Bài 1 · Ví dụ★★Trang 73— Chứng minh tứ giác là hình vuông từ giao điểm của hai đường tròn
Ví dụ (trang 73). Cho ba điểm A, B, D sao cho AB=AD và AB vuông góc với AD. Vẽ hai đường tròn cùng đi qua A, lần lượt có tâm là B và D. Hai đường tròn đó còn cắt nhau tại điểm C. Chứng minh ABCD là một hình vuông.
Kiến thức cần nhớ
Điểm nằm trên đường tròn tâm O bán kính R thì cách O một khoảng bằng R.
Tứ giác có bốn cạnh bằng nhau là hình thoi (định nghĩa).
Hình thoi có một góc vuông là hình vuông (Chú ý, Bài 14).
🧠 Phân tích tư duy
Điểm C nằm trên cả hai đường tròn nên cho ngay hai cặp bán kính bằng nhau: CB=AB (đường tròn tâm B) và CD=AD (đường tròn tâm D). Ghép với giả thiết AB=AD, bốn cạnh AB,BC,CD,DA bằng nhau ngay lập tức — đúng dấu hiệu định nghĩa hình thoi; chỉ còn góc vuông có sẵn ở A để chốt hình vuông, không cần dựng thêm đường phụ nào.
1Cách 1. Dùng bán kính hai đường tròn (như SGK gợi ý)
Định hướng.C là giao điểm của hai đường tròn nên C nằm trên cả hai, cho ngay CB=AB và CD=AD; ghép với giả thiết AB=AD là đủ bốn cạnh bằng nhau.
C nằm trên đường tròn tâm B đi qua A nên BC=BA C nằm trên đường tròn tâm D đi qua A nên DC=DA Theo giả thiết AB=AD nên bốn cạnh DC=AD=AB=BC bằng nhau, tức ABCD là hình thoi (định nghĩa) Theo giả thiết AB⊥AD nên góc A của hình thoi ABCD bằng 90∘
Vậy hình thoi ABCD có một góc vuông tại A nên ABCD là một hình vuông.
2Cách 2. Toạ độ hoá với gốc tại A
Định hướng. Vì AB⊥AD nên đặt luôn hai tia đó làm hai trục toạ độ, giải hệ phương trình hai đường tròn để tìm toạ độ C rồi đọc thẳng ra hình vuông.
Chọn hệ trục Oxy với gốc A, tia AB là trục hoành dương, tia AD là trục tung dương (hợp lệ vì AB⊥AD); đặt AB=AD=a thì B(a;0), D(0;a) C thuộc đường tròn tâm B bán kính a: (x−a)2+y2=a2; C thuộc đường tròn tâm D bán kính a: x2+(y−a)2=a2 Trừ hai phương trình: (x−a)2−x2=(y−a)2−y2⇔−2ax+a2=−2ay+a2⇔x=y Thế x=y vào phương trình đầu: (x−a)2+x2=a2⇔2x2−2ax=0⇔x=0 (ứng với điểm A, loại) hoặc x=a Vậy C(a;a), tức bốn đỉnh A(0;0), B(a;0), C(a;a), D(0;a)
VậyABCD có bốn cạnh cùng bằng a và các cạnh liên tiếp cùng phương với hai trục toạ độ vuông góc, nên ABCD là hình vuông cạnh a.
3Cách 3. Dùng hai đường trung trực (đường chéo AC, BD)
Định hướng.A và C đều cách đều B,D; B và D đều cách đều A,C — hai lần áp tính chất đường trung trực cho ngay hai đường chéo vừa vuông góc vừa cắt nhau tại trung điểm mỗi đường, tức ABCD là hình thoi mà không cần đếm cạnh trực tiếp.
BA=BC=a (bán kính đường tròn tâm B) nên B cách đều A,C; DA=DC=a (bán kính đường tròn tâm D) nên D cách đều A,C⇒B,D cùng nằm trên đường trung trực của AC, tức đường thẳng BD là đường trung trực của AC AB=AD=a (giả thiết) nên A cách đều B,D; CB=CD=a (vừa chứng minh ở trên) nên C cách đều B,D⇒ đường thẳng AC là đường trung trực của BD Gọi O là giao điểm của AC và BD: vì BD là trung trực của AC nên O là trung điểm AC và BD⊥AC; vì AC là trung trực của BD nên O cũng là trung điểm BD Hai đường chéo AC, BD cắt nhau tại trung điểm O của mỗi đường và vuông góc với nhau nên ABCD là hình thoi (Định lí 2b, Bài 14)
Vậy hình thoi ABCD có góc A vuông (giả thiết AB⊥AD) nên ABCD là hình vuông.
