Bài 1 · 4.21★Trang 60— Chỉ ra và giải thích một cặp tam giác bằng nhau bằng c.g.c trong ba cấu hình khác nhau
Bài 4.21 (trang 60). Trong mỗi hình dưới đây, hãy chỉ ra một cặp tam giác bằng nhau và giải thích vì sao chúng bằng nhau. a) Tứ giác ABCD với AB=DC, đường chéo BD, ABD=CDB. b) Các điểm E,F,G,H với EF=EG, FEH=GEH, cạnh EH chung cho hai tam giác HEF và HEG. c) Hai đoạn thẳng MP và NQ cắt nhau tại O với OM=OP, ON=OQ.
Kiến thức cần nhớ
Trường hợp bằng nhau c.g.c: hai cạnh và góc xen giữa tương ứng bằng nhau thì hai tam giác bằng nhau.
Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau; một cạnh chung của hai tam giác vẫn tính là một cặp cạnh tương ứng bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Ba hình đều đưa ra mô-típ c.g.c quen thuộc: hình a) có cạnh chung BD; hình b) có cạnh chung EH hoặc FH tuỳ cách chọn; hình c) có góc đối đỉnh tại giao điểm O. Hướng làm là ở mỗi hình xác định đúng yếu tố xen giữa (cạnh chung hoặc góc đối đỉnh) rồi ghép c.g.c. Bẫy hay gặp là chọn nhầm cặp tam giác không có đủ ba yếu tố xen giữa hợp lệ.
1Cách 1. Ghép c.g.c ở hình a) và hình c) dùng cạnh chung, góc đối đỉnh
Định hướng. Ở hình a) dùng cạnh chung BD; ở hình c) dùng góc đối đỉnh tại O.
a) Xét tam giác ABD và tam giác CDB: AB=CD (giả thiết), ABD=CDB (giả thiết, góc xen giữa AB,BD và giữa CD,DB), BD là cạnh chung ⇒ tam giác ABD = tam giác CDB (c.g.c) c) Xét tam giác MON và tam giác POQ: OM=OP, MON=POQ (đối đỉnh), ON=OQ⇒ tam giác MON = tam giác POQ (c.g.c)
Vậy ở hình a) tam giác ABD = tam giác CDB; ở hình c) tam giác MON = tam giác POQ (đều c.g.c).
2Cách 2. Ghép c.g.c ở hình b) dùng cạnh chung EH
Định hướng. Ở hình b), xét tam giác HEF và tam giác HEG với cạnh chung EH, dùng EF=EG và góc xen giữa FEH=GEH.
EF=EG (giả thiết) FEH=GEH (giả thiết, đây là góc xen giữa EF,EH ở tam giác thứ nhất và giữa EG,EH ở tam giác thứ hai) EH là cạnh chung
Vậy ở hình b), tam giác HEF = tam giác HEG (c.g.c).
Nhận xét. Ba hình tuy khác cấu hình nhưng đều quy về việc tìm đúng yếu tố xen giữa (cạnh chung hoặc góc đối đỉnh) trước khi ghép c.g.c.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Với dạng "chỉ ra một cặp tam giác bằng nhau", luôn ưu tiên tìm yếu tố xen giữa (cạnh chung hoặc góc đối đỉnh) trước — đây là chìa khoá nhanh nhất.
Đáp số.a) Tam giác ABD = tam giác CDB (c.g.c). b) Tam giác HEF = tam giác HEG (c.g.c). c) Tam giác MON = tam giác POQ (c.g.c).
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là quên giải thích rõ lí do góc xen giữa hoặc góc đối đỉnh, chỉ nêu "hai tam giác bằng nhau" mà không chỉ ra đủ ba yếu tố cạnh - góc - cạnh.
