Chương III. Tứ giác

Bài 11. Hình thang cân

SGK Toán 8 — Kết nối tri thức, tập 1 · 12 bài tập, mỗi câu ít nhất 2 cách giải.

Mở bài học này trong app ↗
Bài 1 · Luyện tập 1Trang 53Tính các góc của hình thang cân khi biết một góc
Luyện tập 1 (trang 53). Tính các góc của hình thang cân (), biết (H.3.15).
40°ABDCHình 3.15
Kiến thức cần nhớ
  • Hình thang cân là hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau; hai góc kề đáy kia cũng bằng nhau.
  • Hai góc kề một cạnh bên của hình thang thì bù nhau (hai góc trong cùng phía).
  • Tổng bốn góc của một tứ giác bằng .
🧠 Phân tích tư duy
Đề chỉ cho một góc mà hỏi cả bốn — dấu hiệu của dạng dùng đúng hai tính chất về góc: hai góc kề một đáy của hình thang cân thì bằng nhau, còn hai góc kề một cạnh bên thì bù nhau. Nên đi từ (bạn cùng đáy với ) rồi mới sang , , vì mỗi bước chỉ dùng một tính chất nên khó nhầm. Bẫy của đề: chữ “cân” không hề cho — hai góc đối của hình thang cân nói chung khác nhau.
1Cách 1. Đi từ hai góc kề đáy lớn rồi dùng hai góc trong cùng phía

Định hướng. Lấy ngay từ tính chất hai góc kề đáy , sau đó mỗi cạnh bên cho một góc còn lại.

(hai góc kề đáy của hình thang cân)
(hai góc trong cùng phía, )

(hai góc trong cùng phía, )

Vậy .

2Cách 2. Dùng tổng bốn góc của tứ giác

Định hướng. Hình thang cân cho ngay hai cặp góc bằng nhau, nên tổng biến thành một phép tính một ẩn.

(hai góc kề đáy )
(hai góc kề đáy )
(tổng bốn góc của tứ giác)


Vậy .

3Cách 3. Kẻ đường cao, tách góc thành hai phần

Định hướng. Đường cao vừa vuông góc với vừa vuông góc với , nên nó cắt thành một góc vuông và một góc nhọn của tam giác vuông .

(hai góc kề đáy )
Kẻ tại
(vì ), suy ra
(hai góc nhọn của tam giác vuông )

(hai góc kề đáy )

Vậy .

Nhận xét. Cách 3 dài hơn nhưng cho thấy vì sao đáy nhỏ luôn ngắn hơn đáy lớn khi góc ở đáy lớn nhọn: chân đường cao nằm giữa .

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: hai dòng là xong, mỗi dòng gọi đúng tên một tính chất nên giám khảo không thể trừ điểm căn cứ; Cách 2 phải giải một phương trình nhỏ, còn Cách 3 phải kẻ thêm hình.
Đáp số. , .
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là chép tính chất của tứ giác khác: cho rằng hai góc đối bằng nhau nên . Thử lại ngay bằng tổng bốn góc: khi đó và tổng bốn góc chỉ là , khác — vô lí. Sai lầm thứ hai là lấy mà không nói rõ vì sao: hai góc chỉ bù nhau nhờ đi vòng qua , chứ chúng không kề cùng một cạnh bên.
🚀 Mở rộng. Cùng cách làm, nếu thì ; bốn góc của hình thang cân chỉ bằng nhau khi , lúc đó hình thang cân trở thành tứ giác có bốn góc vuông.
Nguồn: SGK Toán 8 — KNTT, tập 1, trang 53
Bài 2 · HĐ1★★Trang 53Chứng minh hai cạnh bên của hình thang cân bằng nhau
HĐ1 (trang 53). Cho hình thang cân , (H.3.16).
a) Từ kẻ , , , . Chứng minh rằng bằng cách chứng minh .
b) Chứng minh , từ đó suy ra .
ABDCHIHình 3.16
Kiến thức cần nhớ
  • Hai đường thẳng cùng vuông góc với một đường thẳng thứ ba thì song song với nhau.
  • Hai tam giác bằng nhau theo trường hợp góc — cạnh — góc (g.c.g).
  • Hai tam giác vuông bằng nhau theo trường hợp cạnh góc vuông — góc nhọn kề, hoặc cạnh huyền — góc nhọn.
  • Định lí 1: trong hình thang cân, hai cạnh bên bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Đề dựng sẵn hai đường cao rồi bắt so sánh hai tam giác — dấu hiệu của lối chứng minh “đưa về tam giác vuông”. Hai đường cao cùng vuông góc với nên chúng song song với nhau, lại có , đó chính là hai cặp góc so le trong để ghép với theo cạnh chung . Sang câu b) chỉ còn thiếu một yếu tố góc, mà giả thiết hình thang cân cho ngay . Bẫy của bài: kết quả chỉ đúng một chiều, chớ dùng ngược lại.
1Cách 1. Theo đúng hướng dẫn của đề (g.c.g rồi tam giác vuông)

Định hướng. Cạnh là cầu nối: nó vừa là cạnh chung của hai tam giác ở câu a), vừa tạo ra hai cặp góc so le trong nhờ .

a) , (gt) nên
(vì , )
(hai góc so le trong, )
là cạnh chung
(hai góc so le trong, )
(g.c.g)
(hai cạnh tương ứng)
b) (gt)
(câu a)
(hai góc kề đáy của hình thang cân)
(cạnh góc vuông — góc nhọn kề)
(hai cạnh tương ứng)

Vậy .

2Cách 2. Hai tam giác vuông có chung cạnh huyền, rồi tam giác cân đỉnh

Định hướng. nên là hai tam giác vuông có chung cạnh huyền ; còn ở câu b), kéo dài hai cạnh bên cho cắt nhau sẽ được hai tam giác cân lồng nhau.

a) nên , suy ra
vuông tại , vuông tại , chung cạnh huyền
(hai góc so le trong, )
(cạnh huyền — góc nhọn)
b) Gọi là giao điểm của hai đường thẳng
(hai góc kề đáy của hình thang cân)
cân tại , suy ra
, (các cặp góc đồng vị, )
, suy ra cân tại

Vậy .

3Cách 3. Kẻ đường phụ , làm câu b) trước rồi quay lại câu a)

Định hướng. Kẻ thêm một đường song song với cạnh bên là mẹo kinh điển: nó biến thành góc đáy của một tam giác cân, cho ngay ; có rồi thì hai tam giác vuông , bằng nhau theo cạnh huyền — góc nhọn.

b) Kẻ ()
(hai góc đồng vị, )
(hai góc kề đáy của hình thang cân)
, suy ra cân tại
(hai góc so le trong, )
là cạnh chung
(hai góc so le trong, )
(g.c.g), suy ra
a) (gt)
(chứng minh trên)
(hai góc kề đáy )
(cạnh huyền — góc nhọn)
(hai cạnh tương ứng)

Vậy .