Nhận xét. Cách này không cần đếm bốn cạnh bằng nhau trực tiếp mà đi thẳng vào tính chất đường chéo — hữu ích khi đề chỉ cho dữ kiện về đường tròn thay vì về cạnh.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1 (bán kính hai đường tròn) đúng theo gợi ý SGK: chỉ bốn dòng là ra hình thoi có góc vuông, ngắn gọn nhất.
Đáp số.ABCD là hình vuông (bốn cạnh bằng nhau và có một góc vuông tại A).
Sai lầm thường gặp.Có bạn chỉ nêu BC=BA, DC=DA rồi kết luận ngay “ABCD là hình vuông” mà quên ghép với giả thiết AB=AD để có đủ chuỗi bốn đoạn bằng nhau DC=AD=AB=BC — thiếu bước này thì mới chỉ có hai cặp cạnh kề bằng nhau chứ chưa chắc là hình thoi.
🚀 Mở rộng.Nếu bỏ điều kiện AB⊥AD (chỉ giữ AB=AD), lập luận y hệt vẫn cho ABCD là hình thoi nhưng chưa chắc là hình vuông — điều kiện vuông góc tại A chính là mảnh ghép còn thiếu để lên hình vuông.
Bài 2 · 3.34★★★Trang 73— Tứ giác dựng từ trung điểm cạnh và điểm đối xứng — nhận diện hình đặc biệt qua đường trung bình
3.34 (trang 73). Cho tam giác ABC; M và N lần lượt là trung điểm của hai cạnh AB và AC. Lấy điểm P sao cho N là trung điểm của đoạn thẳng MP. a) Hỏi tứ giác AMCP là hình gì? Vì sao? b) Với điều kiện nào của tam giác ABC thì tứ giác AMCP là hình chữ nhật; hình thoi; hình vuông?
Kiến thức cần nhớ
Tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường là hình bình hành.
Đường trung bình của tam giác song song với cạnh thứ ba và bằng nửa cạnh ấy.
Hình bình hành có hai đường chéo bằng nhau là hình chữ nhật; có hai đường chéo vuông góc là hình thoi; có cả hai điều kiện là hình vuông.
🧠 Phân tích tư duy
Hai đường chéo của tứ giác AMCP chính là AC và MP; đề đã cho sẵn N là trung điểm của cả AC (vì N là trung điểm cạnh AC) lẫn MP (theo cách dựng P) — đúng dấu hiệu “hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường” nên câu a) gần như cho không. Ở câu b), mấu chốt là nhận ra MN chính là đường trung bình của tam giác ABC (song song và bằng nửa BC), nên MP=2MN=BC và MP∥BC — từ đó chỉ cần so sánh AC với BC (bằng nhau ⇒ chữ nhật) hoặc vuông góc với BC (⇒ thoi) là quy được bài toán về đúng ngôn ngữ quen thuộc của tam giác ABC.
1Cách 1. Đọc thẳng trung điểm chung của hai đường chéo
Định hướng. Hai đường chéo của tứ giác AMCP là AC và MP; chỉ cần đọc đúng giả thiết là thấy ngay cả hai đều nhận N làm trung điểm, cho hình bình hành tức khắc.
N là trung điểm của AC (giả thiết: N là trung điểm cạnh AC) N là trung điểm của MP (giả thiết: N là trung điểm đoạn thẳng MP) Tứ giác AMCP có hai đường chéo AC, MP cắt nhau tại N là trung điểm của mỗi đường Suy ra AMCP là hình bình hành (a) Trong tam giác ABC, M, N lần lượt là trung điểm AB, AC nên MN là đường trung bình, do đó MN∥BC và MN=21BC N là trung điểm MP nên MP=2MN=BC, đồng thời MP nằm trên đường thẳng MN nên MP∥BC Hình bình hành AMCP là hình chữ nhật ⇔ hai đường chéo bằng nhau AC=MP⇔AC=BC Hình bình hành AMCP là hình thoi ⇔ hai đường chéo vuông góc AC⊥MP⇔AC⊥BC (vì MP∥BC) AMCP là hình vuông ⇔ đồng thời cả hai điều kiện trên
Vậy a) AMCP là hình bình hành. b) AMCP là hình chữ nhật ⇔△ABC cân tại C (AC=BC); là hình thoi ⇔△ABC vuông tại C; là hình vuông ⇔△ABC vuông cân tại C.
