Bài 1 · 4.10★Trang 56— Đọc đỉnh tương ứng từ kí hiệu hai tam giác bằng nhau để chỉ ra góc, cạnh tương ứng
Bài 4.10 (trang 56). Khi viết tam giác ABC = tam giác MNP thì góc nào tương ứng với góc PNM và cạnh nào tương ứng với cạnh NP? Hãy viết các cặp cạnh bằng nhau và các cặp góc bằng nhau của hai tam giác ABC và MNP đã cho.
Kiến thức cần nhớ
Trong kí hiệu tam giác ABC = tam giác MNP, thứ tự chữ cho biết đỉnh tương ứng: A↔M, B↔N, C↔P.
Tên một góc như PNM có đỉnh là chữ cái ở giữa (ở đây là đỉnh N), hai chữ hai bên chỉ hai cạnh tạo nên góc.
🧠 Phân tích tư duy
Đề chỉ cho đúng một dữ kiện là kí hiệu tam giác ABC = tam giác MNP rồi hỏi ngược lại về góc PNM và cạnh NP — dấu hiệu của dạng “đọc thứ tự chữ trong kí hiệu để suy đỉnh tương ứng”, giống hệt kĩ năng vừa luyện ở Luyện tập 1 của bài học. Hướng làm là bám đúng thứ tự A↔M, B↔N, C↔P rồi tra từng góc, từng cạnh được hỏi. Bẫy ở đây là góc PNM viết theo thứ tự P,N,M nhưng đỉnh của góc luôn là chữ Ở GIỮA (tức đỉnh N), không phải đỉnh P hay M — dễ nhầm sang tra cứu đỉnh đầu hoặc cuối.
1Cách 1. Tra trực tiếp theo bảng tương ứng đỉnh
Định hướng. Từ kí hiệu tam giác ABC = tam giác MNP lập bảng tương ứng A↔M, B↔N, C↔P, rồi tra thẳng góc PNM (đỉnh N) và cạnh NP.
Góc PNM có đỉnh N, tức là góc N; vì B↔N nên góc tương ứng với PNM là góc ABC (đỉnh B) Cạnh NP có hai đầu mút N, P; vì B↔N, C↔P nên cạnh tương ứng với NP là cạnh BC Các cặp cạnh bằng nhau: AB=MN, BC=NP, CA=PM Các cặp góc bằng nhau: A=M, B=N, C=P
Vậy góc tương ứng với PNM là ABC; cạnh tương ứng với NP là BC.
2Cách 2. Kiểm chứng lại bằng cách xét đỉnh còn lại (A và C)
Định hướng. Không tra trực tiếp B↔N mà loại trừ: xác định A↔M và C↔P trước (hai đỉnh đầu và cuối, ít gây nhầm hơn), đỉnh còn lại ắt phải là B↔N.
Theo đúng thứ tự viết tam giác ABC = tam giác MNP: đỉnh đầu A↔M, đỉnh cuối C↔P Suy ra đỉnh còn lại B phải tương ứng đỉnh còn lại N (vì mỗi tam giác chỉ có ba đỉnh, đã dùng hết A,C và M,P) Do đó góc N (tức PNM) tương ứng góc B (tức ABC), và cạnh NP (N,P) tương ứng cạnh BC (B,C)
Vậy kết quả trùng khớp với Cách 1: góc tương ứng với PNM là ABC; cạnh tương ứng với NP là BC.
Nhận xét. Cách loại trừ này đặc biệt hữu ích khi kí hiệu tam giác dài hoặc dễ rối mắt, giúp tránh tra nhầm đỉnh giữa.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: lập bảng tương ứng một lần rồi tra thẳng, nhanh hơn Cách 2 khi đã quen; Cách 2 chỉ nên dùng khi phân vân không chắc đỉnh giữa.
