Bài 1 · 2.1★★Trang 18— Biểu diễn miền nghiệm của bất phương trình bậc nhất hai ẩn, đổi giữa dấu ngặt và dấu không ngặt
Cho bất phương trình bậc nhất hai ẩn −3x+y<4. a) Biểu diễn miền nghiệm của bất phương trình đã cho trên mặt phẳng toạ độ. b) Từ đó suy ra miền nghiệm của bất phương trình −3x+y≤4 và miền nghiệm của bất phương trình −3x+y≥4.
Kiến thức cần nhớ
Miền nghiệm của ax+by<c (hoặc >, ≤, ≥) với a, b không đồng thời bằng 0 là một nửa mặt phẳng có bờ là đường thẳng ax+by=c.
Quy tắc điểm thử: lấy M0(x0;y0) không thuộc bờ, nếu ax0+by0<c thì nửa mặt phẳng chứa M0 là miền nghiệm.
Dấu ngặt <, > thì bờ vẽ nét đứt và không thuộc miền nghiệm; dấu ≤, ≥ thì bờ vẽ nét liền và thuộc miền nghiệm.
Hai bất phương trình ax+by≤c và ax+by≥c có hợp là cả mặt phẳng, giao là đúng đường thẳng bờ.
🧠 Phân tích tư duy
Bất phương trình đã ở đúng dạng ax+by<c với a=−3, b=1, c=4, nên miền nghiệm chắc chắn là một nửa mặt phẳng có bờ là đường thẳng −3x+y=4, việc duy nhất còn phải quyết là chọn nửa nào và bờ có được lấy hay không. Vì b=1=0 nên rút y ra rất gọn, do đó ngoài quy tắc điểm thử ta còn đọc được ngay miền nghiệm là phần nằm phía dưới bờ. Bẫy của ý b) là tưởng phải vẽ lại từ đầu hai hình mới, trong khi ba bất phương trình chỉ khác nhau ở việc bờ được tô liền hay tô đứt và lấy nửa nào
1Cách 1. Vẽ bờ qua hai giao điểm với trục rồi lấy điểm thử O
Định hướng. Dựng bờ bằng hai điểm dễ tính nhất, sau đó chỉ cần một lần thay toạ độ gốc O để biết nửa mặt phẳng nào được chọn.
a) Bờ là đường thẳng d:−3x+y=4
x=0 cho y=4, nên A(0;4)∈d
y=−2 cho −3x=4+2=6, tức x=−2, nên B(−2;−2)∈d
Với O(0;0): −3⋅0+0=0+0=0
0<4, nên O thuộc miền nghiệm
Với N(0;6): −3⋅0+6=0+6=6 và 6>4, nên N bị loại
b) −3x+y≤4 có miền nghiệm là nửa mặt phẳng chứa O kể cả bờ d
−3x+y≥4 có miền nghiệm là nửa mặt phẳng chứa N kể cả bờ d
Vậy miền nghiệm của −3x+y<4 là nửa mặt phẳng bờ d:−3x+y=4 chứa gốc O, không kể bờ (bờ vẽ nét đứt); thêm dấu bằng thì lấy cả bờ d, còn đổi chiều bất phương trình thì lấy nửa mặt phẳng bên kia.
2Cách 2. Rút y để so tung độ với đường thẳng y = 3x + 4
Định hướng. Vì hệ số của y bằng 1 nên rút y được ngay, khi đó điều kiện trở thành so sánh tung độ của điểm với tung độ của bờ tại cùng hoành độ.
a) −3x+y<4
y<4+3x
y<3x+4
Điểm M(x0;y0) thoả mãn khi y0 nhỏ hơn tung độ 3x0+4 của bờ tại x0
b) −3x+y≤4 cho y≤3x+4, thêm đúng các điểm có y0=3x0+4
−3x+y≥4 cho y≥3x+4, là phần nằm từ bờ trở lên
Vậy miền nghiệm là phần mặt phẳng nằm phía dưới đường thẳng y=3x+4 (không lấy đường thẳng), còn y≤3x+4 lấy thêm đường thẳng và y≥3x+4 là phần từ đường thẳng trở lên.