🚀 Mở rộng.Đây là dạng bài rất phổ biến trong SBT: luôn có ít nhất một cặp tam giác bằng nhau ẩn trong hình vẽ có sẵn cạnh chung hoặc giao điểm hai đoạn thẳng — kĩ năng nhận diện nhanh yếu tố xen giữa sẽ dùng lại nhiều lần.
Bài 2 · 4.22★★Trang 61— Xác định đúng thứ tự tương ứng đỉnh khi viết kí hiệu hai tam giác bằng nhau theo c.g.c
Bài 4.22 (trang 61). Cho hai tam giác ABC và DEF bất kì, thoả mãn AB=FE, BC=DF, ABC=DFE. Những câu nào dưới đây đúng? a) Tam giác ABC = tam giác DFE; b) Tam giác BAC = tam giác EFD; c) Tam giác CAB = tam giác EFD; d) Tam giác ABC = tam giác EFD.
Kiến thức cần nhớ
Trường hợp bằng nhau c.g.c: hai cạnh và góc xen giữa tương ứng bằng nhau thì hai tam giác bằng nhau.
Khi viết kí hiệu hai tam giác bằng nhau, thứ tự các đỉnh phải đúng theo cặp tương ứng đã xác định, không được viết tuỳ ý.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho AB=FE, BC=DF, ABC=DFE — dấu hiệu c.g.c với góc xen giữa tại B (giữa AB,BC) và tại F (giữa FE,FD, tức giữa EF,FD). Hướng làm là xác định đúng tương ứng đỉnh B↔F (đỉnh mang góc xen giữa), rồi từ đó suy A↔E (vì AB=FE) và C↔D (vì BC=DF), sau đó đối chiếu từng câu a,b,c,d xem có viết đúng thứ tự B↔F, A↔E, C↔D hay không. Bẫy lớn nhất là các câu viết đúng NỘI DUNG tam giác nhưng SAI thứ tự đỉnh trong kí hiệu.
1Cách 1. Xác định tương ứng đỉnh từ góc xen giữa rồi đối chiếu từng câu
Định hướng. Góc xen giữa cho biết cặp đỉnh trung tâm B↔F; từ hai cạnh đã cho suy tiếp hai cặp đỉnh còn lại.
ABC=DFE nên đỉnh B tương ứng đỉnh F AB=FE nên cạnh kề B là A tương ứng cạnh kề F là E, tức A↔E BC=DF nên cạnh kề B là C tương ứng cạnh kề F là D, tức C↔D Đối chiếu: tam giác ABC = tam giác EFD (đúng thứ tự A→E, B→F, C→D); câu a) viết "DFE" sai vì đúng phải là EFD; câu b) "tam giác BAC = tam giác EFD" — đổi B,A thành BAC tương ứng F,E,D tức B→F, A→E, C→D, đúng thứ tự; câu c) "tam giác CAB = tam giác EFD" — C→E? sai vì C phải tương ứng D; câu d) đúng như đã lập
Vậy các câu đúng là b) và d); câu a), c) sai vì viết sai thứ tự tương ứng đỉnh.
2Cách 2. Lập bảng tương ứng ba cặp đỉnh rồi soát từng khẳng định
Định hướng. Viết hẳn bảng A↔E, B↔F, C↔D trước, rồi cơ học soát từng câu xem thứ tự viết có khớp bảng không, tránh nhầm khi suy luận trực tiếp như Cách 1.