Đáp số.Góc tương ứng với PNM là ABC; cạnh tương ứng với NP là BC. Các cặp cạnh bằng nhau: AB=MN, BC=NP, CA=PM. Các cặp góc bằng nhau: A=M, B=N, C=P.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là đọc góc PNM nhầm thành góc tại đỉnh P hoặc đỉnh M (do đọc từ trái sang phải thay vì nhận ra chữ giữa mới là đỉnh góc), dẫn đến tra sai bảng tương ứng và suy ra cặp cạnh, góc sai theo.
🚀 Mở rộng.Nếu đổi thành tam giác ACB = tam giác MPN (đảo vị trí B, C ở vế trái và N, P ở vế phải), bảng tương ứng vẫn là A↔M, C↔P, B↔N y hệt — hoán vị đồng thời cả hai vế theo cùng một phép không làm thay đổi nội dung tương ứng.
Bài 2 · 4.11★★Trang 56— Xét đúng – sai các khẳng định về cạnh, góc tương ứng của hai tam giác bằng nhau
Bài 4.11 (trang 56). Với hai tam giác ABC và MNP bất kì, sao cho tam giác ABC = tam giác MNP, những câu nào dưới đây đúng? a) AB=MN; AC=MP; BC=NP. b) A=M; B=N; C=P. c) BA=NM; CA=PM; CB=PN. d) B=P; C=M; A=N.
Kiến thức cần nhớ
Một đoạn thẳng viết theo hai chiều (AB hay BA) vẫn là cùng một đoạn thẳng, có cùng độ dài.
Từ tam giác ABC = tam giác MNP suy ra bảng tương ứng A↔M, B↔N, C↔P, cả về cạnh lẫn góc.
🧠 Phân tích tư duy
Bốn câu a, b, c, d đều nói về cùng một sự kiện “tam giác ABC = tam giác MNP” nhưng viết bằng những cặp đẳng thức khác nhau — dấu hiệu bài kiểm tra khả năng nhận ra khi nào một cách viết là ĐÚNG NỘI DUNG tương ứng, khi nào chỉ là viết lại (như c) và khi nào SAI tương ứng (như d). Hướng làm là lập bảng tương ứng chuẩn A↔M, B↔N, C↔P trước, rồi so từng câu. Bẫy ở câu c): tuy BA, NM viết ngược thứ tự chữ so với AB, MN nhưng BA và AB là CÙNG một đoạn thẳng nên nội dung câu c) thực chất giống hệt câu a) — dễ bị đánh lừa tưởng câu c) là một khẳng định khác.
1Cách 1. Lập bảng tương ứng chuẩn rồi so từng câu
Định hướng. Từ kí hiệu tam giác ABC = tam giác MNP, viết ra đầy đủ ba cặp cạnh và ba cặp góc tương ứng chuẩn, dùng làm thước đo để xét từng câu a, b, c, d.
Bảng chuẩn: AB=MN, BC=NP, CA=PM và A=M, B=N, C=P Câu a) AB=MN; AC=MP; BC=NP — đúng cả ba, khớp bảng chuẩn (chỉ viết AC thay CA, MP thay PM, cùng đoạn thẳng) ⇒ ĐÚNG Câu b) đúng y hệt ba cặp góc trong bảng chuẩn ⇒ ĐÚNG Câu c) BA=NM (chính là AB=MN); CA=PM (đúng bảng chuẩn); CB=PN (chính là BC=NP) ⇒ ĐÚNG Câu d) B=P: sai vì bảng chuẩn cho B=N, không phải P⇒ SAI
Vậy các câu a), b), c) đúng; câu d) sai.
2Cách 2. Viết lại từng câu về đúng một dạng chuẩn (đoạn thẳng luôn viết theo một chiều) để so trực tiếp
Định hướng. Chuẩn hoá mọi đoạn thẳng về đúng một chiều viết (ví dụ luôn viết chữ có tên tam giác đầu trước), khi đó câu nào trùng khít bảng chuẩn là đúng, khác là sai — tránh bị đánh lừa bởi thứ tự chữ đảo ngược.