2Cách 2. Vectơ — công thức trung điểm
Định hướng. Biểu diễn M,N,P theo A,B,C bằng công thức trung điểm rồi tính trực tiếp hai vectơ cạnh đối và hai vectơ đường chéo — không cần vẽ hình để "thấy" trung điểm chung.
M=2A+B, N=2A+C; vì N là trung điểm MP nên P=2N−M=2A+C−2B AM=M−A=2B−A; PC=C−P=C−(2A+C−2B)=2B−A Suy ra AM=PC, tức AM∥PC và AM=PC (a) AC=C−A; MP=P−M=(2A+C−2B)−2A+B=C−B=BC AMCP là hình chữ nhật ⇔∣AC∣=∣MP∣⇔AC=BC AMCP là hình thoi ⇔AC⋅MP=0⇔AC⋅BC=0⇔AC⊥BC
Vậy a) AMCP có một cặp cạnh đối AM, PC vừa song song vừa bằng nhau nên là hình bình hành. b) Kết quả trùng Cách 1: hình chữ nhật khi AC=BC, hình thoi khi AC⊥BC, hình vuông khi cả hai.
Nhận xét. Đẳng thức vectơ MP=BC cho luôn cả độ dài lẫn phương song song trong một bước, không cần xét riêng đường trung bình.
3Cách 3. Hai tam giác bằng nhau ΔANM = ΔCNP
Định hướng. Không dùng thẳng định lí "trung điểm chung hai đường chéo", mà dựng lại từ hai tam giác bằng nhau tạo bởi giao điểm N — cách trình bày quen thuộc với học sinh mới học dấu hiệu hình bình hành.
Xét △ANM và △CNP: AN=CN (N trung điểm AC), MN=PN (N trung điểm MP), ANM=CNP (hai góc đối đỉnh) ⇒△ANM=△CNP (c.g.c) ⇒AM=CP và MAN=PCN Hai góc MAN, PCN ở vị trí so le trong của hai đường thẳng AM, CP cắt bởi cát tuyến AC nên AM∥CP Tứ giác AMCP có AM=CP và AM∥CP nên là hình bình hành (a) Trong △ABC, MN là đường trung bình nên MN∥BC, MN=21BC, suy ra MP=BC và MP∥BC (vì M,N,P thẳng hàng)
Vậy a) AMCP là hình bình hành. b) Áp lại hai đường chéo AC, MP=BC như Cách 1: hình chữ nhật khi △ABC cân tại C, hình thoi khi △ABC vuông tại C, hình vuông khi △ABC vuông cân tại C.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: đọc thẳng N là trung điểm chung của AC, MP để ra hình bình hành trong một dòng, không cần chứng minh lại bằng tam giác bằng nhau.
Đáp số.a) AMCP là hình bình hành. b) Hình chữ nhật ⇔AC=BC (△ABC cân tại C); hình thoi ⇔AC⊥BC (△ABC vuông tại C); hình vuông ⇔△ABC vuông cân tại C.
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn ở câu b) so sánh nhầm điều kiện với cạnh AB (đường trung bình MN chứ không phải MP) — cần nhớ đường chéo cần so sánh với AC là MP (bằng cả đoạn BC, không phải nửa BC), vì N đã nhân đôi MN thành MP.
🚀 Mở rộng.Nếu thay N là trung điểm AC bằng một điểm bất kì trên AC (không phải trung điểm) thì AMCP không còn chắc là hình bình hành — chính tính chất trung điểm kép mới đảm bảo hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường.
Bài 3 · 3.35★★★Trang 73— Tứ giác tạo bởi các tia phân giác góc của hình bình hành
3.35 (trang 73). Cho hình bình hành ABCD. Các tia phân giác của các góc A, B, C, D cắt nhau như trên Hình 3.58. Chứng minh rằng EFGH là hình chữ nhật.
Kiến thức cần nhớ
Hai đường thẳng song song bị cắt bởi một cát tuyến thì hai góc trong cùng phía bù nhau.
Tổng ba góc của một tam giác bằng 180∘.
Tứ giác có bốn góc đều vuông là hình chữ nhật.