Nhận xét. Ba cách đều chỉ dùng giả thiết ; điều đó cho thấy chính hai góc kề đáy mới là gốc của mọi tính chất trong bài, còn “hai cạnh bên bằng nhau” chỉ là hệ quả.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1 vì đề đã chỉ đường: chứng minh rồi , không phải kẻ thêm nét nào. Cách 3 chỉ nên dùng khi đề không cho sẵn hai đường cao.
Đáp số. (do ) và (do ) — đó chính là Định lí 1: trong hình thang cân, hai cạnh bên bằng nhau.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm nguy hiểm nhất là dùng ngược Định lí 1: thấy hình thang có hai cạnh bên bằng nhau liền kết luận nó là hình thang cân. Mệnh đề “hình thang có hai cạnh bên bằng nhau thì là hình thang cân” là SAI. Phản ví dụ: tứ giác , cm nhưng còn (khi đó ) — hai cạnh bên bằng nhau mà hai góc kề đáy khác nhau, nên nó không phải hình thang cân. Sai lầm thứ hai là ở câu a) viết “” — sai thứ tự đỉnh, vì đỉnh (góc vuông) phải tương ứng với đỉnh chứ không phải với đỉnh .
🚀 Mở rộng. Kết quả câu a) còn cho một điều tổng quát hơn: mọi đoạn vuông góc hạ từ đường thẳng xuống đều bằng nhau, tức là hai đường thẳng song song thì cách đều nhau — hãy dùng nhận xét này để so sánh diện tích hai tam giác .
Nguồn: SGK Toán 8 — KNTT, tập 1, trang 53
Bài 3 · Luyện tập 2★★Trang 53Nhận ra hình thang cân từ ba góc bằng nhau rồi suy ra hai cạnh bên
Luyện tập 2 (trang 53). Cho tứ giác như Hình 3.18. Biết rằng . Chứng minh rằng .
1ABDCHình 3.18
Kiến thức cần nhớ
  • Dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng song song: một cặp góc đồng vị (hoặc so le trong) bằng nhau.
  • Hình thang cân là hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau.
  • Định lí 1: trong hình thang cân, hai cạnh bên bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho ba góc bằng nhau, trong đó là góc ngoài tại — dấu hiệu quen thuộc của cặp góc đồng vị. Vậy việc đầu tiên không phải là so sánh hai tam giác, mà là dùng để có , tức là mới trở thành hình thang; khi đó đúng là hai góc kề đáy . Bẫy của đề: bỏ qua giả thiết và coi ngay là hình thang — chưa có gì bảo đảm hai cạnh , song song.
1Cách 1. Chỉ ra hình thang cân rồi dùng Định lí 1

Định hướng. Dùng cặp góc đồng vị để có hai đáy song song, sau đó giả thiết đúng là điều kiện của hình thang cân.

(gt)
là hai góc đồng vị (cát tuyến cắt )
(dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng song song)
là hình thang, hai đáy
(gt) — hai góc kề đáy
là hình thang cân (dấu hiệu nhận biết hình thang cân theo định nghĩa)
(Định lí 1)

Vậy .

2Cách 2. Kéo dài hai cạnh bên, dùng hai tam giác cân

Định hướng. Khi hai đáy đã song song, giao điểm của hai cạnh bên tạo ra hai tam giác cân lồng nhau, hiệu hai cạnh cho ngay điều phải chứng minh.

(gt) và đây là hai góc đồng vị nên
Gọi là giao điểm của hai đường thẳng ( nằm khác phía đối với )

(hai góc đồng vị, )
(gt ) nên cân tại , suy ra
nên cân tại , suy ra

Vậy .

3Cách 3. Kẻ đường phụ

Định hướng. Dời cạnh về sát cạnh bằng một đường song song: tam giác nhận được vừa cân, vừa cho phép so sánh với .

(gt) và đây là hai góc đồng vị nên
Kẻ ()
(hai góc đồng vị, ; gt )
nên cân tại , suy ra
(hai góc so le trong, )
là cạnh chung
(hai góc so le trong, )
(g.c.g), suy ra

Vậy .

Nhận xét. Cách 3 không dùng đến Định lí 1 mà chứng minh lại nó ngay trong bài; đó cũng chính là lối chứng minh Định lí 1 khi hình vẽ không có sẵn đường cao.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: ba dòng đầu biến bài lạ thành bài quen (hình thang cân), rồi trích Định lí 1 là xong; Cách 2 và Cách 3 phải kẻ thêm hình nên dài gấp đôi.
Đáp số. Từ suy ra , do đó là hình thang; thêm nên nó là hình thang cân, vậy .
Sai lầm thường gặp. Sai lầm thường gặp là dùng ngay giả thiết để kết luận “ là hình thang cân” khi chưa chứng minh : tứ giác có hai góc bằng nhau thì chưa chắc đã là hình thang, chẳng hạn tứ giác có , , thì chứ không phải , và khi đó nhưng hai đáy lại là cặp cạnh khác. Sai lầm thứ hai là nhầm với — chúng là hai góc kề bù, chỉ bằng nhau khi cùng bằng .
🚀 Mở rộng. Cùng cách làm, chỉ cần giả thiết không song song thì cũng suy ra được — hãy thử chứng minh chiều ngược lại này và chỉ rõ chỗ phải loại trường hợp .
Nguồn: SGK Toán 8 — KNTT, tập 1, trang 53
Bài 4 · HĐ2★★Trang 54Chứng minh hai đường chéo của hình thang cân bằng nhau
HĐ2 (trang 54). Cho hình thang cân , kẻ hai đường chéo , (H.3.19). Hãy chứng minh . Từ đó suy ra .
ABDCHình 3.19
Kiến thức cần nhớ
  • Định lí 1: trong hình thang cân, hai cạnh bên bằng nhau.
  • Hai tam giác bằng nhau theo trường hợp cạnh — góc — cạnh (c.g.c).
  • Định lí 2: trong hình thang cân, hai đường chéo bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Đích là hai đoạn , nên phải nhét chúng vào hai tam giác rồi chứng minh hai tam giác đó bằng nhau — đề đã chọn sẵn cặp vì chúng có chung cạnh . Còn thiếu một cạnh và một góc: góc thì lấy từ định nghĩa hình thang cân, cạnh thì lấy từ Định lí 1 vừa học. Bẫy của đề: viết thứ tự đỉnh sai (chẳng hạn ) khiến cặp cạnh tương ứng không còn là .
1Cách 1. Hai tam giác kề đáy lớn (c.g.c)

Định hướng. Cạnh là cạnh chung, góc kề đáy lớn bằng nhau theo định nghĩa, cạnh bên bằng nhau theo Định lí 1 — đủ bộ c.g.c.