Chuẩn hoá câu a): AB=MN, AC=MP, BC=NP — đã đúng dạng chuẩn, trùng bảng ⇒ ĐÚNG Chuẩn hoá câu c): BA→AB, NM→MN; CA→AC, PM→MP; CB→BC, PN→NP; sau chuẩn hoá câu c) trở thành đúng câu a) ⇒ ĐÚNG (chỉ là cách viết khác của câu a) Câu d) không thể chuẩn hoá về khớp bảng vì tương ứng B→P không có trong bảng (B chỉ tương ứng N) ⇒ SAI
Vậy a), b), c) đúng; d) sai — khớp hoàn toàn với Cách 1.
Nhận xét. Câu c) thực chất là một cách viết khác của câu a), không phải một khẳng định độc lập — đây là điểm hay bị bỏ sót khi làm nhanh.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: lập bảng chuẩn một lần rồi soát nhanh cả bốn câu, đủ nhanh và chắc chắn; chỉ cần nhớ AB và BA luôn là cùng một đoạn thẳng để không bị đánh lừa bởi câu c).
Đáp số.Các câu a), b), c) đúng; câu d) sai.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là cho rằng câu c) sai vì thứ tự chữ viết “ngược” so với câu a) (BA thay vì AB), trong khi BA và AB là cùng một đoạn thẳng nên câu c) hoàn toàn đúng; sai lầm khác là không phát hiện câu d) sai vì chỉ nhìn thấy chữ cái quen thuộc (B, P, C, M...) mà không đối chiếu đúng bảng tương ứng.
🚀 Mở rộng.Nếu đổi kí hiệu ban đầu thành tam giác ACB = tam giác MPN thì bảng tương ứng sẽ đổi thành A↔M, C↔P, B↔N (không đổi so với ban đầu, chỉ viết lại theo thứ tự khác) — cách kiểm tra ở Cách 1, Cách 2 vẫn áp dụng y hệt.
Bài 3 · 4.12★★Trang 56— Xét đúng – sai các cách viết kí hiệu tam giác bằng nhau sau khi hoán vị đỉnh
Bài 4.12 (trang 56). Với hai tam giác ABC và DEF bất kì, sao cho tam giác ABC = tam giác DEF, những câu nào dưới đây đúng? a) tam giác BCA = tam giác FED; b) tam giác CAB = tam giác EDF; c) tam giác BAC = tam giác EDF; d) tam giác CBA = tam giác FDE.
Kiến thức cần nhớ
Với tam giác ABC = tam giác DEF, hàm tương ứng chuẩn là A→D, B→E, C→F.
Một cách viết tam giác XYZ = tam giác UVW chỉ đúng khi X→U, Y→V, Z→W đồng thời cả ba vị trí theo đúng hàm tương ứng chuẩn.
🧠 Phân tích tư duy
Khác bài 4.11 (xét cạnh, góc rời rạc), bài này xét nguyên cả KÍ HIỆU tam giác bằng nhau sau khi hoán vị thứ tự đỉnh ở cả hai vế — dấu hiệu của dạng “hoán vị đồng thời” giống hệt Bài 4.4 vừa luyện trong SGK. Hướng làm là lập hàm tương ứng chuẩn A→D, B→E, C→F, rồi với mỗi câu kiểm tra xem thứ tự ba chữ vế trái có ánh xạ đúng sang thứ tự ba chữ vế phải hay không. Bẫy lớn nhất là bốn câu đều “trông có vẻ hợp lí” vì đều chứa đúng bộ chữ {B,C,A} và {F,E,D} (hoặc {E,D,F}...), chỉ khác thứ tự — phải kiểm từng vị trí một, không được đoán theo cảm giác.
1Cách 1. Kiểm từng câu bằng hàm tương ứng chuẩn theo từng vị trí
Định hướng. Với hàm chuẩn A→D, B→E, C→F, kiểm tra từng câu: đối chiếu chữ ở vị trí 1, 2, 3 của vế trái với chữ cùng vị trí ở vế phải qua đúng hàm này.