3Cách 3. Quét theo từng đường thẳng đứng để dựng miền nghiệm
Định hướng. Cố định hoành độ rồi tìm tập tung độ thoả mãn; cho hoành độ chạy khắp trục số thì các tia thu được quét kín đúng miền nghiệm, cách này chứng tỏ miền nghiệm là nửa mặt phẳng chứ không chỉ kiểm tra được nó.
Cố định x=x0, bất phương trình thành y<3x0+4
Tập điểm thu được là tia mở đi xuống của đường thẳng x=x0, gốc tại (x0;3x0+4)∈d
Cho x0 chạy trên R, các tia mở này quét kín nửa mặt phẳng bờ d phía dưới
Với x0=0: y<4 nên O(0;0) được chọn và N(0;6) bị loại
Đổi < thành ≤ thì mỗi tia lấy thêm gốc, hợp các gốc đúng bằng d
Vậy miền nghiệm là hợp của các tia mở đi xuống xuất phát từ các điểm của d, tức nửa mặt phẳng bờ d chứa O và không kể bờ.
Nhận xét. Cách quét này giải thích vì sao chỉ cần một điểm thử: hai điểm cùng một phía của d luôn nằm trên cùng một tia hoặc trên hai tia cùng chiều, nên không thể cho hai kết quả trái nhau.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1 vì chỉ mất hai dòng dựng bờ và một dòng thay O(0;0) là xong, lại dùng được cả khi hệ số của y bằng 0; Cách 2 nhanh nhưng hỏng ngay khi bất phương trình không có y.
Đáp số.a) Nửa mặt phẳng bờ d:−3x+y=4 chứa O(0;0), bờ nét đứt (không lấy bờ). b) −3x+y≤4: đúng nửa mặt phẳng ấy nhưng lấy cả bờ d; −3x+y≥4: nửa mặt phẳng còn lại, cũng lấy cả bờ d.
Sai lầm thường gặp.Sai hay gặp nhất là lấy luôn một điểm của bờ làm điểm thử, chẳng hạn lấy A(0;4) thì được −3⋅0+4=4, không nhỏ hơn cũng không lớn hơn 4, nên không kết luận được gì mà nhiều bạn vẫn suy ra sai rằng nửa mặt phẳng chứa A bị loại. Sai thứ hai là vẽ bờ nét liền cho dấu <, làm những điểm như A(0;4) bị đếm nhầm vào miền nghiệm.
🚀 Mở rộng.Tổng quát, với b>0 thì ax+by<c luôn cho nửa mặt phẳng phía dưới bờ và ax+by>c cho nửa phía trên; nếu b<0 thì hai kết luận đổi chỗ, còn b=0 thì miền nghiệm là nửa mặt phẳng bên trái hay bên phải đường thẳng đứng x=c/a.
Bài 2 · 2.2★★Trang 18— Chuyển vế thu gọn về dạng ax+by≤c rồi biểu diễn miền nghiệm
Cho bất phương trình 2x+3y+3≤5x+2y+3. Bằng cách chuyển vế, hãy đưa bất phương trình trên về dạng tổng quát của bất phương trình bậc nhất hai ẩn. Biểu diễn miền nghiệm của bất phương trình bậc nhất hai ẩn đó trên mặt phẳng toạ độ.
Kiến thức cần nhớ
Chuyển một hạng tử từ vế này sang vế kia của bất phương trình phải đổi dấu hạng tử đó, chiều bất phương trình giữ nguyên.
Dạng tổng quát của bất phương trình bậc nhất hai ẩn là ax+by≤c, ax+by<c, ax+by≥c hoặc ax+by>c với a, b không đồng thời bằng 0.
Đường thẳng ax+by=c đi qua gốc toạ độ khi và chỉ khi c=0; lúc đó phải lấy điểm thử khác gốc O.
Nhân hai vế của bất phương trình với một số dương thì giữ chiều, với một số âm thì đổi chiều.