🧠 Phân tích tư duy
Hình bình hành có hai cặp góc kề bù dọc theo mỗi cạnh (chẳng hạn A+D=180∘ vì AB∥CD). Khi chia đôi mỗi góc bằng tia phân giác, tổng hai nửa góc kề bù đó luôn bằng 90∘ — đây chính là “máy in” góc vuông tại từng đỉnh của EFGH, không cần biết hình bình hành cụ thể ra sao. Bốn lần lặp lại đúng một lập luận ấy ở bốn cạnh cho ngay bốn góc vuông.
1Cách 1. Tính trực tiếp bốn góc vuông từ các cặp góc kề bù
Định hướng. Tại mỗi đỉnh của EFGH (giao điểm hai tia phân giác kề nhau), xét tam giác nhỏ tạo bởi hai nửa góc kề bù của hình bình hành; tổng hai nửa góc ấy luôn là 90∘ nên góc còn lại của tam giác — cũng là góc của EFGH — bằng 90∘.
ABCD là hình bình hành nên AB∥CD, suy ra A+D=180∘ (hai góc trong cùng phía) Xét tam giác AHD (H là giao điểm của tia phân giác góc A và tia phân giác góc D): HAD=21A, HDA=21D, nên HAD+HDA=21(A+D)=90∘ Trong tam giác AHD: AHD=180∘−(HAD+HDA)=180∘−90∘=90∘, tức H=90∘ Tương tự, AD∥BC nên A+B=180∘; xét tam giác AEB (E là giao tia phân giác góc A và góc B) được AEB=90∘, tức E=90∘ Lặp lại với cặp góc B+C=180∘ tại F và cặp C+D=180∘ tại G, đều cho F=G=90∘
Vậy tứ giác EFGH có cả bốn góc E=F=G=H=90∘ nên EFGH là hình chữ nhật.
2Cách 2. Chứng minh hình bình hành trước rồi chỉ ra một góc vuông
Định hướng. Thay vì tính cả bốn góc, chỉ cần chứng minh EFGH đã là hình bình hành (từ tính chất đối xứng của hình bình hành ABCD qua tâm), rồi dùng đúng một góc vuông đã tính ở Cách 1 để kết luận — ngắn hơn vì không lặp lại lập luận bốn lần.
Gọi O là tâm đối xứng của hình bình hành ABCD (giao điểm hai đường chéo); phép đối xứng tâm O biến A↔C, B↔D và biến tia phân giác góc A thành tia phân giác góc C (vì A=C, hai góc đối của hình bình hành), tương tự tia phân giác góc B thành tia phân giác góc D Do đó phép đối xứng tâm O biến giao điểm E (của hai phân giác góc A, B) thành giao điểm G (của hai phân giác góc C, D), tức O là trung điểm EG; tương tự O là trung điểm HF Tứ giác EFGH có hai đường chéo EG, HF cùng nhận O làm trung điểm nên EFGH là hình bình hành Theo Cách 1, H=90∘ (từ tam giác AHD có HAD+HDA=90∘)
VậyEFGH là hình bình hành có một góc vuông tại H nên EFGH là hình chữ nhật.
Nhận xét. Cách này chỉ cần dựng một góc vuông duy nhất thay vì tính đủ bốn góc như Cách 1, nhưng phải biện luận thêm bước đối xứng tâm để có hình bình hành.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ dùng tính chất góc trong cùng phía và tổng ba góc tam giác, không cần biện luận phép đối xứng tâm — dễ trình bày và chấm điểm hơn.
Đáp số.EFGH là hình chữ nhật (có bốn góc vuông).
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn chỉ tính được một góc vuông (ví dụ H=90∘) rồi kết luận ngay EFGH là hình chữ nhật mà chưa chỉ ra EFGH là hình bình hành trước — một tứ giác có đúng một góc vuông chưa chắc là hình chữ nhật, phải có đủ bốn góc vuông (Cách 1) hoặc hình bình hành + một góc vuông (Cách 2).
🚀 Mở rộng.Kết quả này đúng cho MỌI hình bình hành (không cần hình chữ nhật hay hình thoi): chỉ cần có hai cặp cạnh đối song song là đã đủ hai cặp góc kề bù để tạo ra bốn góc vuông ở EFGH.