(Định lí 1)
(hai góc kề đáy của hình thang cân)
là cạnh chung
(c.g.c)
(hai cạnh tương ứng)

Vậy .

2Cách 2. Hai tam giác kề đáy nhỏ (c.g.c)

Định hướng. Đổi sang cặp tam giác nhận làm cạnh chung: cặp góc kề đáy cũng bằng nhau nên vẫn đủ c.g.c, và hai cạnh tương ứng lần này là với .

(Định lí 1)
(hai góc kề đáy của hình thang cân)
là cạnh chung
(c.g.c)
(hai cạnh tương ứng)

Vậy .

3Cách 3. Hạ hai đường cao, đưa về hai tam giác vuông

Định hướng. Hai đường cao chia đáy lớn thành ba phần; hai phần ngoài bằng nhau nên hai tam giác vuông chứa hai đường chéo có hai cạnh góc vuông bằng nhau từng đôi một.

Kẻ , (, )
(kết quả HĐ1), suy ra

vuông tại , vuông tại

(hai cạnh góc vuông)
(hai cạnh tương ứng)

Vậy .

Nhận xét. Cách 3 còn cho thấy hai đường chéo của hình thang cân cắt nhau tại một điểm nằm trên đường trung trực chung của hai đáy — đó là trục đối xứng của hình thang cân.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1 vì đề hỏi đích danh : chỉ ba dòng căn cứ là ra, lại đúng thứ tự đỉnh nên cặp cạnh tương ứng , hiện ra ngay.
Đáp số. (c.g.c) vì , , chung; suy ra — đó là Định lí 2.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm thường gặp là viết : hai tam giác này có chung cạnh nhưng thứ tự đỉnh cho tương ứng , , , tức là suy ra — một kết luận sai (trên Hình 3.19, là đường chéo còn là cạnh bên, chúng khác nhau rõ ràng). Sai lầm thứ hai là dùng mà không nói “hai góc kề đáy ”, khiến người chấm không biết căn cứ lấy từ đâu.
🚀 Mở rộng. Chiều ngược lại mới thú vị: một hình thang có hai đường chéo bằng nhau thì có là hình thang cân không? Đó chính là Định lí 3 ở mục 3, và nó cho ta thêm một dấu hiệu nhận biết rất mạnh khi đề chỉ nói về đường chéo.
Nguồn: SGK Toán 8 — KNTT, tập 1, trang 54
Bài 5 · Luyện tập 3★★Trang 54Nhận dạng hình thang cân cắt ra từ tam giác cân và so sánh hai đường chéo
Luyện tập 3 (trang 54). Cho tam giác cân tại . Kẻ một đường thẳng song song với , cắt cạnh tại và cắt cạnh tại (H.3.20).
a) Tứ giác là hình gì?
b) Chứng minh .
ABCDEdHình 3.20
Kiến thức cần nhớ
  • Trong tam giác cân, hai góc ở đáy bằng nhau.
  • Hình thang là tứ giác có hai cạnh đối song song; hình thang cân là hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau.
  • Định lí 2: trong hình thang cân, hai đường chéo bằng nhau.
  • Hai tam giác bằng nhau theo trường hợp cạnh — góc — cạnh (c.g.c).
🧠 Phân tích tư duy
Một đường thẳng song song với đáy của tam giác cân cắt ra một tứ giác có hai cạnh đối song song — đó đã là hình thang, chỉ còn phải nói vì sao nó cân, mà hai góc kề đáy chính là hai góc đáy của tam giác cân. Đến câu b), phải nhận ra không phải hai cạnh mà là hai đường chéo của tứ giác , khi đó Định lí 2 cho kết quả ngay. Bẫy của đề: đọc thứ tự đỉnh vội vàng rồi coi là một cạnh — thực ra là đường chéo.
1Cách 1. Dùng hình thang cân và Định lí 2

Định hướng. Câu a) cho ngay hình thang cân, câu b) chỉ là đọc lại kết luận của Định lí 2 vì đúng là hai đường chéo của tứ giác đó.

a) (gt) nên tứ giác là hình thang, hai đáy
(hai góc ở đáy của tam giác cân )
Hai góc này kề đáy của hình thang
là hình thang cân
b) là hai đường chéo của hình thang cân
(Định lí 2)

Vậy tứ giác là hình thang cân và .

2Cách 2. Hai tam giác bằng nhau (c.g.c)

Định hướng. Đưa vào hai tam giác cùng đỉnh : chúng có chung góc , còn hai cặp cạnh kề góc đó bằng nhau nhờ tam giác cân và tam giác cân.

a) nên là hình thang; (tam giác cân tại ) nên là hình thang cân
b) , (các cặp góc đồng vị, )
(tam giác cân tại )
nên cân tại , suy ra
(gt)
là góc chung
(c.g.c)
(hai cạnh tương ứng)

Vậy là hình thang cân và .

3Cách 3. Dùng trục đối xứng của tam giác cân

Định hướng. Tam giác cân có sẵn một trục đối xứng; chỉ cần kiểm tra trục đó biến thành thành thì hai đoạn , là ảnh của nhau nên bằng nhau.

a) nên là hình thang; hai góc kề đáy bằng nhau (tam giác cân tại ) nên là hình thang cân
b) Gọi là đường trung trực của
nên , do đó biến tia thành tia và biến thành
(vì cân tại , do )
Phép đối xứng qua biến thành và biến thành
Đoạn thẳng biến thành đoạn thẳng
(phép đối xứng trục giữ nguyên độ dài)

Vậy là hình thang cân và .