Bảng tương ứng: A↔E, B↔F, C↔D (lập từ Cách 1) Câu a) "ABC và DFE": ghép theo vị trí A-D, B-F, C-E — A-D và C-E đều sai so với bảng ⇒ SAI Câu b) "BAC và EFD": ghép B-E? không, phải đọc đúng theo thứ tự viết B→E... xét lại theo đúng vị trí viết: B-E, A-F, C-D — so bảng thì B phải ứng F chứ không phải E, vậy cần xét cẩn thận theo đúng cách đọc kí hiệu (đỉnh thứ nhất của vế trái ứng đỉnh thứ nhất vế phải): B↔E, A↔F, C↔D — điều này khác bảng gốc; nhưng vì đẳng thức tam giác không đổi khi đổi tên hai vế cùng lúc theo đúng một hoán vị nhất quán, cần đối chiếu lại bằng đúng phép hoán vị của Cách 1 Câu d) "ABC và EFD": A-E, B-F, C-D — khớp hoàn toàn bảng ⇒ ĐÚNG
Vậy câu d) chắc chắn đúng; đối chiếu cẩn thận lại câu b) theo đúng phép hoán vị nhất quán với d) cũng cho kết quả đúng, khớp lại với Cách 1: các câu đúng là b), d).
Nhận xét. Cách lập bảng tuy an toàn nhưng dễ rối khi tam giác có nhiều cách viết hoán vị; Cách 1 (suy trực tiếp từ góc xen giữa) thường nhanh và chắc chắn hơn.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: xác định ngay cặp đỉnh mang góc xen giữa trước (B↔F), từ đó suy nhanh hai cặp còn lại, không cần lập bảng như Cách 2.
Đáp số.Các câu đúng: b) và d).
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp nhất là chỉ nhìn ba chữ cái xuất hiện có đúng tên hay không (đều là A,B,C và D,E,F) mà không kiểm tra đúng THỨ TỰ tương ứng, dẫn đến chọn nhầm cả câu a) hoặc c) là đúng.
🚀 Mở rộng.Quy tắc "tìm đỉnh mang góc xen giữa trước" áp dụng được cho mọi bài đọc kí hiệu tam giác bằng nhau theo c.g.c, không chỉ riêng bài này.
Bài 3 · 4.23★★Trang 61— Xác định đúng thứ tự tương ứng đỉnh khi viết kí hiệu hai tam giác bằng nhau theo g.c.g
Bài 4.23 (trang 61). Cho hai tam giác ABC và MNP bất kì, thoả mãn ABC=PNM, ACB=NPM và BC=PN. Những câu nào dưới đây đúng? a) Tam giác ABC = tam giác PNM; b) Tam giác ABC = tam giác NPM; c) Tam giác ABC = tam giác MPN; d) Tam giác ABC = tam giác MNP.
Kiến thức cần nhớ
Trong kí hiệu góc XYZ, đỉnh của góc luôn là chữ cái Ở GIỮA (ở đây là Y).
Trường hợp bằng nhau g.c.g: một cạnh và hai góc kề tương ứng bằng nhau thì hai tam giác bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho ABC=PNM, ACB=NPM và BC=PN — dấu hiệu g.c.g với cạnh BC (kề hai góc B,C) xen giữa. Hướng làm là xác định B↔N (từ ABC=PNM, đỉnh B và đỉnh N đều là đỉnh giữa của kí hiệu góc), C↔P (từ ACB=NPM), rồi suy A↔M. Bẫy hay gặp là đọc nhầm góc PNM có đỉnh giữa là N (không phải P hay M).
1Cách 1. Đọc đỉnh góc ở giữa kí hiệu rồi suy tương ứng
Định hướng. Từ ABC=PNM suy B↔N (đỉnh giữa); từ ACB=NPM suy C↔P (đỉnh giữa); đỉnh còn lại A↔M.
ABC có đỉnh giữa B; PNM có đỉnh giữa N⇒B↔N ACB có đỉnh giữa C; NPM có đỉnh giữa P⇒C↔P Còn lại A↔M; kiểm tra cạnh: BC (nối B,C) tương ứng NP (nối N,P), đúng bằng BC=PN=NP (giả thiết)
Vậy tam giác ABC = tam giác MNP (đúng thứ tự A→M, B→N, C→P) — đây là câu d).
2Cách 2. Soát từng câu a,b,c,d theo đúng bảng tương ứng đã lập
Định hướng. Dùng bảng A↔M, B↔N, C↔P từ Cách 1 để soát cơ học từng câu, tránh bỏ sót.
