 4⋅180∘−360∘=360∘ Góc trong tù ⇔ góc ngoài kề bù với nó nhọn (hai góc kề bù) Nếu cả bốn góc trong đều tù thì cả bốn góc ngoài đều nhọn, tổng nhỏ hơn 360∘, vô lí Góc trong nhọn ⇔ góc ngoài kề bù với nó tù Nếu cả bốn góc trong đều nhọn thì cả bốn góc ngoài đều tù, tổng lớn hơn 360∘, vô lí Tứ giác 100∘, 100∘, 100∘, 60∘ đạt 3 góc tù; tứ giác 80∘, 80∘, 80∘, 120∘ đạt 3 góc nhọn
Vậy nhiều nhất 3 góc tù và nhiều nhất 3 góc nhọn.
Nhận xét. Con số 3 đạt được đồng thời: tứ giác 95∘, 95∘, 95∘, 75∘ có 3 góc tù, còn tứ giác 85∘, 85∘, 85∘, 105∘ có 3 góc nhọn; nhưng không tứ giác nào vừa có 3 góc tù vừa có 3 góc nhọn vì tất cả chỉ có 4 góc.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: phản chứng hai dòng rồi nêu hai ví dụ là đủ điểm tối đa; Cách 2 chặt chẽ hơn nhưng phải viết bất phương trình, mất thêm thời gian.
Đáp số.Trong một tứ giác có nhiều nhất 3 góc tù và nhiều nhất 3 góc nhọn; chẳng hạn 100∘, 100∘, 100∘, 60∘ và 80∘, 80∘, 80∘, 120∘.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là trả lời 2 vì nghĩ 'số góc tù phải bằng số góc nhọn'. Phản ví dụ: tứ giác 100∘, 100∘, 100∘, 60∘ có ba góc tù mà chỉ có một góc nhọn. Sai lầm thứ hai là quên điều kiện tứ giác LỒI khi xét góc nhọn: nếu cho phép tứ giác lõm thì bộ ba góc nhọn 80∘, 80∘, 80∘ vẫn được, nhưng lập luận chặn trên ở Cách 2 dùng mốc 180∘ cho mỗi góc nên chỉ đúng với tứ giác lồi. Sai lầm thứ ba là chỉ chứng minh 'không thể có bốn' rồi kết luận ngay mà không nêu ví dụ đạt được ba.
🚀 Mở rộng.Hỏi tương tự với ngũ giác lồi (tổng các góc là 540∘): số góc nhọn nhiều nhất là bao nhiêu — hãy làm lại theo Cách 2 với 540<90m+180(5−m).
Bài 8 · Bài 3.1★★Trang 51— Tính góc chưa biết của tứ giác, có dùng góc kề bù
Bài 3.1 (trang 51). Tính góc chưa biết của các tứ giác trong Hình 3.8.
Kiến thức cần nhớ
Tổng các góc của một tứ giác bằng 360∘.
Hai góc kề bù có tổng bằng 180∘.
Kí hiệu ô vuông ở một đỉnh nghĩa là góc tại đỉnh đó bằng 90∘.
🧠 Phân tích tư duy
Câu a) cho ba ô vuông góc, câu b) lại cho hai số đo nằm NGOÀI tứ giác — dấu hiệu bài này gồm hai nhịp: trước hết đưa mọi số đo về góc TRONG bằng quan hệ kề bù, sau đó mới dùng tổng bốn góc bằng 360∘. Hướng ấy an toàn hơn hẳn việc cộng thẳng 60∘ và 110∘ vào tổng. Bẫy lớn nhất của câu b) là 60∘ và 110∘ là góc ngoài chứ không phải góc của tứ giác.
1Cách 1. Đưa về góc trong rồi dùng tổng 360∘
Định hướng. Đọc các ô vuông góc cho câu a); với câu b) dùng hai góc kề bù để đổi 60∘ và 110∘ thành góc trong, rồi mới cộng trừ.
a) A=B=D=90∘ (ô vuông góc trên hình) C=360∘−(90∘+90∘+90∘) C=360∘−270∘=90∘ b) V=90∘ (ô vuông góc trên hình) U=180∘−60∘=120∘ (hai góc kề bù) S=180∘−110∘=70∘ (hai góc kề bù) R=360∘−(90∘+120∘+70∘) R=360∘−280∘=80∘
Vậy a) C=90∘; b) U=120∘, S=70∘, R=80∘.