🧠 Phân tích tư duy
Hai vế cùng chứa x, y và cùng có hạng tử tự do 3, đó là dấu hiệu phải chuyển vế thu gọn trước chứ chưa vẽ được gì. Sau khi thu gọn, hạng tử tự do triệt tiêu nên bờ đi qua gốc toạ độ, và đây chính là chỗ phải cẩn thận: gốc O nằm trên bờ nên không còn dùng được làm điểm thử. Muốn chắc ăn thì chọn điểm thử trên một trục, ví dụ M(1;0), vì thay vào chỉ còn một phép nhân
1Cách 1. Chuyển vế thu gọn rồi thử điểm nằm trên trục hoành
Định hướng. Dồn hết ẩn về một vế cho hạng tử tự do triệt tiêu, rồi chọn điểm thử nằm trên trục hoành để phép thay số chỉ còn một hạng tử.
2x+3y+3≤5x+2y+3
2x+3y−5x−2y≤3−3
(2−5)x+(3−2)y≤0
−3x+y≤0
Bờ là đường thẳng d:−3x+y=0, đi qua O(0;0), P(1;3) và Q(−1;−3)
Với M(1;0): −3⋅1+0=−3+0=−3 và −3<0, nên M thuộc miền nghiệm
Với N(0;2): −3⋅0+2=0+2=2 và 2>0, nên N bị loại
Vậy dạng tổng quát là −3x+y≤0 và miền nghiệm là nửa mặt phẳng bờ d:−3x+y=0 chứa điểm M(1;0), kể cả bờ d.
2Cách 2. Rút y để đưa về so sánh với đường thẳng y = 3x
Định hướng. Thu gọn xong thì rút y về một vế, khi đó bất phương trình chỉ còn nói rằng tung độ của điểm không vượt quá tung độ của bờ tại cùng hoành độ.
2x+3y+3≤5x+2y+3
3y−2y≤5x−2x+3−3
y≤3x
Bờ là đường thẳng d:y=3x
Với x=1 thì y≤3, nên M(1;0) được chọn còn P(1;3) nằm đúng trên bờ
Với x=0 thì y≤0, nên N(0;2) bị loại
Vậy bất phương trình tương đương y≤3x, tức −3x+y≤0, và miền nghiệm là phần mặt phẳng nằm từ đường thẳng y=3x trở xuống.
3Cách 3. Dùng vectơ pháp tuyến của bờ để chỉ ra nửa mặt phẳng
Định hướng. Đặt f(x;y)=−3x+y thì f tăng nhanh nhất theo hướng vectơ pháp tuyến n=(−3;1) của bờ, nên nửa mặt phẳng ứng với f≤0 là nửa nằm về phía ngược hướng n.
2x+3y+3≤5x+2y+3
−3x+y≤0
f(x;y)=−3x+y có bờ f(x;y)=0 với vectơ pháp tuyến n=(−3;1)
Từ O(0;0) đi theo n tới (−3;1): f(−3;1)=9+1=10>0
Từ O(0;0) đi theo −n tới (3;−1): f(3;−1)=−9−1=−10<0
Suy ra nửa mặt phẳng chứa (3;−1) là miền nghiệm của f(x;y)≤0
Vậy miền nghiệm của −3x+y≤0 là nửa mặt phẳng bờ d:−3x+y=0 nằm về phía vectơ −n=(3;−1), tức phía chứa M(1;0), kể cả bờ.
Nhận xét. Cách 3 khỏi phải đi tìm điểm thử hợp lệ nên rất tiện khi bờ đi qua gốc toạ độ; chỉ cần nhớ dấu của f tăng theo chiều n=(a;b).
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi nên dùng Cách 2 vì chỉ ba dòng là ra y≤3x, nhìn thấy ngay miền nghiệm nằm phía dưới bờ mà không phải chọn điểm thử; chỉ khi đề bắt trả lời đúng dạng ax+by≤c thì viết thêm một dòng −3x+y≤0 là đủ.
Đáp số.Dạng tổng quát: −3x+y≤0 (tương đương y≤3x hoặc 3x−y≥0). Miền nghiệm là nửa mặt phẳng bờ d:y=3x chứa điểm M(1;0), kể cả bờ d.
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn quen tay lấy O(0;0) làm điểm thử, được −3⋅0+0=0 rồi kết luận bừa rằng nửa mặt phẳng chứa O là miền nghiệm, trong khi O nằm ngay trên bờ nên không tách được hai nửa. Lỗi thứ hai là khi chuyển 5x sang vế trái lại quên đổi dấu, viết thành 7x+y≤0, khi đó bờ y=−7x nghiêng sang phía đối diện và miền nghiệm sai hoàn toàn.