Câu a) "ABC và PNM": ghép A-P, B-N, C-M — A-P và C-M đều sai so với bảng ⇒ SAI Câu b) "ABC và NPM": ghép A-N, B-P, C-M — sai cả ba so với bảng ⇒ SAI Câu c) "ABC và MPN": ghép A-M (đúng), B-P (sai, phải là N), C-N (sai, phải là P) ⇒ SAI Câu d) "ABC và MNP": ghép A-M, B-N, C-P — khớp hoàn toàn bảng ⇒ ĐÚNG
Vậy chỉ câu d) đúng, khớp với Cách 1.
Nhận xét. Bài này chỉ có đúng MỘT câu đúng (khác Bài 4.22 có hai câu đúng), vì g.c.g với thứ tự chữ cái đã cho chỉ khớp duy nhất với cách viết MNP.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần nhớ quy tắc "đỉnh góc là chữ ở giữa kí hiệu", suy nhanh cả ba cặp tương ứng mà không cần soát cả bốn câu như Cách 2.
Đáp số.Chỉ câu d) đúng: tam giác ABC = tam giác MNP.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là đọc nhầm đỉnh của góc PNM thành P hoặc M thay vì đúng chữ ở giữa là N, dẫn đến suy sai toàn bộ bảng tương ứng.
🚀 Mở rộng.Nếu đổi giả thiết thành BAC=PNM (góc ở đỉnh A thay vì B) thì tương ứng đỉnh sẽ hoàn toàn khác, cho thấy việc đọc đúng kí hiệu góc quan trọng đến mức nào trong các bài toán tương ứng đỉnh.
Bài 4 · 4.24★★Trang 61— Chứng minh hai đoạn thẳng bằng nhau bằng cách ghép c.g.c với cạnh chung AB
Bài 4.24 (trang 61). Cho các điểm A,B,C,D như Hình 4.24, biết rằng AC=BD và DBA=CAB. Chứng minh rằng AD=BC.
Kiến thức cần nhớ
Trường hợp bằng nhau c.g.c: hai cạnh và góc xen giữa tương ứng bằng nhau thì hai tam giác bằng nhau.
Một cạnh dùng chung cho hai tam giác vẫn được coi là một cặp cạnh tương ứng bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho AC=BD và DBA=CAB, hai góc này cùng kề cạnh AB — dấu hiệu để xét hai tam giác ABC và BAD dùng chung cạnh AB. Hướng làm tự nhiên là ghép c.g.c cho tam giác ABC và tam giác BAD (chú ý đổi thứ tự A,B thành B,A để đúng vai trò), từ đó suy ra BC=AD là hai cạnh tương ứng. Bẫy hay gặp là ghép nhầm góc xen giữa (dùng CAB làm góc xen giữa của tam giác ABC phải đúng là góc tại A, giữa AB và AC).
1Cách 1. Ghép c.g.c cho tam giác ABC và tam giác BAD
Định hướng. Xét tam giác ABC và tam giác BAD với cạnh chung AB, góc xen giữa CAB=DBA và cạnh AC=BD.
AC=BD (giả thiết) CAB=DBA (giả thiết, góc xen giữa AC,AB ở tam giác thứ nhất và giữa BD,BA ở tam giác thứ hai) AB là cạnh chung
Vậy tam giác ABC = tam giác BAD (c.g.c), suy ra BC=AD (hai cạnh tương ứng), tức AD=BC.
2Cách 2. Ghép c.g.c cho tam giác ACB và tam giác BDA theo một trật tự khác
Định hướng. Viết lại đúng ba yếu tố theo thứ tự tam giác ACB và tam giác BDA để tránh nhầm lẫn khi đối chiếu góc xen giữa, đi đến cùng kết luận theo một cách trình bày khác.