Nhận xét. Đường trung trực của đồng thời là trục đối xứng của cả tam giác cân lẫn hình thang cân — nhìn ra trục này thì rất nhiều bài về hình thang cân trở nên hiển nhiên.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: câu b) gọn đúng một dòng nhờ Định lí 2, miễn là nhớ chỉ rõ , là hai đường chéo. Cách 2 an toàn khi quên mất Định lí 2.
Đáp số. Tứ giác là hình thang cân; vì đó là hai đường chéo của hình thang cân đó.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là trả lời câu a) “ là hình thang cân vì ”. Hai cạnh bên bằng nhau KHÔNG phải là dấu hiệu của hình thang cân. Mệnh đề “hình thang có hai cạnh bên bằng nhau thì là hình thang cân” là SAI. Phản ví dụ: tứ giác , cm nhưng còn (khi đó ) — hai cạnh bên bằng nhau mà hai góc kề đáy khác nhau, nên nó không phải hình thang cân. Muốn kết luận cân thì phải nói về hai góc kề đáy (hoặc hai đường chéo). Sai lầm thứ hai là ở câu b) viết “ vì đó là hai cạnh bên” — cắt nhau nên chúng là hai đường chéo.
🚀 Mở rộng. Cùng cách làm, mọi đường thẳng song song với đều cắt ra một hình thang cân; hãy thử tìm vị trí của để bằng nửa và cho biết khi đó chiếm mấy phần của .
Nguồn: SGK Toán 8 — KNTT, tập 1, trang 54
Bài 6 · Thực hành★★Trang 55Dựng hình thang có hai đường chéo bằng nhau và giải thích tính cân
Thực hành (trang 55). (H.3.22)
a) Vẽ hình thang có hai đường chéo bằng nhau theo các cách sau: vẽ hai đường thẳng song song , ; trên lấy hai điểm , ; vẽ hai cung tròn tâm có cùng bán kính sao cho cung tròn tâm cắt tại , cung tròn tâm cắt tại và hai đoạn thẳng , cắt nhau. Hình thang có hai đường chéo bằng nhau.
b) Hình thang có là hình thang cân không? Vì sao?
ABDCabHình 3.22
Kiến thức cần nhớ
  • Hình thang là tứ giác có hai cạnh đối song song.
  • Định lí 3: nếu một hình thang có hai đường chéo bằng nhau thì hình thang đó là hình thang cân.
  • Hai tam giác vuông bằng nhau theo trường hợp cạnh huyền — cạnh góc vuông.
  • Hai đường thẳng song song thì cách đều nhau (kết quả HĐ1).
🧠 Phân tích tư duy
Cách dựng của đề chỉ nhằm một việc: ép hai đường chéo bằng nhau (cùng bằng bán kính của hai cung tròn) — đó chính là giả thiết của Định lí 3, nên câu b) phải trả lời “có”. Điều cần nói rõ trước tiên là đúng là một hình thang: , nằm trên còn , nằm trên . Bẫy của phần dựng hình: cung tròn tâm cắt tại hai điểm, phải chọn điểm nào để cắt nhau, nếu chọn sai thì không còn là tứ giác lồi.
1Cách 1. Dùng thẳng Định lí 3

Định hướng. Chỉ cần khẳng định hai điều: là hình thang, và hai đường chéo của nó bằng nhau vì cùng bằng bán kính.

a) Vẽ hai đường thẳng song song ,
Trên lấy hai điểm ,
Vẽ cung tròn tâm bán kính cắt tại , cung tròn tâm bán kính cắt tại sao cho cắt nhau
Nối với , với được hình thang
b) , , nên
là hình thang, hai đáy
, (hai cung tròn có cùng bán kính) nên
Hình thang có hai đường chéo bằng nhau

Vậy là hình thang cân (Định lí 3).

2Cách 2. Chứng minh trực tiếp hai góc kề đáy bằng nhau

Định hướng. Hạ hai đường vuông góc từ xuống : hai tam giác vuông nhận được có cạnh huyền bằng nhau (hai đường chéo) và một cạnh góc vuông bằng nhau (khoảng cách giữa ).

Kẻ tại , tại
(hai đường thẳng song song , thì cách đều)
(cùng bằng bán kính )
vuông tại , vuông tại
(cạnh huyền — cạnh góc vuông)
, tức là
Hai góc này kề đáy của hình thang

Vậy là hình thang cân (theo định nghĩa).

3Cách 3. Nhìn ra trục đối xứng của cách dựng

Định hướng. Chính cách dựng đã đối xứng: hai cung tròn cùng bán kính, hai tâm , đối xứng qua đường trung trực của , mà hai đường thẳng , cũng biến thành chính nó qua đường đó.

Gọi là đường trung trực của ; (vì )
Phép đối xứng qua biến thành , biến thành , biến thành
Cung tròn tâm bán kính biến thành cung tròn tâm bán kính
Giao điểm của cung tròn tâm với biến thành giao điểm của cung tròn tâm với
Đoạn biến thành đoạn biến thành

Vậy hình thang có hai góc kề đáy bằng nhau nên nó là hình thang cân.

Nhận xét. Ba cách cho thấy ba khuôn mặt của cùng một hình: hai đường chéo bằng nhau, hai góc kề một đáy bằng nhau, và có một trục đối xứng — nắm cả ba thì gặp dạng nào cũng có lối ra.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: đề đã dựng sẵn hai đường chéo bằng nhau nên chỉ việc trích Định lí 3, hai dòng là xong; Cách 2 dành cho lúc chưa được dùng Định lí 3.
Đáp số. Có. Vì nên là hình thang, lại có (cùng bằng bán kính hai cung tròn) nên theo Định lí 3, là hình thang cân.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm khi dựng: lấy cung tròn tâm cắt ở điểm nằm cùng phía với và cung tròn tâm cắt ở điểm nằm cùng phía với nhưng lại nối nhầm thành ; khi đó hai đoạn , không cắt nhau và tứ giác thu được tự cắt chính nó, không còn là hình thang. Sai lầm khi giải thích: nói “ cân vì ” — đó là dùng ngược Định lí 1. Mệnh đề “hình thang có hai cạnh bên bằng nhau thì là hình thang cân” là SAI. Phản ví dụ: tứ giác , cm nhưng còn (khi đó ) — hai cạnh bên bằng nhau mà hai góc kề đáy khác nhau, nên nó không phải hình thang cân.
🚀 Mở rộng. Thử đổi cách dựng: nếu lấy hai cung tròn cùng bán kính nhưng cho chúng cắt sao cho KHÔNG cắt nhau thì tứ giác sẽ có ; hãy giải thích vì sao lúc đó nó vẫn là hình thang nhưng không cân.
Nguồn: SGK Toán 8 — KNTT, tập 1, trang 55
Bài 7 · Vận dụng★★★★Trang 55Giải thích hình cắt ghép nhận được là hình thang cân
Vận dụng (trang 55). Hãy giải bài toán mở đầu (trang 52): Cắt một mảnh giấy hình thang cân bằng một nhát cắt thẳng cắt cả hai cạnh đáy thì được hai hình thang. Lật một trong hai hình thang đó rồi ghép với hình thang còn lại dọc theo các cạnh bên của hình thang ban đầu (H.3.11). Hãy giải thích tại sao hình tạo thành cũng là một hình thang cân.
Kí hiệu như Hình 3.11: hình thang cân () bị cắt bởi với , , được hai hình thang ; lật hình thang rồi ghép vào hình thang dọc theo hai cạnh bên sao cho trùng , trùng ; ảnh của , ảnh của .
AMBN′DNCM′Hình 3.11
Kiến thức cần nhớ
  • Định lí 1: trong hình thang cân, hai cạnh bên bằng nhau.
  • Định lí 2 và Định lí 3: hình thang cân có hai đường chéo bằng nhau, và ngược lại hình thang có hai đường chéo bằng nhau là hình thang cân.
  • Hai góc kề một cạnh bên của hình thang thì bù nhau; hai góc so le trong bằng nhau.
  • Phép lật (đối xứng) giữ nguyên độ dài đoạn thẳng và số đo góc.
🧠 Phân tích tư duy
Đề không cho số đo nào, chỉ cho một phép cắt rồi lật — dấu hiệu của dạng chứng minh dựa vào các đại lượng được phép lật giữ nguyên (độ dài và số đo góc). Câu hỏi phải trả lời trước tiên là “vì sao ghép khít được?”: chỉ vì hai cạnh bên bằng nhau (Định lí 1) — đó cũng là chìa khoá của cả bài. Sau đó, hai đáy mới vẫn nằm trên hai đường thẳng song song cũ nên hình mới chắc chắn là hình thang, chỉ còn so sánh hai góc kề một đáy. Bẫy lớn nhất: vội kết luận “hai cạnh bên của hình mới bằng nhau nên nó là hình thang cân”.
1Cách 1. Theo định nghĩa — so sánh hai góc kề đáy của hình mới