🚀 Mở rộng.Cùng cách làm, bất phương trình mx+3y+3≤5x+2y+3 thu gọn thành y≤(5−m)x, nên bờ luôn qua gốc toạ độ và độ dốc 5−m đổi dấu khi m vượt qua 5, lúc đó miền nghiệm lật từ phía dưới sang phía trên so với trục hoành.
Bài 3 · 2.3★★★Trang 18— Bài toán ngược: đọc hình để viết bất phương trình có miền nghiệm cho trước
Xác định một bất phương trình bậc nhất hai ẩn nhận nửa mặt phẳng bờ là đường thẳng d (miền không bị gạch) làm miền nghiệm, biết d đi qua hai điểm E(4;0), F(0;−2) và miền không bị gạch là nửa mặt phẳng chứa gốc toạ độ O.
Kiến thức cần nhớ
Đường thẳng cắt trục hoành tại (p;0) và trục tung tại (0;q) với pq=0 có phương trình đoạn chắn px+qy=1.
Nhân hai vế của phương trình đường thẳng với một số khác 0 thì được đường thẳng cũ, nên đáp án của bài toán ngược không duy nhất.
Nửa mặt phẳng có bờ d và chứa điểm M0 là miền nghiệm của ax+by≤c khi và chỉ khi ax0+by0≤c.
Nếu bờ được vẽ nét liền thì bất phương trình mang dấu ≤ hoặc ≥; nếu bờ nét đứt thì mang dấu < hoặc >.
🧠 Phân tích tư duy
Đây là bài toán ngược của việc biểu diễn miền nghiệm, dữ kiện chỉ gồm hai giao điểm của bờ với hai trục và thông tin nửa mặt phẳng nào không bị gạch. Hai giao điểm nằm sẵn trên hai trục là dấu hiệu dùng được phương trình đường thẳng theo đoạn chắn, nhờ đó viết bờ mà không phải giải hệ tìm hệ số. Chỗ dễ mất điểm là sau khi có bờ lại chọn chiều dấu theo cảm giác; phải thay toạ độ một điểm của miền không bị gạch, và vì bờ không qua gốc nên lấy luôn O là gọn nhất
1Cách 1. Viết bờ theo phương trình đoạn chắn rồi chọn dấu bằng điểm O
Định hướng. Hai giao điểm với hai trục cho ngay phương trình đoạn chắn, nhân cả hai vế với 4 là được dạng ax+by=c; dấu của bất phương trình do một lần thay O quyết định.
d cắt trục hoành tại E(4;0) và cắt trục tung tại F(0;−2)
4x+−2y=1
4x−2y=1
4x⋅1−4y⋅2=44
x−2y=4
Với O(0;0): 0−2⋅0=0−0=0 và 0<4
Với G(6;0): 6−2⋅0=6−0=6 và 6>4, đúng là điểm bị gạch
Vậy một bất phương trình thoả mãn yêu cầu là x−2y≤4.
2Cách 2. Lập bờ dạng y = ax + b từ hai điểm rồi so tung độ
Định hướng. Tìm hệ số góc và tung độ gốc của bờ từ hai điểm đã cho, sau đó so tung độ của một điểm thuộc miền không bị gạch với tung độ của bờ.
Giả sử d:y=ax+b với E(4;0)∈d và F(0;−2)∈d
F(0;−2)∈d cho b=−2
E(4;0)∈d cho 4a+b=0, tức 4a−2=0
4a=2, suy ra a=21
d:y=21x−2
Tại x=0 bờ có tung độ −2, còn điểm O(0;0) có tung độ 0 và 0>−2
Miền không bị gạch là phần nằm phía trên bờ, tức y≥21x−2
Vậy miền không bị gạch là miền nghiệm của y≥21x−2, nhân hai vế với 2 rồi chuyển vế được đúng x−2y≤4.