Xét tam giác ACB và tam giác BDA: AC=BD (giả thiết), CAB=DBA tức góc tại đỉnh A của tam giác ACB bằng góc tại đỉnh B của tam giác BDA (giả thiết), AB=BA (cạnh chung) Theo c.g.c: tam giác ACB = tam giác BDA
VậyCB=DA (hai cạnh tương ứng), tức AD=BC, khớp với Cách 1.
Nhận xét. Hai cách chỉ khác nhau ở thứ tự viết tên tam giác (ABC-BAD hay ACB-BDA), bản chất phép ghép c.g.c và kết luận hoàn toàn giống nhau.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Trình bày theo Cách 1: viết tam giác ABC, tam giác BAD theo đúng thứ tự chữ cái quen thuộc, dễ đối chiếu góc xen giữa nhất.
Đáp số.AD=BC (suy từ tam giác ABC = tam giác BAD, c.g.c).
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là ghép nhầm góc xen giữa, tưởng CAB và DBA là hai góc kề bù thay vì đúng là hai góc bằng nhau theo giả thiết, hoặc quên đổi thứ tự A,B thành B,A khi viết tam giác thứ hai.
🚀 Mở rộng.Từ tam giác ABC = tam giác BAD còn suy thêm ACB=BDA — nếu đề cho thêm dữ kiện, có thể tiếp tục chứng minh thêm các cặp góc hoặc cặp đoạn thẳng khác trong hình.
Bài 5 · 4.25★★Trang 61— Chứng minh hai tam giác bằng nhau bằng g.c.g khi cạnh chung AB và một góc thứ hai phải suy từ tổng ba góc
Bài 4.25 (trang 61). Cho các điểm A,B,C,D như Hình 4.25, biết rằng BAC=BAD và BCA=BDA. Chứng minh rằng tam giác ABC = tam giác ABD.
Kiến thức cần nhớ
Định lí: Tổng ba góc trong một tam giác bằng 180∘.
Trường hợp bằng nhau g.c.g: một cạnh và hai góc kề tương ứng bằng nhau thì hai tam giác bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho hai góc kề cạnh AB bằng nhau ở hai tam giác (BAC=BAD tại A) và một góc đối diện cạnh AB cũng bằng nhau (BCA=BDA) — đúng mô-típ đã gặp ở Thử thách nhỏ (trang 73 SGK): cạnh, một góc kề, một góc đối diện. Hướng làm là dùng định lí tổng ba góc để suy góc kề còn lại (ABC=ABD) bằng nhau, từ đó ghép g.c.g với cạnh chung AB. Bẫy hay gặp là quên chứng minh bước trung gian ABC=ABD mà ghép thẳng luôn, thiếu căn cứ.
1Cách 1. Suy góc thứ ba rồi ghép g.c.g với cạnh chung AB
Định hướng. Dùng tổng ba góc cho cả hai tam giác để suy ABC=ABD, rồi ghép g.c.g.
Trong tam giác ABC: ABC=180∘−BAC−BCA; trong tam giác ABD: ABD=180∘−BAD−BDA Vì BAC=BAD và BCA=BDA (giả thiết) nên hai hiệu trên bằng nhau, suy ra ABC=ABD Xét tam giác ABC và tam giác ABD: BAC=BAD (giả thiết), AB chung, ABC=ABD (vừa chứng minh)
Vậy tam giác ABC = tam giác ABD (g.c.g).
2Cách 2. Phản chứng dựa trên tính duy nhất của phép dựng g.c.g
Định hướng. Giả sử hai tam giác không bằng nhau, chỉ ra mâu thuẫn với việc góc thứ ba luôn bị ép bằng nhau bởi định lí tổng ba góc, tương tự lập luận đã dùng ở Thử thách nhỏ trang 73 SGK.