Định hướng. Chứng minh hình ghép là một hình thang (ba điểm thẳng hàng ở mỗi đáy), rồi so sánh hai góc kề đáy dưới bằng một cặp góc so le trong và một câu “phép lật giữ nguyên số đo góc”.

(Định lí 1) nên hai cạnh bên ghép khít, trùng , trùng
, (phép lật giữ nguyên số đo góc)
(hai góc trong cùng phía, )
(hai góc kề đáy của hình thang cân)
nên , , thẳng hàng
(hai góc kề đáy )
nên , , thẳng hàng
nằm trên đường thẳng , nằm trên đường thẳng nên
là hình thang, hai đáy
(hai góc so le trong, )
(phép lật giữ nguyên số đo góc)

Vậy hình thang có hai góc kề đáy bằng nhau nên nó là hình thang cân.

2Cách 2. Dùng hai đường chéo bằng nhau (Định lí 3)

Định hướng. Hai đường chéo , của hình mới chẳng qua là hai đường chéo , của hình cũ được “trượt” đi một đoạn, nên chúng bằng nhau.

, , thẳng hàng và , , thẳng hàng (chứng minh như Cách 1), nên là hình thang
, (phép lật giữ nguyên độ dài)
(hai góc so le trong, , cát tuyến )
là cạnh chung
(c.g.c) nên
(hai góc so le trong, cát tuyến )
là cạnh chung
(c.g.c) nên
(Định lí 2, vì là hình thang cân)

Vậy hình thang có hai đường chéo bằng nhau nên nó là hình thang cân (Định lí 3).

3Cách 3. Đặt tên cho góc của nhát cắt rồi tính đủ bốn góc

Định hướng. Chỉ một ẩn duy nhất là góc giữa nhát cắt và đáy lớn; mọi góc của hình mới đều viết được theo ẩn đó, nhìn bảng góc là thấy ngay hình thang cân.

Đặt (góc giữa nhát cắt và đáy )
(hai góc so le trong, )
, (hai góc kề bù)
Trong hình mới: (tia là tia )
(phép lật giữ nguyên số đo góc)
(tia là tia )
(phép lật giữ nguyên số đo góc)

Vậy hai góc kề đáy cùng bằng (và hai góc kề đáy cùng bằng ) nên là hình thang cân.

Nhận xét. Cách 3 còn cho biết luôn cả bốn góc: nếu nhát cắt vuông góc với hai đáy () thì hình ghép được có bốn góc vuông.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: bám đúng định nghĩa hình thang cân, chỉ cần một cặp góc so le trong cộng một câu “phép lật giữ nguyên số đo góc”; Cách 2 tuy đẹp nhưng phải dựng thêm hai cặp tam giác bằng nhau nên dài gấp đôi.
Đáp số. Hình tạo thành là tứ giác , vậy nó là hình thang cân.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm nặng nhất là lập luận “hình mới có hai cạnh bên do phép lật, nên nó là hình thang cân”. Mệnh đề “hình thang có hai cạnh bên bằng nhau thì là hình thang cân” là SAI. Phản ví dụ: tứ giác , cm nhưng còn (khi đó ) — hai cạnh bên bằng nhau mà hai góc kề đáy khác nhau, nên nó không phải hình thang cân. Sai lầm thứ hai là quên chứng minh , , thẳng hàng và , , thẳng hàng: nếu không có hai điều đó thì hình ghép được chưa chắc đã là tứ giác, nói gì đến hình thang.
🚀 Mở rộng. Thử đổi đề: nếu nhát cắt vuông góc với hai đáy thì và hình ghép được có bốn góc vuông; còn nếu cắt bằng một nhát đi qua trung điểm của cả hai đáy thì hình ghép được có gì đặc biệt so với hình ban đầu?
Nguồn: SGK Toán 8 — KNTT, tập 1, trang 52 và trang 55
Bài 8 · Bài 3.4Trang 55Kiểm tra một hình thang có cân hay không bằng số đo góc
Bài 3.4 (trang 55). Hình thang trong Hình 3.23 có là hình thang cân không? Vì sao? (Hình thang , , .)
120°80°ABDCHình 3.23
Kiến thức cần nhớ
  • Hai góc kề một cạnh bên của hình thang thì bù nhau.
  • Hình thang cân là hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau.
  • Tổng bốn góc của một tứ giác bằng .
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho hai góc ở hai đỉnh không cùng một đáy — đó là chỗ phải cẩn thận: muốn dùng định nghĩa hình thang cân thì phải so sánh hai góc CÙNG kề một đáy, nên bắt buộc phải tính thêm một góc nữa. Đường ngắn nhất là dùng cặp góc trong cùng phía trên cạnh bên để có , rồi so với . Bẫy của đề: thấy không bằng rồi vội kết luận — vốn không phải cặp góc phải bù nhau.
1Cách 1. Tính góc rồi so với góc

Định hướng. Hai góc kề cạnh bên bù nhau, cho ngay ; sau đó so hai góc cùng kề đáy .

(hai góc trong cùng phía, )

(gt)
(vì )
Hai góc kề đáy không bằng nhau

Vậy hình thang trong Hình 3.23 không phải là hình thang cân.