3Cách 3. Dùng vectơ pháp tuyến của bờ rồi chuẩn hoá hệ số
Định hướng. Từ hai điểm của bờ lấy được vectơ chỉ phương, quay đi một góc vuông thành vectơ pháp tuyến, từ đó viết bờ mà không cần chia cho toạ độ nào, cách này dùng được cả khi bờ đi qua gốc.
EF=(0−4;−2−0)=(−4;−2)
Chọn vectơ chỉ phương u=(2;1) vì (−4;−2)=−2u
Vectơ pháp tuyến n=(1;−2) vì n⋅u=1⋅2+(−2)⋅1=2−2=0
d:1⋅(x−4)−2⋅(y−0)=0
x−2y−4=0
f(x;y)=x−2y−4 có f(0;0)=0−0−4=−4<0
f(6;0)=6−0−4=2>0
Vậy miền không bị gạch là tập điểm có f(x;y)≤0, tức x−2y≤4.
Nhận xét. Đáp án không duy nhất: nhân hai vế với −1 được −x+2y≥−4, nhân với 2 được 2x−4y≤8, tất cả đều mô tả cùng một nửa mặt phẳng; ngược lại x−2y<4 chỉ đúng nếu hình vẽ bờ d bằng nét đứt.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi chọn Cách 1 vì hai giao điểm với hai trục đã cho sẵn, phương trình đoạn chắn cho bờ chỉ trong một dòng và chỉ còn một lần thử O; Cách 3 mạnh hơn nhưng dài và chỉ cần khi bờ không cắt đủ hai trục.
Đáp số.x−2y≤4 (mọi bất phương trình dạng k(x−2y)≤4k với k>0, hoặc k(x−2y)≥4k với k<0, đều được).
Sai lầm thường gặp.Lỗi phổ biến là viết đoạn chắn thành 4x+2y=1 vì bỏ dấu âm của tung độ −2, dẫn tới bờ x+2y=4 đi qua (0;2) chứ không qua F(0;−2), sai hẳn đường thẳng. Lỗi thứ hai là sau khi có x−2y=4 lại điền dấu ≥, thử lại với O(0;0) thì 0≥4 là sai, nghĩa là bất phương trình đó nhận đúng nửa mặt phẳng bị gạch làm miền nghiệm.
🚀 Mở rộng.Tổng quát, nửa mặt phẳng bờ px+qy=1 chứa gốc toạ độ luôn là miền nghiệm của qx+py≤pq khi pq>0 và của qx+py≥pq khi pq<0; thử lại bài này với E(4;0), F(0;2) để thấy dấu đổi thế nào.
Bài 4 · 2.4★★★Trang 19— Biểu diễn miền nghiệm rồi đếm điểm nguyên âm thuộc miền nghiệm
Cho bất phương trình x+2y≥−4. a) Biểu diễn miền nghiệm của bất phương trình đã cho trên mặt phẳng toạ độ. b) Miền nghiệm có chứa bao nhiêu điểm (x;y) với x, y là các số nguyên âm?
Kiến thức cần nhớ
Số nguyên âm là số nguyên nhỏ hơn 0, tức thuộc tập {−1;−2;−3;…}; số 0 không phải số nguyên âm.
Cộng từng vế hai bất đẳng thức cùng chiều thì được bất đẳng thức cùng chiều: từ x≤−1 và 2y≤−4 suy ra x+2y≤−5.
Nhân hai vế của một bất đẳng thức với số dương thì giữ chiều: từ y≤−2 suy ra 2y≤−4.
Để đếm điểm nguyên trong một miền nghiệm, nên chặn khoảng giá trị của một ẩn trước rồi mới liệt kê, tránh đếm bằng mắt trên lưới.