Bài 4 · 3.36★★Trang 73— Vận dụng dấu hiệu hình bình hành và tính chất cứng của tam giác vào một tình huống thực tế
3.36 (trang 73). Một khung tre hình chữ nhật có lắp đinh vít tại bốn đỉnh. Khi khung tre này bị xô lệch (do các đinh vít bị lỏng), các góc không còn vuông nữa thì khung đó là hình gì? Tại sao? Hỏi khi nẹp thêm một đường chéo vào khung đó thì nó còn bị xô lệch không?
Kiến thức cần nhớ
Tứ giác có các cặp cạnh đối bằng nhau là hình bình hành.
Một tam giác có độ dài ba cạnh xác định thì hình dạng của tam giác đó là duy nhất (không thể biến dạng nếu giữ nguyên ba cạnh).
🧠 Phân tích tư duy
Bốn thanh tre là bốn đoạn thẳng cứng, độ dài không đổi dù đinh vít lỏng; điều duy nhất thay đổi khi khung “xô lệch” là các góc ở đỉnh. Vì hai cặp cạnh đối vẫn giữ nguyên độ dài bằng nhau (đúng dấu hiệu nhận biết hình bình hành), khung luôn là một hình bình hành ở mọi trạng thái xô lệch — chỉ có hình chữ nhật ban đầu là trường hợp đặc biệt khi góc còn vuông. Câu hỏi về đường chéo lại dùng một tính chất khác hẳn: tam giác với ba cạnh cố định thì hình dạng cố định (không xô lệch được), nên nẹp chéo là biến một hình bình hành “mềm” thành hai tam giác “cứng”.
1Cách 1. Dùng dấu hiệu cạnh đối bằng nhau
Định hướng. Bốn đinh vít chỉ cho phép các góc ở đỉnh thay đổi tự do, còn bốn thanh tre (bốn cạnh) vẫn giữ nguyên độ dài như lúc còn là hình chữ nhật; so khớp với đúng dấu hiệu nhận biết hình bình hành bằng cạnh đối.
Gọi khung tre ban đầu là hình chữ nhật ABCD với AB=CD, BC=AD (hai cặp cạnh đối bằng nhau) Khi các đinh vít ở bốn đỉnh bị lỏng, các góc A,B,C,D có thể thay đổi tự do nhưng độ dài bốn thanh tre AB,BC,CD,DA không đổi (thanh tre cứng, không co giãn) Tứ giác mới vẫn có AB=CD và BC=AD (hai cặp cạnh đối bằng nhau) Tứ giác có các cặp cạnh đối bằng nhau là hình bình hành
Vậy khung tre bị xô lệch trở thành một hình bình hành (không còn là hình chữ nhật vì các góc không còn vuông).
2Cách 2. Dùng phép đối xứng tâm (tính chất biến hình)
Định hướng. Vì khung là một cơ cấu bốn thanh khớp nối tại bốn đỉnh (một “tứ giác khớp bản lề”), điểm cắt hai đường chéo luôn là tâm đối xứng của cơ cấu ở mọi vị trí xô lệch — đây là bản chất cơ khí khác với việc chỉ so cạnh.
Gọi O là giao điểm hai thanh chéo ảo nối hai đỉnh đối diện A,C và B,D của khung ban đầu (hình chữ nhật) — vì hình chữ nhật có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường nên O là trung điểm cả AC lẫn BD Cơ cấu bốn thanh AB,BC,CD,DA khớp nối tại A,B,C,D chỉ có thể biến dạng bằng cách quay quanh các khớp, nhưng khoảng cách từ mỗi đỉnh tới các đỉnh kề vẫn giữ nguyên (độ dài thanh không đổi) và toàn bộ cơ cấu vẫn đối xứng nhau từng cặp đỉnh đối diện qua O do cấu trúc hình bình hành duy trì Điều này cho lại đúng kết luận: O vẫn là trung điểm của cả hai "đường chéo" nối đỉnh đối diện ở mọi trạng thái xô lệch, tức tứ giác luôn có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường
Vậy khung tre luôn là hình bình hành ở mọi trạng thái xô lệch (dấu hiệu hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường), khớp với kết luận của Cách 1.
Nhận xét. Khi nẹp thêm một đường chéo (ví dụ AC) vào khung: đường chéo chia hình bình hành thành hai tam giác ABC và ACD, mỗi tam giác có ba cạnh cố định (hai cạnh khung cộng đường chéo mới) nên hình dạng của mỗi tam giác là duy nhất, không thể biến dạng thêm. Do đó khung được nẹp chéo sẽ không còn bị xô lệch nữa — nó trở thành một cơ cấu cứng, giữ nguyên hình dạng tại thời điểm nẹp (hình bình hành lúc đó, có thể không còn là hình chữ nhật nếu đã bị lệch trước khi nẹp).