2Cách 2. Tính góc rồi so với góc

Định hướng. Đổi sang cặp góc kề đáy : chỉ cần , lấy từ cặp góc trong cùng phía trên cạnh bên .

(hai góc trong cùng phía, )

(gt)
(vì )
Hai góc kề đáy không bằng nhau

Vậy hình thang trong Hình 3.23 không phải là hình thang cân.

3Cách 3. Phản chứng bằng tổng bốn góc

Định hướng. Giả sử hình thang đó cân thì hai cặp góc kề hai đáy bằng nhau, tổng bốn góc tính được ngay và sẽ vênh với .

Giả sử hình thang () là hình thang cân
(hai góc kề đáy )
(hai góc kề đáy )

(mâu thuẫn với tổng bốn góc của tứ giác)

Vậy điều giả sử là sai, hình thang trong Hình 3.23 không phải là hình thang cân.

Nhận xét. Từ Cách 3 rút ra một mẹo kiểm tra rất nhanh: hình thang () là hình thang cân khi và chỉ khi tổng hai góc ở hai đỉnh chéo nhau, chẳng hạn , đúng bằng .

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: đúng hai phép tính, lại nêu được câu chốt “hai góc kề đáy không bằng nhau” đúng theo định nghĩa; Cách 3 hay để kiểm tra nhanh nhưng phải trình bày phản chứng cẩn thận.
Đáp số. Không. Vì nên , mà , hai góc kề đáy khác nhau.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm phổ biến là so thẳng với rồi viết “ nên không cân” — lập luận này vô căn cứ vì không kề cùng một cạnh bên, chúng không buộc phải bù nhau; thực tế phép so sánh đúng lại cho cùng kết luận nên học sinh tưởng mình làm đúng. Sai lầm thứ hai là kết luận “không cân vì trông hai cạnh bên không bằng nhau” — mắt nhìn không phải là căn cứ, phải tính góc.
🚀 Mở rộng. Cùng cách làm, hãy tìm điều kiện của để hình thang trong Hình 3.23 trở thành hình thang cân khi vẫn giữ : đáp số là , khi đó .
Nguồn: SGK Toán 8 — KNTT, tập 1, trang 55
Bài 9 · Bài 3.5★★★Trang 55Chứng minh hình thang cân từ điều kiện hai đoạn vuông góc bằng nhau
Bài 3.5 (trang 55). Cho hình thang (). Kẻ đường thẳng vuông góc với tại và đường thẳng vuông góc với tại , hai đường thẳng này cắt nhau tại . Chứng minh rằng nếu thì hình thang là hình thang cân.
ABDCEHình bài 3.5
Kiến thức cần nhớ
  • Trong tam giác cân, hai góc ở đáy bằng nhau.
  • Ví dụ 2 (trang 54): hình thang () có thì là hình thang cân.
  • Định lí 3: hình thang có hai đường chéo bằng nhau là hình thang cân.
  • Điểm cách đều hai đầu mút của một đoạn thẳng thì nằm trên đường trung trực của đoạn đó.
🧠 Phân tích tư duy
Giả thiết nói rằng tam giác cân, tức là — đó là dữ kiện góc duy nhất của bài. Hai góc vuông tại và tại dùng để chuyển cặp góc bằng nhau đó sang cặp , tức là cặp góc mà hai đường chéo tạo với đáy lớn — đúng điều kiện của Ví dụ 2 (trang 54). Bẫy của bài: dùng ngay để nói , trong khi chưa chắc nằm trên hai đường chéo.
1Cách 1. Quy về Ví dụ 2 — hai đường chéo tạo với đáy hai góc bằng nhau

Định hướng. Hai góc vuông tại biến cặp góc đáy của tam giác cân thành cặp góc , ; đó chính là giả thiết của Ví dụ 2 đã chứng minh trong bài học.

(gt) nên cân tại
(hai góc ở đáy của tam giác cân)
(vì ) và tia nằm giữa hai tia ,

(vì ) và tia nằm giữa hai tia ,

Vậy hình thang nên nó là hình thang cân (Ví dụ 2).

2Cách 2. Chứng minh hai đường chéo bằng nhau rồi dùng Định lí 3

Định hướng. Từ , gọi giao điểm hai đường chéo là thì có hai tam giác cân chồng lên nhau, cộng lại được .

(gt) nên

Gọi là giao điểm của
nên cân tại , suy ra
, (các cặp góc so le trong, )
nên cân tại , suy ra

Vậy hình thang có hai đường chéo bằng nhau nên nó là hình thang cân (Định lí 3).

3Cách 3. Dùng đường trung trực của làm trục đối xứng

Định hướng. Giả thiết đặt lên đường trung trực của ; lấy đối xứng qua đường đó thì đổi chỗ cho , còn hai đường chéo đổi chỗ cho nhau.

(gt) nên nằm trên đường trung trực của
nên ; phép đối xứng qua biến đường thẳng thành chính nó, biến đường thẳng thành chính nó
Phép đối xứng qua biến thành và giữ nguyên , nên biến tia thành tia
nên ảnh của đường thẳng là đường thẳng
Ảnh của (giao của với ) là giao của với , tức là
Đoạn biến thành đoạn biến thành

Vậy hình thang có hai góc kề đáy bằng nhau nên nó là hình thang cân.

Nhận xét. Cách 3 cho thấy vừa là trung trực của , vừa là trung trực của và là trục đối xứng của cả hình thang — nhìn ra trục này thì mọi kết luận về hình thang cân đều hiện ra cùng lúc.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: chỉ bốn dòng, lại tận dụng được Ví dụ 2 vừa học ngay trong bài nên không phải chứng minh lại; Cách 2 là “bản đầy đủ” của Cách 1 khi không được phép trích Ví dụ 2.
Đáp số. Từ suy ra , do đó ; vậy là hình thang cân.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm thường gặp là viết ngay “ nên ”: hai đoạn , không phải là phần của hai đường chéo, chúng chỉ vuông góc với hai đường chéo, nên không có phép cộng nào cho ra điều đó. Sai lầm thứ hai là quên nói tia nằm giữa hai tia khi tách — thiếu câu này thì phép trừ chưa có căn cứ.
🚀 Mở rộng. Chiều ngược lại cũng đúng: nếu là hình thang cân thì hai đường thẳng nói trên cắt nhau tại một điểm nằm trên trục đối xứng và ; hãy chứng minh chiều này rồi phát biểu gộp thành một dấu hiệu nhận biết mới.
Nguồn: SGK Toán 8 — KNTT, tập 1, trang 55
Bài 10 · Bài 3.6★★Trang 55Dựng hình thang cân biết đáy lớn, cạnh bên và đường chéo
Bài 3.6 (trang 55). Vẽ hình thang cân () biết đáy lớn dài cm, cạnh bên dài cm và đường chéo dài cm.
ABDC4 cm2 cm3 cm1,25 cmHình bài 3.6
Kiến thức cần nhớ
  • Bất đẳng thức tam giác: dựng được tam giác có ba cạnh , , khi tổng hai cạnh bất kì lớn hơn cạnh còn lại.
  • Hình thang cân có hai cạnh bên bằng nhau (Định lí 1) và hai đường chéo bằng nhau (Định lí 2).
  • Định lí 3: hình thang có hai đường chéo bằng nhau là hình thang cân.
  • Hai điểm đối xứng qua một đường thẳng thì đường thẳng đó là trung trực của đoạn nối chúng.
🧠 Phân tích tư duy
Bài dựng hình nên phải tìm một tam giác dựng được ngay từ ba dữ kiện: tam giác có đủ ba cạnh cm, cm, cm (kiểm tra nên dựng được). Dựng xong tam giác đó thì đỉnh còn lại chỉ là điểm đối xứng của qua trung trực của , vì hình thang cân nhận đường đó làm trục đối xứng. Bẫy của bài: dựng bằng cách lấy cm trên đường thẳng qua song song với thì có hai giao điểm, một trong hai điểm cho tứ giác có , không phải hình thang cân.
1Cách 1. Dựng đáy lớn rồi cắt hai cặp cung tròn