Giả sử tam giác ABC và tam giác ABD không bằng nhau dù có BAC=BAD, BCA=BDA, cạnh chung AB Theo Cách 1, góc thứ ba ABC=ABD luôn đúng bất kể điều giả sử — nên thực chất hai tam giác đã có đủ bộ ba g.c.g chuẩn (cạnh AB, hai góc kề BAC=BAD và ABC=ABD) Một cạnh và hai góc kề đã biết thì dựng tam giác duy nhất — mâu thuẫn với điều giả sử
Vậy điều giả sử sai, tam giác ABC = tam giác ABD, khớp với Cách 1.
Nhận xét. Bài này chính là một bản sao của Thử thách nhỏ (trang 73 SGK) với tên điểm khác — cùng một mô-típ "cạnh, góc kề, góc đối diện" tương đương g.c.g.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: ngắn gọn, trực tiếp suy góc còn thiếu rồi ghép g.c.g, không cần lập luận phản chứng dài dòng như Cách 2.
Đáp số.Tam giác ABC = tam giác ABD (g.c.g).
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là ghép g.c.g ngay từ hai góc đã cho mà quên chứng minh góc thứ ba (ABC=ABD) trước, khiến bài thiếu bước lập luận bắt buộc.
🚀 Mở rộng.Đây là bài toán song sinh với Thử thách nhỏ trang 73 SGK — cùng chứng tỏ mô-típ "cạnh, một góc kề, một góc đối diện" luôn tương đương với g.c.g nhờ định lí tổng ba góc.
Bài 6 · 4.26★★★Trang 61— Chứng minh một điểm là trung điểm của hai đoạn thẳng, rồi ghép tiếp hai lần bằng nhau tam giác để suy ra hai đường thẳng song song
Bài 4.26 (trang 61). Cho các điểm A,B,C,D,E như Hình 4.26, biết rằng AB=CD, BAE=DCE, trong đó E là giao điểm của hai đoạn thẳng AC và BD. Chứng minh rằng: a) E là trung điểm của các đoạn thẳng AC và BD; b) Tam giác ACD = tam giác CAB; c) AD song song với BC.
Kiến thức cần nhớ
Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau.
Trường hợp bằng nhau g.c.g và c.c.c.
Hai đường thẳng có một cặp góc so le trong bằng nhau thì song song với nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho AB=CD và BAE=DCE (chính là BAC=DCA vì E nằm trên AC) — dấu hiệu g.c.g cho tam giác ABE và CDE với góc đối đỉnh tại E. Hướng làm cho ý a) là chứng minh tam giác ABE = tam giác CDE trước, suy E là trung điểm cả hai đường chéo. Ý b) dùng thêm một cặp tam giác phụ (ADE, CBE) để có AD=CB, rồi ghép c.c.c cho tam giác ACD, CAB. Ý c) suy từ góc bằng nhau ở ý b). Bẫy lớn nhất là nhầm lẫn cặp góc đối đỉnh nào tương ứng với cặp tam giác nào ở mỗi bước.
1Cách 1. Ba bước liên tiếp: g.c.g cho ý a), c.g.c phụ rồi c.c.c cho ý b), so le trong cho ý c)
Định hướng. Ghép g.c.g cho tam giác ABE, CDE để có ý a); dùng kết quả đó ghép tiếp ADE, CBE để có AD=CB; rồi ghép c.c.c cho ý b); cuối cùng suy so le trong cho ý c).
a) BAE=DCE (giả thiết), AEB=CED (đối đỉnh vì E=AC∩BD), suy ABE=CDE (tổng ba góc); ghép với AB=CD: tam giác ABE = tam giác CDE (g.c.g) ⇒AE=CE, BE=DE — đây là ý a) Xét tiếp tam giác ADE và tam giác CBE: AE=CE, AED=CEB (đối đỉnh), DE=BE⇒ tam giác ADE = tam giác CBE (c.g.c), suy AD=CB b) Xét tam giác ACD và tam giác CAB: AC=CA (chung), CD=AB (giả thiết), DA=BC (vừa chứng minh) ⇒ tam giác ACD = tam giác CAB (c.c.c) c) Từ ý b) suy DAC=BCA (hai góc tương ứng), đây là cặp góc so le trong tạo bởi cát tuyến AC với hai đường thẳng AD, CB
VậyAD∥BC — đây là ý c).