2Cách 2. Kẻ đường chéo, tính bằng hai tam giác
Định hướng. Không gọi định lí về tứ giác mà quay về tổng ba góc trong tam giác — cách này dùng được cả khi chưa học định lí.
a) Kẻ đường chéo BD; tam giác ABD vuông tại A nên ABD+ADB=90∘ DBC=90∘−ABD và BDC=90∘−ADB (vì B=D=90∘) DBC+BDC=180∘−(ABD+ADB)=90∘ C=180∘−90∘=90∘ (tổng ba góc trong tam giác BCD) b) U=180∘−60∘=120∘ và S=180∘−110∘=70∘ (hai góc kề bù) Kẻ đường chéo VS; hai tam giác VUS và VSR có tổng các góc là 2⋅180∘=360∘ R=360∘−(V+U+S)=360∘−280∘=80∘
Vậy a) C=90∘; b) U=120∘, S=70∘, R=80∘.
3Cách 3. Đặt ẩn, lập phương trình cho góc cần tìm
Định hướng. Gọi ẩn là số đo góc chưa biết rồi viết điều kiện tổng bốn góc thành phương trình bậc nhất.
a) Gọi x là số đo của C, đơn vị độ, 0<x<180 90+90+x+90=360 x+270=360 x=90 (thoả mãn) b) Gọi y là số đo của R, đơn vị độ, 0<y<180 U=180∘−60∘=120∘, S=180∘−110∘=70∘ (hai góc kề bù) 90+120+70+y=360 y+280=360 y=80 (thoả mãn)
Vậy a) C=90∘; b) U=120∘, S=70∘, R=80∘.
Nhận xét. Câu a) cho thấy tứ giác có ba góc vuông thì góc thứ tư cũng vuông — đó chính là một dấu hiệu nhận biết hình chữ nhật sẽ học ở Bài 13.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: đổi góc ngoài thành góc trong bằng hai góc kề bù rồi trừ một lần, cả hai câu gọn trong sáu dòng; Cách 2 chỉ nên dùng khi đề cấm dùng định lí về tứ giác.
Đáp số.a) C=90∘. b) U=120∘, S=70∘, R=80∘.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm nặng nhất ở câu b) là coi 60∘ và 110∘ là góc của tứ giác rồi viết R=360∘−(90∘+60∘+110∘)=100∘. Phản ví dụ kiểm lại: với R=100∘ thì tổng bốn góc TRONG là 90∘+120∘+70∘+100∘=380∘=360∘, nên kết quả đó sai. Sai lầm thứ hai là ở câu a) chỉ thấy hai ô vuông góc mà bỏ sót ô thứ ba, dẫn tới C=180∘ — một góc bẹt, không thể là góc của tứ giác.
🚀 Mở rộng.Vẫn Hình 3.8b nhưng đổi 110∘ thành t độ: hãy chứng tỏ R=t−30∘ và tìm điều kiện của t để tứ giác vẫn lồi.
Bài 9 · Bài 3.2★★Trang 51— Tính hai góc của tứ giác khi biết tổng và hiệu của chúng
Bài 3.2 (trang 51). Tính góc chưa biết của tứ giác trong Hình 3.9. Biết rằng H=E+10∘.
Kiến thức cần nhớ
Tổng các góc của một tứ giác bằng 360∘.
Tìm hai số biết tổng S và hiệu d: số lớn là 2S+d, số bé là 2S−d.
Trong tứ giác lồi, mỗi góc đều lớn hơn 0∘ và nhỏ hơn 180∘.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho hai góc bằng số và một quan hệ giữa hai góc còn lại — dấu hiệu của dạng 'tìm hai số biết tổng và hiệu'. Tổng H+E lấy được ngay từ định lí tổng bốn góc, còn hiệu đã có sẵn là 10∘, nên đi theo hướng tổng – hiệu là ngắn nhất. Bẫy của đề là đọc vội thành E=H+10∘: đảo vai trò thì hai đáp số đổi chỗ cho nhau.
1Cách 1. Đặt một ẩn rồi thế vào tổng bốn góc
Định hướng. Gọi E là ẩn, viết H theo ẩn đó rồi thay vào định lí tổng bốn góc.