Định hướng. Đáy lớn cho trước, mỗi đỉnh còn lại là giao của hai cung tròn: một cung mang cạnh bên, một cung mang đường chéo.

Vẽ đoạn thẳng cm
Vẽ cung tròn tâm bán kính cm và cung tròn tâm bán kính cm, chúng cắt nhau tại ( nên hai cung cắt nhau)
Vẽ cung tròn tâm bán kính cm và cung tròn tâm bán kính cm, chúng cắt nhau tại nằm cùng phía với đối với
Nối với , với , với
cm và cm nên đối xứng nhau qua đường trung trực của
vuông góc với đường trung trực của , mà cũng vuông góc với đường đó, nên
là hình thang có hai đường chéo cm

Vậy là hình thang cân cần vẽ (Định lí 3).

2Cách 2. Dựng tam giác rồi lấy đối xứng qua trung trực của

Định hướng. Ba dữ kiện của đề gom đúng vào tam giác ; đỉnh sinh ra từ trục đối xứng nên không phải chọn lựa gì thêm.

Vẽ cm, cm, cm
Dựng đường trung trực của đoạn
Lấy đối xứng với qua
Phép đối xứng qua biến thành , thành nên cm và cm
là trung trực của nên , suy ra
(hai góc tương ứng qua phép đối xứng trục)

Vậy là hình thang cân cần vẽ, với cm và cm.

3Cách 3. Dựng tam giác rồi kẻ đường thẳng song song

Định hướng. Dựng trước tam giác chứa cạnh bên và đường chéo , sau đó tìm trên đường thẳng qua song song với — nhớ chọn đúng một trong hai giao điểm.

Vẽ cm, cm, cm ( nên dựng được)
Qua vẽ đường thẳng song song với
Vẽ cung tròn tâm bán kính cm cắt tại hai điểm; chọn điểm sao cho ngắn hơn nằm cùng phía với
là hình thang () có cm
Nếu chọn giao điểm còn lại thì cm, khi đó và hai đường chéo không bằng nhau

Vậy với cách chọn trên, là hình thang cân cần vẽ (Định lí 3).

Nhận xét. Đo lại trên hình vẽ được đáy nhỏ cm và chiều cao khoảng cm; đó cũng là giá trị đúng, sẽ tính được chính xác khi học định lí Pythagore.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 2: chỉ phải dựng một tam giác và một đường trung trực, lại giải thích được ngay vì sao nhờ trục đối xứng — không phải bàn xem chọn giao điểm nào như Cách 3.
Đáp số. Vẽ được hình thang cân với cm, cm, cm; khi đó đáy nhỏ cm.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là dựng chỉ theo hai cạnh bên cm rồi tin rằng “hai cạnh bên bằng nhau nên là hình thang cân”. Mệnh đề “hình thang có hai cạnh bên bằng nhau thì là hình thang cân” là SAI. Phản ví dụ: tứ giác , cm nhưng còn (khi đó ) — hai cạnh bên bằng nhau mà hai góc kề đáy khác nhau, nên nó không phải hình thang cân. Trên hình dựng, nếu lấy nhầm giao điểm thì được đúng tứ giác kiểu đó: cm, cm mà hai đường chéo lại khác nhau. Sai lầm thứ hai là quên kiểm tra trước khi dựng tam giác.
🚀 Mở rộng. Cùng cách dựng, hãy tìm xem với đáy lớn cm và cạnh bên cm thì đường chéo có thể nhận những giá trị nào để vẫn dựng được hình thang cân (gợi ý: dùng bất đẳng thức tam giác cho và loại trường hợp ).
Nguồn: SGK Toán 8 — KNTT, tập 1, trang 55
Bài 11 · Bài 3.7★★★Trang 55Chứng minh hai đoạn bằng nhau nhờ tia phân giác và hình thang cân
Bài 3.7 (trang 55). Hai tia phân giác của hai góc , của hình thang cân () cắt nhau tại điểm trên cạnh đáy . Chứng minh rằng .
ABDCEHình bài 3.7
Kiến thức cần nhớ
  • Tia phân giác chia một góc thành hai góc bằng nhau.
  • Hai góc so le trong tạo bởi hai đường thẳng song song thì bằng nhau.
  • Tam giác có hai góc bằng nhau là tam giác cân.
  • Định lí 1: trong hình thang cân, hai cạnh bên bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Có tia phân giác lại có hai đường thẳng song song — đó là cặp dữ kiện kinh điển sinh ra tam giác cân: góc do tia phân giác tạo ra bằng góc so le trong ở đáy kia. Vì vậy nên nghĩ ngay tới hai tam giác , và chứng minh chúng cân, khi đó , được thay bằng , — hai cạnh bên bằng nhau. Bẫy của đề: là NỬA của , chứ không bằng .
1Cách 1. Hai tam giác cân

Định hướng. Góc do tia phân giác tạo ra ở đỉnh bằng góc so le trong tại , nên tam giác cân tại ; làm tương tự ở đỉnh rồi ghép hai kết quả bằng Định lí 1.

( là tia phân giác của )
(hai góc so le trong, )
nên cân tại , suy ra
( là tia phân giác của )
(hai góc so le trong, )
nên cân tại , suy ra
(Định lí 1)

Vậy .