🧠 Phân tích tư duy
Ý a) là dạng cơ bản, nhưng ý b) mới là phần ăn điểm: đề ràng buộc thêm x, y đều là số nguyên âm, nghĩa là x≤−1 và y≤−1, nên số điểm phải đếm là hữu hạn. Chính hai ràng buộc này chặn 2y lại: nếu y≤−2 thì 2y≤−4, cộng với x≤−1 đã làm tổng nhỏ hơn −4, nên chỉ còn y=−1 cần xét. Bẫy là vẽ hình xong rồi đếm điểm nguyên bằng mắt trên lưới, rất dễ nhận cả điểm có hoành độ hay tung độ bằng 0 trong khi số 0 không phải số nguyên âm
1Cách 1. Vẽ bờ qua hai giao điểm với trục rồi xét từng giá trị nguyên của y
Định hướng. Dựng miền nghiệm bằng quy tắc điểm thử, sau đó dùng ràng buộc y nguyên âm để chặn y lại thành hữu hạn trường hợp rồi liệt kê x tương ứng.
a) Bờ là đường thẳng d:x+2y=−4
x=0 cho 2y=−4, tức y=−2, nên H(0;−2)∈d
y=0 cho x=−4, nên K(−4;0)∈d
Với O(0;0): 0+2⋅0=0+0=0 và 0≥−4, nên O thuộc miền nghiệm
Với T(−4;−4): −4+2⋅(−4)=−4−8=−12 và −12<−4, nên T bị loại
b) x, y nguyên âm nên x≤−1 và y≤−1
y=−1 cho x−2≥−4, tức x≥−4+2=−2, kết hợp x≤−1 được x∈{−2;−1}
y≤−2 cho 2y≤−4, cộng với x≤−1 được x+2y≤−1−4=−5<−4, loại
Vậy miền nghiệm là nửa mặt phẳng bờ d:x+2y=−4 chứa gốc O, kể cả bờ; miền nghiệm chứa đúng 2 điểm có cả hai toạ độ nguyên âm, đó là (−2;−1) và (−1;−1).
2Cách 2. Rút y để đọc miền nghiệm rồi đếm theo từng cột hoành độ nguyên
Định hướng. Rút y cho thấy miền nghiệm nằm từ bờ trở lên, khi đó với mỗi hoành độ nguyên âm x ta chỉ việc đếm các tung độ nguyên âm nằm trên bờ.
a) x+2y≥−4
2y≥−4−x
y≥2−4−x
Miền nghiệm là phần nằm từ đường thẳng y=2−4−x trở lên
b) x=−1 cho y≥2−4+1=−23, nên y nguyên âm chỉ có y=−1
x=−2 cho y≥2−4+2=−1, nên y nguyên âm chỉ có y=−1
x=−3 cho y≥2−4+3=−21, không có y nguyên âm nào
x≤−3 cho 2−4−x≥−21, nên cũng không có y nguyên âm nào
Vậy miền nghiệm là phần mặt phẳng nằm từ bờ d trở lên và chỉ chứa hai điểm nguyên âm (−1;−1), (−2;−1).
3Cách 3. Chặn tổng x + 2y vào một khoảng hẹp trước khi liệt kê
Định hướng. Ghép ràng buộc nguyên âm với bất phương trình để kẹp x+2y giữa hai số, khi đó chỉ còn vài giá trị nguyên phải xét và việc liệt kê trở nên chắc chắn không sót.
x≤−1 và y≤−1 cho 2y≤−2, nên x+2y≤−1−2=−3
Kết hợp với x+2y≥−4 được −4≤x+2y≤−3
x+2y nguyên nên x+2y=−4 hoặc x+2y=−3
x+2y=−3 với y=−1 cho x=−3+2=−1, nhận (−1;−1)
x+2y=−3 với y≤−2 cho x=−3−2y≥−3+4=1>0, loại
x+2y=−4 với y=−1 cho x=−4+2=−2, nhận (−2;−1)
x+2y=−4 với y≤−2 cho x=−4−2y≥−4+4=0, loại
Vậy chỉ có hai điểm thoả mãn là (−1;−1) và (−2;−1), nên miền nghiệm chứa đúng 2 điểm có cả hai toạ độ là số nguyên âm.
Nhận xét. Cách 3 biến bài đếm điểm nguyên thành bài giải phương trình nghiệm nguyên trên một khoảng hẹp, rất đáng dùng khi hệ số lớn làm việc liệt kê theo cột trở nên dài.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1 vì nó vừa trả lời ý a) bằng quy tắc điểm thử quen tay, vừa xử lí ý b) chỉ bằng một nhận xét chặn y, lời giải gọn mà vẫn kín các trường hợp; Cách 2 phải xét nhiều cột nên dễ sót.