Câu a) BCA→FED: cần B→F nhưng hàm cho B→E, sai vị trí đầu ⇒ SAI Câu b) CAB→EDF: cần C→E nhưng hàm cho C→F, sai vị trí đầu ⇒ SAI Câu c) BAC→EDF: cần B→E (đúng), A→D (đúng), C→F (đúng) ⇒ ĐÚNG Câu d) CBA→FDE: cần C→F (đúng), nhưng B→D sai (hàm cho B→E) ⇒ SAI
Vậy chỉ có câu c) đúng: tam giác BAC = tam giác EDF; các câu a), b), d) đều sai.
2Cách 2. Xuất phát từ kí hiệu gốc rồi hoán vị đồng thời cả hai vế để tự tạo câu đúng, so khớp với đề
Định hướng. Thay vì kiểm ngược từng câu, chủ động đổi chỗ hai đỉnh đầu của kí hiệu gốc ở CẢ HAI vế cùng lúc, xem kết quả trùng với câu nào trong bốn câu đã cho.
Kí hiệu gốc: tam giác ABC = tam giác DEF Đổi chỗ hai đỉnh đầu ở cả hai vế (giữ đỉnh thứ ba): (A,B,C)→(B,A,C) và (D,E,F)→(E,D,F), được tam giác BAC = tam giác EDF So khớp với đề: đúng là câu c)
Vậy câu c) đúng, là kết quả của một phép hoán vị hợp lệ từ kí hiệu gốc; các câu a), b), d) ứng với những phép đổi chỗ KHÔNG đồng thời như nhau ở hai vế nên đều sai — khớp với Cách 1.
Nhận xét. Với ba đỉnh có 3!=6 kí hiệu tương đương của cùng một tam giác bằng nhau; bài này chỉ hỏi 4 trong 6 cách viết đó, và chỉ đúng một cách được liệt kê trùng khớp.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: kiểm từng vị trí một cách máy móc, chắc chắn không bỏ sót; Cách 2 nhanh hơn nhưng dễ bỏ sót nếu không xét đủ các phép hoán vị có thể.
Đáp số.Chỉ có câu c) đúng: tam giác BAC = tam giác EDF; các câu a), b), d) đều sai.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là thấy vế phải của các câu đều dùng đúng ba chữ D, E, F (chỉ khác thứ tự) rồi vội cho là câu nào cũng đúng miễn “có đủ chữ”, trong khi kí hiệu tam giác bằng nhau đòi hỏi đúng THỨ TỰ ứng với từng vị trí, không phải chỉ cần đủ bộ chữ.
🚀 Mở rộng.Liệt kê đủ sáu kí hiệu tương đương của tam giác ABC = tam giác DEF: chính nó, tam giác BCA = tam giác EFD, tam giác CAB = tam giác FDE, tam giác ACB = tam giác DFE, tam giác CBA = tam giác FED, tam giác BAC = tam giác EDF (chính là câu c) của bài này).
Bài 4 · 4.13★★Trang 57— Đếm ô vuông để so độ dài cạnh trên lưới, dùng c.c.c chỉ ra cặp tam giác bằng nhau
Bài 4.13 (trang 57). Trong mỗi hình vẽ trên lưới ô vuông dưới đây, hãy chỉ ra một cặp hai tam giác bằng nhau.
Kiến thức cần nhớ
Trên lưới ô vuông, hai đoạn thẳng bằng nhau khi chúng đi qua đúng cùng một số ô theo chiều ngang và cùng một số ô theo chiều dọc (kể cả khi đổi chỗ ngang – dọc cho nhau, vì đó là phép quay 90∘).
Trường hợp bằng nhau cạnh-cạnh-cạnh (c.c.c).