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: so sánh trực tiếp các cặp cạnh đối bằng nhau, ngắn gọn và không cần lập luận về tâm đối xứng.
Đáp số.Khung tre bị xô lệch trở thành một hình bình hành. Khi nẹp thêm một đường chéo, khung không còn bị xô lệch nữa (tam giác có ba cạnh cố định thì hình dạng cố định).
Sai lầm thường gặp.Có bạn cho rằng khung xô lệch có thể trở thành "tứ giác bất kì" (không có tính chất đặc biệt gì) — cần nhớ bốn thanh tre không đổi độ dài, nên hai cặp cạnh đối vẫn luôn bằng nhau, đủ điều kiện là hình bình hành chứ không phải một tứ giác tuỳ ý.
🚀 Mở rộng.Đây chính là nguyên lí thực tế dùng trong xây dựng và cơ khí: giàn giáo, cửa cổng xếp thường dùng khớp bản lề hình bình hành để gấp gọn; ngược lại, muốn khung giữ cố định hình dạng (như khung cửa, dàn mái) người ta luôn nẹp thêm thanh chéo để biến các mặt thành tam giác cứng.
Bài 5 · 3.37★★★Trang 73— Nhận diện tứ giác từ tia phân giác của hai góc kề bù và hai chân đường vuông góc
3.37 (trang 73). Gọi Ou và Ov lần lượt là hai tia phân giác của hai góc kề bù xOy và x′Oy; A là một điểm khác O trên tia Ox. Gọi B và C là chân đường vuông góc hạ từ A lần lượt xuống đường thẳng chứa Ou và Ov. Hỏi tứ giác OBAC là hình gì? Vì sao?
Kiến thức cần nhớ
Hai tia phân giác của một cặp góc kề bù thì vuông góc với nhau.
Tổng bốn góc trong một tứ giác bằng 360∘.
Tứ giác có ba góc vuông thì góc còn lại cũng vuông, nên tứ giác đó là hình chữ nhật.
🧠 Phân tích tư duy
Chìa khoá của bài là nhận ra hai tia phân giác của một cặp góc kề bù luôn vuông góc với nhau — đây là một tính chất quen thuộc (tổng hai góc kề bù 180∘ nên tổng hai nửa góc là 90∘), cho ngay góc uOv=90∘, tức góc O của tứ giác OBAC đã vuông sẵn. Cộng thêm hai góc vuông có sẵn tại B, C (vì AB, AC là các đường vuông góc hạ xuống Ou, Ov), tứ giác OBAC có tới ba góc vuông — chỉ còn kiểm tra góc thứ tư bằng tổng góc tứ giác là xong.
1Cách 1. Chỉ ra ba góc vuông rồi suy góc thứ tư
Định hướng. Dùng tính chất hai tia phân giác của góc kề bù vuông góc với nhau để có góc O vuông, cộng với hai góc vuông có sẵn tại B, C (theo cách dựng đường vuông góc); tổng bốn góc tứ giác bằng 360∘ buộc góc còn lại cũng vuông.
xOy và x′Oy là hai góc kề bù nên xOy+x′Oy=180∘ Ou, Ov lần lượt là tia phân giác của xOy, x′Oy nên uOy=21xOy và yOv=21x′Oy, suy ra uOv=uOy+yOv=21(xOy+x′Oy)=21⋅180∘=90∘ Vì B∈Ou, C∈Ov nên BOC=uOv=90∘, tức O=90∘ trong tứ giác OBAC B là chân đường vuông góc hạ từ A xuống đường thẳng Ou nên AB⊥OB, tức OBA=90∘ C là chân đường vuông góc hạ từ A xuống đường thẳng Ov nên AC⊥OC, tức OCA=90∘ Tứ giác OBAC có O+B+A+C=360∘, mà O=B=C=90∘ nên A=360∘−90∘−90∘−90∘=90∘
Vậy tứ giác OBAC có cả bốn góc đều vuông nên OBAC là hình chữ nhật.
2Cách 2. Toạ độ hoá với hai trục Ou, Ov
Định hướng. Vì đã biết Ou⊥Ov (chứng minh như Cách 1), đặt ngay hai tia đó làm hai trục toạ độ; khi đó B, C chính là hình chiếu của A lên hai trục, và toạ độ cho thấy ngay OBAC là hình chữ nhật.