Đáp số.a) Nửa mặt phẳng bờ d:x+2y=−4 chứa O(0;0), kể cả bờ. b) Đúng 2 điểm, là (−1;−1) và (−2;−1).
Sai lầm thường gặp.Sai điển hình là đếm cả những điểm như (0;−1), (−1;0) hay (−4;0) vì tưởng 0 cũng là số âm, làm đáp số bị đội lên thành 5 hoặc 6 điểm. Sai thứ hai là quên rằng x cũng bị chặn: chỉ giải x+2y≥−4 với y=−1 rồi kết luận x≥−2 nên có vô số x, trong khi x còn phải nguyên âm nên chỉ nhận x=−1 và x=−2.
🚀 Mở rộng.Đổi số −4 thành −2m với m nguyên dương thì lập luận chặn vẫn y nguyên, chỉ còn y∈{−1;…;−(m−1)} và số điểm nguyên âm thoả mãn là 2(m−1)m; kiểm lại với m=2 đúng cho 1 điểm và m=3 cho 3 điểm.
Bài 5 · 2.5★★★Trang 19— Lập bất phương trình bậc nhất hai ẩn cho bài toán trộn hàng theo giá trung bình
Một cửa hàng bán lẻ bán hai loại hạt cà phê. Loại thứ nhất giá 140 nghìn đồng/kg và loại thứ hai giá 180 nghìn đồng/kg. Cửa hàng trộn x kg loại thứ nhất và y kg loại thứ hai sao cho hạt cà phê đã trộn có giá không quá 170 nghìn đồng/kg. a) Viết bất phương trình bậc nhất hai ẩn x, y thoả mãn điều kiện đề bài. b) Biểu diễn miền nghiệm của bất phương trình tìm được ở câu a) trên mặt phẳng toạ độ.
Kiến thức cần nhớ
Giá trung bình mỗi kilôgam của hỗn hợp bằng tổng tiền chia cho tổng khối lượng: x+y140x+180y (nghìn đồng/kg).
Nhân hai vế của bất phương trình với số dương x+y thì chiều bất phương trình được giữ nguyên.
Chia hai vế của bất phương trình cho số dương 10 thì chiều bất phương trình được giữ nguyên.
Trong bài toán thực tế về khối lượng, luôn có thêm điều kiện x≥0, y≥0 và x+y>0.
🧠 Phân tích tư duy
Cụm từ khoá là giá của hỗn hợp tính trên mỗi kilôgam, tức tổng tiền chia tổng khối lượng, và điều kiện không quá 170 nghìn đồng cho một dấu ≤. Vì x+y>0 nên nhân chéo được phép mà không lo đổi chiều, đó là lí do bài này quy về bất phương trình bậc nhất hai ẩn chứ không phải bất phương trình phân thức. Điều cần để ý khi vẽ hình là ngoài bất phương trình tìm được, khối lượng còn phải không âm nên phần dùng được chỉ là phần miền nghiệm nằm trong góc phần tư thứ nhất
1Cách 1. So tổng tiền với giá trần nhân tổng khối lượng
Định hướng. Viết giá của hỗn hợp theo tổng tiền chia tổng khối lượng, rồi nhân chéo với lượng dương x+y để mất mẫu và thu về dạng bậc nhất hai ẩn.
a) Tổng tiền là 140x+180y (nghìn đồng) với tổng khối lượng x+y (kg)
x+y140x+180y≤170
140x+180y≤170(x+y)
140x+180y≤170x+170y
140x−170x+180y−170y≤0
−30x+10y≤0
−3x+y≤0
b) Bờ là đường thẳng d:−3x+y=0, tức y=3x, đi qua O(0;0) và A(2;6)
Với B(3;6): −3⋅3+6=−9+6=−3 và −3<0, nên B thuộc miền nghiệm
Với C(1;6): −3⋅1+6=−3+6=3 và 3>0, nên C bị loại
Vậy bất phương trình cần tìm là −3x+y≤0, tức y≤3x; miền nghiệm là nửa mặt phẳng bờ d:y=3x chứa B(3;6) kể cả bờ, và phần dùng được trong thực tế là phần nằm trong góc phần tư thứ nhất.