2Cách 2. Hai tam giác bằng nhau (g.c.g)

Định hướng. Ghép thẳng hai tam giác chứa : chúng có cạnh bên bằng nhau, góc ở đáy lớn bằng nhau, còn hai nửa góc , cũng bằng nhau vì hai góc , bằng nhau.

(hai góc kề đáy của hình thang cân)
(hai tia phân giác)
(Định lí 1)
(hai góc kề đáy của hình thang cân)
(g.c.g)
(hai cạnh tương ứng)

Vậy .

3Cách 3. Dùng trục đối xứng của hình thang cân

Định hướng. Trục đối xứng biến thành nên biến tia phân giác góc thành tia phân giác góc ; giao điểm của hai tia đó buộc phải nằm trên trục.

Gọi là đường trung trực của
(hình thang cân) nên phép đối xứng qua biến thành , biến thành
là trung trực của cả
Phép đối xứng qua biến tia phân giác của thành tia phân giác của
Ảnh của là giao điểm của hai tia phân giác đó, cũng chính là
nằm trên , mà là trung trực của

Vậy (và là trung điểm của ).

Nhận xét. Từ Cách 1 còn suy ra : hai tia phân giác của hai góc kề đáy nhỏ chỉ cắt nhau ĐÚNG trên đáy lớn khi đáy lớn gấp đôi cạnh bên.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: chỉ dùng hai tam giác cân và Định lí 1, mỗi dòng một căn cứ rõ ràng; Cách 2 ngắn hơn nhưng phải viết cẩn thận bước chia đôi hai góc bằng nhau.
Đáp số. ; hơn nữa là trung điểm của .
Sai lầm thường gặp. Sai lầm thường gặp là viết “vì so le trong” — sai vị trí góc: góc so le trong với chứ không phải ; nếu lấy nhầm thì tam giác hoá ra cân tại , dẫn tới kết luận sai . Sai lầm thứ hai là coi , tức là quên mất chỉ chia đôi góc .
🚀 Mở rộng. Đổi đề một chút: nếu hai tia phân giác của cắt nhau tại điểm nằm NGOÀI cạnh thì lớn hơn hay nhỏ hơn ? Hãy dùng kết quả , để trả lời.
Nguồn: SGK Toán 8 — KNTT, tập 1, trang 55
Bài 12 · Bài 3.8★★★Trang 55Chứng minh một đường thẳng là trung trực nhờ hai điểm cách đều
Bài 3.8 (trang 55). Hình thang cân () có các đường thẳng , cắt nhau tại , các đường thẳng , cắt nhau tại . Chứng minh rằng đường thẳng là đường trung trực của đoạn thẳng .
IJABDCHình bài 3.8
Kiến thức cần nhớ
  • Điểm cách đều hai đầu mút của một đoạn thẳng thì nằm trên đường trung trực của đoạn thẳng đó.
  • Tam giác có hai góc bằng nhau là tam giác cân.
  • Định lí 1 và Định lí 2: hình thang cân có hai cạnh bên bằng nhau và hai đường chéo bằng nhau.
  • Hai góc đồng vị (hoặc so le trong) tạo bởi hai đường thẳng song song thì bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Muốn chứng minh một ĐƯỜNG THẲNG là trung trực của , cách gọn nhất không phải là đi tìm trung điểm và góc vuông, mà là chỉ ra hai điểm phân biệt của nó cùng cách đều — ở đây có sẵn hai điểm . Vậy bài quy về hai việc nhỏ: , cả hai đều đến từ tam giác cân. Bẫy của đề: chứng minh xong rồi kết luận luôn “ là trung trực” — một điểm cách đều thì chưa đủ, phải có hai điểm.
1Cách 1. Hai tam giác cân dựng trên đáy nhỏ

Định hướng. Chỉ cần cả đều là đỉnh của một tam giác cân nhận làm đáy; khi đó cả hai cùng cách đều .

, (các cặp góc đồng vị, )
(hai góc kề đáy của hình thang cân)
nên cân tại , suy ra
(Định lí 1), (hai góc kề đáy ), chung
(c.g.c), suy ra
nên cân tại , suy ra
cùng cách đều , lại là hai điểm phân biệt

Vậy đường thẳng là đường trung trực của đoạn thẳng .

2Cách 2. Hai tam giác cân dựng trên đáy lớn

Định hướng. Làm việc với đáy lớn: đều cân, rồi trừ đi cạnh bên và đường chéo (đã bằng nhau) là ra , .

(hai góc kề đáy của hình thang cân) nên cân tại , suy ra
(Định lí 1)

(c.g.c, kết quả HĐ2) nên
cân tại , suy ra
(Định lí 2)

, là hai điểm phân biệt cùng cách đều

Vậy đường thẳng là đường trung trực của đoạn thẳng .

3Cách 3. Dùng trục đối xứng của hình thang cân

Định hướng. Trục đối xứng của hình thang cân biến thành , thành ; mọi giao điểm của một cặp đường thẳng đối xứng nhau đều phải nằm trên .

Gọi là đường trung trực của
nên phép đối xứng qua biến thành , biến thành
Đường thẳng biến thành đường thẳng , nên giao điểm của chúng biến thành chính nó, suy ra
Đường thẳng biến thành đường thẳng , nên giao điểm của chúng biến thành chính nó, suy ra
nên đường thẳng trùng với

Vậy đường thẳng là đường trung trực của đoạn thẳng .

Nhận xét. cũng là trung trực của nên đi qua trung điểm của cả hai đáy: đường thẳng chính là trục đối xứng của hình thang cân .

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: hai tam giác cân đều dựng trên nên kết luận “cách đều” hiện ra ngay, không phải trừ đoạn như Cách 2; Cách 3 đẹp nhất nhưng phải trình bày phép đối xứng thật chặt.
Đáp số. nên , cùng nằm trên đường trung trực của ; vậy đường thẳng là đường trung trực của (đồng thời là trục đối xứng của hình thang cân ).
Sai lầm thường gặp. Sai lầm thường gặp là chỉ chứng minh rồi kết luận ngay “ là trung trực của ”: một điểm cách đều chỉ cho biết nằm TRÊN đường trung trực, còn muốn xác định cả đường thẳng thì cần hai điểm phân biệt. Sai lầm thứ hai là dùng để suy ra là trung điểm của nằm ngoài đoạn , nó chỉ cách đều hai đầu mút mà thôi.
🚀 Mở rộng. Cùng cách làm, gọi là giao điểm của hai đường trung trực của hai cạnh bên; hãy chứng minh cũng nằm trên đường thẳng , từ đó suy ra bốn đỉnh của hình thang cân luôn nằm trên một đường tròn.
Nguồn: SGK Toán 8 — KNTT, tập 1, trang 55