Theo chứng minh ở trên, Ou⊥Ov nên chọn hệ trục Ouv với gốc O, trục hoành là đường thẳng Ou, trục tung là đường thẳng Ov Gọi toạ độ của A trong hệ trục này là A(p;q) với p,q=0 (vì A không thuộc Ou hay Ov, do A nằm trên tia Ox không trùng hai tia phân giác) B là chân đường vuông góc từ A xuống trục hoành (Ou) nên B(p;0); C là chân đường vuông góc từ A xuống trục tung (Ov) nên C(0;q) Tứ giác OBAC có bốn đỉnh O(0;0), B(p;0), A(p;q), C(0;q) — đây đúng là bốn đỉnh của một hình chữ nhật với hai cạnh OB=CA=∣p∣ và OC=BA=∣q∣, các cạnh cùng phương với hai trục vuông góc
VậyOBAC là hình chữ nhật (cạnh ∣p∣ và ∣q∣), khớp với kết luận của Cách 1.
Nhận xét. Cách toạ độ cho luôn cả độ dài hai cạnh OB,OC theo toạ độ của A, tiện khi đề bài hỏi thêm về diện tích hay chu vi của OBAC.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần cộng góc và áp tổng bốn góc tứ giác, không cần dựng thêm hệ trục toạ độ.
Đáp số.Tứ giác OBAC là hình chữ nhật (có bốn góc vuông tại O, B, A, C).
Sai lầm thường gặp.Có bạn quên chứng minh Ou⊥Ov mà mặc định “hai tia phân giác luôn vuông góc” như một điều hiển nhiên — cần nêu rõ đây là hệ quả của xOy+x′Oy=180∘ (kề bù), không phải tính chất đúng với MỌI cặp góc phân giác bất kỳ.
🚀 Mở rộng.Nếu thay điều kiện “kề bù” bằng hai góc phụ nhau (xOy+x′Oy=90∘) thì hai tia phân giác sẽ tạo với nhau một góc 45∘ thay vì 90∘, và tứ giác OBAC khi đó không còn là hình chữ nhật nữa.
Bài 6 · 3.38★★★★Trang 73— Chứng minh tổng hai đoạn bằng một đoạn thứ ba qua phân giác vuông góc trong hình vuông
3.38 (trang 73). Cho hình vuông ABCD. Lấy một điểm E trên cạnh CD. Tia phân giác của góc DAE cắt cạnh DC tại M. Đường thẳng qua M vuông góc với AE cắt BC tại N. Chứng minh DM+BN=MN.
Kiến thức cần nhớ
Trong tam giác vuông, hai tam giác vuông có cạnh huyền bằng nhau và một góc nhọn bằng nhau thì bằng nhau (cạnh huyền – góc nhọn).
Hai tam giác vuông có cạnh huyền bằng nhau và một cạnh góc vuông bằng nhau thì bằng nhau (cạnh huyền – cạnh góc vuông).
Hình vuông có bốn cạnh bằng nhau và bốn góc vuông.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho một tia phân giác (AM) và một đường vuông góc với cạnh kia của góc (MN⊥AE) — dấu hiệu quen thuộc để “gập” một đoạn vào một đoạn khác bằng tam giác bằng nhau. Gọi K là giao điểm của AE và MN (có sẵn vì MN⊥AE): trong tam giác vuông AKM, góc tại A đúng bằng DAM (vì K nằm trên tia AE), nên nếu ghép với tam giác vuông ADM (cũng có góc DAM ở đỉnh A) sẽ có hai tam giác bằng nhau theo trường hợp cạnh huyền – góc nhọn, cho DM=KM và đặc biệt AD=AK. Từ AD=AK=AB, lại có thêm một cặp tam giác vuông bằng nhau ở phía B, N cho BN=KN — cộng hai đẳng thức lại đúng là điều cần chứng minh.
1Cách 1. Dùng điểm K = AE ∩ MN và hai lần tam giác vuông bằng nhau
Định hướng. Gọi K là giao điểm của AE và MN (có sẵn vì MN⊥AE theo đề). So sánh tam giác vuông ADM với AKM (chung cạnh huyền AM, cùng góc nhọn DAM=KAM), rồi tam giác vuông ABN với AKN (chung cạnh huyền AN, cùng cạnh góc vuông AB=AK) để "gập" cả DM lẫn BN về cùng nằm trên đoạn MN.