Gọi x là số đo của E, đơn vị độ, 0<x<180 H=x+10 (gt) E+F+G+H=360 (tổng các góc của tứ giác) x+60+50+(x+10)=360 2x+120=360 2x=240 x=120 (thoả mãn điều kiện) H=120+10=130
VậyE=120∘ và H=130∘.
2Cách 2. Tính tổng hai góc trước, dùng công thức tổng – hiệu
Định hướng. Lấy tổng hai góc chưa biết trước, đã có hiệu là 10∘ nên áp thẳng công thức tổng – hiệu.
H+E=360∘−(F+G) (tổng các góc của tứ giác) H+E=360∘−(60∘+50∘)=250∘ H−E=10∘ (gt) H=2250∘+10∘=130∘ E=2250∘−10∘=120∘
VậyH=130∘ và E=120∘.
3Cách 3. Lấy trung bình rồi lệch sang hai bên
Định hướng. Nếu hai góc bằng nhau thì mỗi góc là nửa của 250∘; hiệu 10∘ chia đôi thành 5∘ lệch về mỗi bên.
H+E=360∘−110∘=250∘ Nếu H=E thì mỗi góc bằng 250∘:2=125∘ H hơn E đúng 10∘ nên H lớn hơn 125∘ là 5∘, còn E nhỏ hơn 125∘ là 5∘ H=125∘+5∘=130∘ E=125∘−5∘=120∘ Thử lại: 130∘+120∘+60∘+50∘=360∘ và 130∘−120∘=10∘
VậyH=130∘, E=120∘.
Nhận xét. Cả hai góc đều nhỏ hơn 180∘ nên tứ giác vẫn lồi, phù hợp với Hình 3.9.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 2: lấy tổng 250∘ rồi áp công thức tổng – hiệu, đúng bốn dòng và không phải giải phương trình; Cách 1 dài hơn nhưng an toàn khi quan hệ giữa hai góc phức tạp hơn.
Đáp số.H=130∘ và E=120∘.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là đọc ngược giả thiết thành E=H+10∘, dẫn tới E=130∘, H=120∘. Phản ví dụ để tự phát hiện: thay vào giả thiết gốc thì H=120∘ nhưng E+10∘=140∘, hai vế khác nhau nên bộ số đó sai. Sai lầm thứ hai là lấy tổng bằng 180∘ thay vì 360∘, khi đó H+E=70∘ và E=30∘ — nhìn Hình 3.9 thấy ngay E là góc tù nên không thể bằng 30∘.
🚀 Mở rộng.Vẫn tứ giác đó nhưng cho H=2E: hãy tính lại hai góc, rồi tổng quát cho H=kE và tìm điều kiện của k để tứ giác vẫn lồi.
Bài 10 · Bài 3.3★★★Trang 51— Hình cái diều: chứng minh đường trung trực và tính hai góc đối
Bài 3.3 (trang 51). Tứ giác ABCD trong Hình 3.10 có AB=AD, CB=CD, được gọi là hình "cái diều". a) Chứng minh rằng AC là đường trung trực của đoạn thẳng BD. b) Tính các góc B, D biết rằng A=100∘, C=60∘.
Kiến thức cần nhớ
Điểm cách đều hai đầu mút của một đoạn thẳng thì nằm trên đường trung trực của đoạn thẳng đó.
Hai điểm phân biệt cùng cách đều hai đầu mút của một đoạn thẳng thì đường thẳng đi qua chúng là đường trung trực của đoạn thẳng ấy.
Tổng các góc của một tứ giác bằng 360∘.
Hai tam giác bằng nhau thì các góc tương ứng bằng nhau (trường hợp c.c.c).
🧠 Phân tích tư duy
Giả thiết cho hai cặp cạnh bằng nhau xuất phát từ hai đỉnh A và C — dấu hiệu kinh điển của đường trung trực: điểm cách đều hai đầu mút của một đoạn thẳng thì nằm trên đường trung trực của đoạn đó. Nhận ra điều này thì câu a) chỉ còn hai dòng, khỏi phải dựng thêm hình. Câu b) nhìn tiếp: hai tam giác ABC và ADC bằng nhau nên B=D, ghép với tổng bốn góc là ra. Bẫy ở chỗ B và D bằng nhau nhưng KHÔNG bằng nửa của A+C.