🧠 Phân tích tư duy
Đề không cho số đo bằng chữ mà cho hình vẽ trên LƯỚI Ô VUÔNG — dấu hiệu phải “đếm ô” để so sánh độ dài các cạnh thay vì đọc số đo có sẵn, đúng kĩ năng đặc trưng của dạng bài lưới ô vuông. Hướng làm là ở mỗi hình, tìm cạnh chung của hai tam giác trước (cạnh đó luôn tự bằng chính nó), sau đó đếm ô theo chiều ngang và chiều dọc để so hai cạnh còn lại của tam giác này với hai cạnh còn lại của tam giác kia. Bẫy hay gặp là đếm nhầm ô khi cạnh nằm chéo (không nằm ngang hay dọc) — phải đếm đủ cả số ô ngang lẫn số ô dọc mà cạnh đó đi qua, hai cạnh chỉ thật sự bằng nhau khi cả hai chỉ số ngang – dọc đều trùng nhau (hoặc hoán đổi cho nhau).
1Cách 1. Đếm ô so cạnh ở hình a) rồi dùng c.c.c
Định hướng. Ở hình a), hai tam giác ABC và CDA chung cạnh AC (đường chéo); đếm ô để so hai cặp cạnh còn lại.
Đếm ô: cạnh AB đi qua 4 ô ngang, 1 ô dọc; cạnh DC cũng đi qua 4 ô ngang, 1 ô dọc ⇒AB=DC Cạnh BC đi qua 2 ô ngang, 3 ô dọc; cạnh AD cũng đi qua 2 ô ngang, 3 ô dọc ⇒BC=AD AC là cạnh chung
Vậy tam giác ABC = tam giác CDA (c.c.c) ở hình a).
2Cách 2. Đếm ô so cạnh ở hình b) rồi dùng c.c.c
Định hướng. Ở hình b), hai tam giác MNP và NMQ chung cạnh MN; đếm ô để so hai cặp cạnh còn lại (MP với NQ, NP với MQ).
Đếm ô: cạnh MP đi qua 1 ô ngang, 4 ô dọc; cạnh NQ cũng đi qua 1 ô ngang, 4 ô dọc ⇒MP=NQ Cạnh NP đi qua 5 ô ngang, 2 ô dọc; cạnh MQ cũng đi qua 5 ô ngang, 2 ô dọc ⇒NP=MQ MN là cạnh chung
Vậy tam giác MNP = tam giác NMQ (c.c.c) ở hình b), khác hình dạng nhưng cùng bản chất suy luận với hình a) ở Cách 1.
Nhận xét. Cả hai hình đều dùng chung một “mẹo”: tìm cạnh chung trước, rồi đếm ô so hai cặp cạnh còn lại — không cần biết số đo thật bằng cm.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Với dạng lưới ô vuông, luôn tìm cạnh chung trước rồi mới đếm ô so hai cặp cạnh còn lại — thứ tự này giúp không bỏ sót cạnh chung (yếu tố quan trọng nhất, không cần đếm mà vẫn bằng nhau).
Đáp số.Hình a): tam giác ABC = tam giác CDA (c.c.c). Hình b): tam giác MNP = tam giác NMQ (c.c.c).
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp khi đếm ô là chỉ đếm theo một chiều (chỉ đếm ô ngang hoặc chỉ đếm ô dọc) mà bỏ sót chiều còn lại, dẫn đến kết luận nhầm hai cạnh chéo bằng nhau trong khi thực ra một trong hai chỉ số ngang – dọc bị lệch; sai lầm khác là quên nêu căn cứ cạnh chung, tưởng cần đếm ô cho cả ba cạnh.
🚀 Mở rộng.Kĩ thuật đếm ô ngang – dọc để so độ dài trên lưới ô vuông chính là cách làm thủ công của định lí Pythagoré sau này (bình phương số ô ngang cộng bình phương số ô dọc cho ra bình phương độ dài thật); hai cạnh bằng nhau khi và chỉ khi tổng hai bình phương đó bằng nhau.