2Cách 2. Tính độ lệch giá so với mốc 170 nghìn đồng mỗi kilôgam
Định hướng. Quy mọi giá về độ lệch so với mốc 170: mỗi kilôgam loại thứ nhất làm hỗn hợp rẻ đi 30 nghìn đồng, mỗi kilôgam loại thứ hai làm hỗn hợp đắt lên 10 nghìn đồng, điều kiện đề bài chỉ là tổng độ lệch không dương.
a) 140−170=−30 và 180−170=10
Tổng độ lệch so với mốc là −30x+10y (nghìn đồng)
−30x+10y≤0
−3x+y≤0
b) 3x≥y nên miền nghiệm là phần nằm từ bờ d:y=3x trở xuống
A(2;6) có −3⋅2+6=−6+6=0 nên nằm đúng trên bờ, ứng với giá bằng đúng 170
Vậy điều kiện đề bài tương đương −3x+y≤0, và miền nghiệm là nửa mặt phẳng bờ d:y=3x nằm phía dưới bờ, kể cả bờ.
Nhận xét. Kĩ thuật độ lệch này đúng với mọi bài trộn hai loại theo giá trung bình và cho ngay tỉ lệ pha trộn: một kilôgam loại đắt cần bù bởi 3010=31 kilôgam loại rẻ.
3Cách 3. Đặt tỉ lệ trộn để hạ xuống một ẩn rồi quay lại miền nghiệm
Định hướng. Vì giá trung bình chỉ phụ thuộc tỉ lệ giữa hai loại, đặt y=tx với x>0 để bài toán hai ẩn thu về một bất phương trình một ẩn theo tỉ lệ t, tìm xong t thì dịch lại thành miền nghiệm.
a) Với x>0, đặt t=xy≥0, khi đó y=tx
x+tx140x+180tx≤170
1+t140+180t≤170
140+180t≤170(1+t)
140+180t≤170+170t
10t≤30
t≤3
xy≤3, tức y≤3x hay −3x+y≤0
b) x=0 buộc y≤0, kết hợp y≥0 chỉ còn điểm O(0;0), đúng là điểm của bờ
Vậy tỉ lệ khối lượng loại thứ hai so với loại thứ nhất phải không vượt quá 3, tương đương −3x+y≤0, nên miền nghiệm là nửa mặt phẳng bờ y=3x nằm phía dưới bờ kể cả bờ, phần có nghĩa thực tế là phần thuộc góc phần tư thứ nhất.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 2 vì chỉ hai phép trừ 140−170 và 180−170 là ra ngay −30x+10y≤0, không phải nhân chéo nên không sợ quên điều kiện x+y>0; Cách 1 an toàn về lập luận nhưng dài gấp đôi.
Đáp số.a) −3x+y≤0, tương đương y≤3x (kèm điều kiện thực tế x≥0, y≥0, x+y>0). b) Nửa mặt phẳng bờ d:y=3x nằm phía dưới bờ, kể cả bờ; phần dùng được là phần nằm trong góc phần tư thứ nhất.
Sai lầm thường gặp.Sai nặng nhất là hiểu giá của hỗn hợp là tổng hai giá niêm yết rồi viết 140x+180y≤170, bất phương trình này cho x=1, y=0 là sai trong khi trộn 1 kg loại thứ nhất rõ ràng chỉ có giá 140 nghìn đồng/kg nên phải thoả mãn. Sai thứ hai là khi nhân chéo lại đổi chiều thành 140x+180y≥170(x+y) vì tưởng x+y có thể âm, trong khi khối lượng luôn dương.
🚀 Mở rộng.Cùng cách làm, nếu giá trần là m nghìn đồng/kg với 140<m<180 thì điều kiện trở thành (140−m)x+(180−m)y≤0, tức y≤180−mm−140x, nên hệ số góc của bờ tăng dần từ 0 tới vô cùng khi m chạy từ 140 tới 180.
Đối chiếu số hiệu bài tập theo SBT: https://www.vietjack.com/sbt-toan-10-kn/bai-3-bat-phuong-trinh-bac-nhat-hai-an.jsp · https://loigiaihay.com/bai-3-bat-phuong-trinh-bac-nhat-hai-an-sbt-toan-10-kntt-e27262.html