1Cách 1. Dùng tính chất điểm cách đều hai đầu mút
Định hướng.A và C đều cách đều B, D nên cả hai nằm trên đường trung trực của BD; câu b) dùng hai tam giác bằng nhau.
a) AB=AD (gt) nên A nằm trên đường trung trực của BD CB=CD (gt) nên C nằm trên đường trung trực của BD A và C phân biệt, cùng nằm trên đường trung trực của BD Đường thẳng AC là đường trung trực của BD b) Tam giác ABC và tam giác ADC có AB=AD, CB=CD, AC chung △ABC=△ADC (c.c.c) B=D (hai góc tương ứng) A+B+C+D=360∘ (tổng các góc của tứ giác) 100∘+2B+60∘=360∘ 2B=200∘ B=100∘
VậyAC là đường trung trực của BD và B=D=100∘.
2Cách 2. Dùng tam giác cân và đường phân giác
Định hướng. Chứng minh AC là phân giác của BAD trước, rồi dùng tính chất trong tam giác cân đường phân giác kẻ từ đỉnh cũng là đường trung trực của cạnh đáy.
a) Tam giác ABC và tam giác ADC có AB=AD, CB=CD, AC chung △ABC=△ADC (c.c.c) BAC=DAC (hai góc tương ứng), nên AC là tia phân giác của BAD Tam giác ABD cân tại A vì AB=AD (gt) Trong tam giác cân, đường phân giác kẻ từ đỉnh cũng là đường trung trực của cạnh đáy Đường thẳng AC là đường trung trực của BD b) B=D (hai góc tương ứng của △ABC=△ADC) B+D=360∘−(100∘+60∘)=200∘ (tổng các góc của tứ giác) B=D=200∘:2=100∘
VậyAC là đường trung trực của BD; B=D=100∘.
3Cách 3. Gọi giao điểm I của hai đường chéo
Định hướng. Đặt tên giao điểm rồi chứng minh trực tiếp hai điều của định nghĩa trung trực: I là trung điểm BD và AC vuông góc BD; câu b) tính qua các nửa góc.
a) Gọi I là giao điểm của AC và BD △ABC=△ADC (c.c.c) nên BAI=DAI Tam giác ABI và tam giác ADI có AB=AD (gt), BAI=DAI, AI chung △ABI=△ADI (c.g.c) IB=ID nên I là trung điểm của BD AIB=AID mà AIB+AID=180∘ (hai góc kề bù) AIB=AID=90∘, tức AC⊥BD tại trung điểm I của BD b) BAI=DAI=100∘:2=50∘ và BCI=DCI=60∘:2=30∘ ABI=180∘−(90∘+50∘)=40∘ (tổng ba góc trong tam giác ABI) CBI=180∘−(90∘+30∘)=60∘ (tổng ba góc trong tam giác CBI) B=ABI+CBI=40∘+60∘=100∘ D=B=100∘ (hai tam giác bằng nhau)
VậyAC là đường trung trực của BD và B=D=100∘.
Nhận xét. Kết quả B=D=100∘ trùng đúng với A=100∘ chỉ là ngẫu nhiên do 100∘+60∘=160∘; đổi C thành 80∘ thì B=D=90∘.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: câu a) chỉ ba dòng nhờ tính chất điểm cách đều hai đầu mút, câu b) một lần c.c.c là xong; Cách 3 dài hơn nhưng đáng học vì cho luôn số đo các nửa góc, dùng được khi đề hỏi thêm về hai đường chéo.
Đáp số.a) AC là đường trung trực của BD. b) B=D=100∘.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp ở câu a) là chỉ nêu AB=AD rồi kết luận ngay AC là trung trực của BD. Phản ví dụ: lấy điểm C′ bất kì trên tia AC nhưng C′B=C′D, khi đó A vẫn cách đều B, D nhưng đường thẳng AC′ nói chung không vuông góc với BD — phải dùng CẢ HAI giả thiết AB=AD và CB=CD. Sai lầm ở câu b) là chia đôi tổng hai góc đã cho, viết B=D=(100∘+60∘):2=80∘; thử lại thấy tổng bốn góc chỉ còn 100∘+80∘+60∘+80∘=320∘=360∘ nên sai.
🚀 Mở rộng.Giữ AB=AD, CB=CD và cho A=α, C=β: hãy chứng tỏ B=D=180∘−2α+β và tìm điều kiện của α, β để cái diều có hai góc B, D vuông.