Gọi K là giao điểm của đường thẳng AE và đường thẳng MN (tồn tại vì MN⊥AE) AM là tia phân giác của DAE nên DAM=KAM (vì K thuộc tia AE) Xét hai tam giác vuông ADM (vuông tại D, vì ABCD là hình vuông) và AKM (vuông tại K, vì MK⊥AE): có cạnh huyền AM chung, DAM=KAM⇒△ADM=△AKM (cạnh huyền – góc nhọn) Suy ra AD=AK và DM=KM Vì ABCD là hình vuông nên AB=AD, kết hợp AD=AK ở trên suy ra AB=AK Xét hai tam giác vuông ABN (vuông tại B) và AKN (vuông tại K, cùng thuộc đường thẳng MN): có cạnh huyền AN chung, cạnh góc vuông AB=AK⇒△ABN=△AKN (cạnh huyền – cạnh góc vuông) Suy ra BN=KN K nằm giữa M và N trên đường thẳng MN (vì K là giao điểm của đoạn AE với đoạn nối M trên DC và N trên BC, nằm trong hình vuông) nên MN=MK+KN
VậyMN=MK+KN=DM+BN, tức DM+BN=MN (điều phải chứng minh).
2Cách 2. Cũng dùng điểm K nhưng khép lại bằng định lí Pythagore
Định hướng. Giữ nguyên điểm K=AE∩MN và kết quả AK=AD=AB như Cách 1, nhưng thay vì chứng minh △ABN=△AKN bằng trường hợp bằng nhau, tính trực tiếp KN và BN qua định lí Pythagore trong hai tam giác vuông chung cạnh huyền AN — một cách khép bài toán thuần đại số, không gọi tên trường hợp bằng nhau tam giác ở bước cuối.
Gọi K là giao điểm của đường thẳng AE và đường thẳng MN (có vì MN⊥AE) Như Cách 1: △ADM=△AKM (cạnh huyền – góc nhọn, chung AM, DAM=KAM) ⇒AK=AD và KM=DM ABCD là hình vuông nên AD=AB, suy ra AK=AB (gọi chung độ dài này là a, cạnh của hình vuông) Tam giác AKN vuông tại K (vì K∈MN, MN⊥AE∋K, và góc vuông ở K là góc giữa AK và KN... cụ thể AK⊂AE, KN⊂MN, mà MN⊥AE) nên theo Pythagore: AN2=AK2+KN2=a2+KN2 Tam giác ABN vuông tại B (góc của hình vuông) nên theo Pythagore: AN2=AB2+BN2=a2+BN2 So sánh hai biểu thức của AN2: a2+KN2=a2+BN2⇒KN2=BN2⇒KN=BN (hai độ dài dương) K nằm giữa M, N trên đường thẳng MN nên MN=MK+KN=DM+BN
VậyDM+BN=MN, khớp kết luận Cách 1.
Nhận xét. Chìa khoá chung của cả hai cách là AK=AD=AB (ba đoạn cùng bằng cạnh hình vuông) — Cách 1 khép bằng trường hợp bằng nhau của tam giác vuông, Cách 2 khép bằng định lí Pythagore cho cùng một cặp tam giác vuông chung cạnh huyền AN.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: không cần dựng thêm điểm phụ bên ngoài hình, chỉ cần gọi tên giao điểm K đã có sẵn từ giả thiết MN⊥AE, hai lần áp trường hợp bằng nhau của tam giác vuông là xong.
Đáp số.DM+BN=MN (đã chứng minh bằng hai tam giác vuông bằng nhau qua điểm K=AE∩MN).
Sai lầm thường gặp.Có bạn ngộ nhận K là trung điểm của MN nên viết luôn MK=KN — thực ra MK=DM và KN=BN chỉ bằng nhau khi DM=BN (tức E ở vị trí đặc biệt), trường hợp tổng quát K chia MN theo tỉ lệ bất kỳ tuỳ vị trí của E trên CD.
🚀 Mở rộng.Nếu E trùng C thì DAE=DAC=45∘ (đường chéo hình vuông), lúc đó M cũng chính là điểm mà AM là phân giác góc DAC; bài toán vẫn cho DM+BN=MN nhưng cấu hình trở thành trường hợp riêng dễ kiểm tra bằng số để đối chiếu kết quả tổng quát.