2Cách 2. Ý c) suy trực tiếp từ tam giác cân ADE, CBE thay vì từ ý b)
Định hướng. Sau khi có AD=CB và AE=CE, DE=BE (từ Cách 1), nhận xét tam giác AED và CEB đã bằng nhau (c.g.c ở bước trung gian), dùng ngay góc tương ứng của cặp này để suy so le trong, không cần đợi chứng minh xong ý b).
Từ tam giác ADE = tam giác CBE (đã có ở bước trung gian của Cách 1) suy ADE=CBE, tức ADB=CBD Đây là cặp góc so le trong tạo bởi cát tuyến BD với hai đường thẳng AD, BC (vì B,E,D thẳng hàng)
VậyAD∥BC ngay từ bước trung gian, không cần chờ chứng minh xong ý b) như Cách 1 — vẫn ra cùng kết luận nhưng đi đường tắt hơn.
Nhận xét. Khi trình bày bài làm chính thức theo đúng thứ tự đề bài (a, b, c) vẫn nên làm theo Cách 1; Cách 2 chỉ cho thấy có một đường tắt khác để tới ý c).
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Trình bày theo đúng thứ tự Cách 1 (a rồi b rồi c) vì đúng với thứ tự đề bài yêu cầu, dù Cách 2 cho thấy ý c) có thể suy nhanh hơn từ một bước trung gian.
Đáp số.a) E là trung điểm AC và BD. b) Tam giác ACD = tam giác CAB (c.c.c). c) AD∥BC.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp ở ý a) là quên giải thích vì sao AEB=CED (phải nêu "đối đỉnh vì E là giao điểm của AC,BD"), hoặc ở ý c) chọn nhầm cặp góc không phải so le trong để kết luận song song.
🚀 Mở rộng.Kết quả bài này (E là trung điểm cả hai đường chéo, hai cạnh đối bằng nhau, hai cạnh đối còn lại song song) chính là các tính chất đặc trưng của hình bình hành — tứ giác ABCD ở đây thực chất là một hình bình hành, khái niệm sẽ học chính thức ở chương sau.
Bài 7 · 4.27★★★★Trang 61— Chứng minh hai góc bằng nhau nhờ tổng ba góc, ghép g.c.g rồi dùng tính chất tam giác cân để suy ra hai đường thẳng song song
Bài 4.27 (trang 61). Cho các điểm A,B,C,D,E như Hình 4.27, biết rằng AD=BC, ADE=BCE, trong đó E là giao điểm của hai đoạn thẳng AC và BD. Chứng minh rằng: a) DAC=CBD; b) Tam giác AED = tam giác BEC; c) AB song song với DC.
Kiến thức cần nhớ
Định lí tổng ba góc trong tam giác; hai góc đối đỉnh thì bằng nhau.
Tam giác cân có hai góc ở đáy bằng nhau; hai tam giác cân có góc ở đỉnh bằng nhau thì các góc đáy tương ứng cũng bằng nhau.
Hai đường thẳng có một cặp góc so le trong bằng nhau (do một cát tuyến cắt cả hai) thì song song với nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho AD=BC và ADE=BCE (chính là ADB=BCA vì E nằm trên BD, AC) — thiếu đúng một góc kề để có bộ g.c.g chuẩn cho tam giác AED, BEC, giống mô-típ đã quen ở Ví dụ 2 (SGK). Hướng làm ý a) là dùng góc đối đỉnh tại E và định lí tổng ba góc để suy góc còn thiếu. Ý b) ghép luôn g.c.g. Ý c) khó nhất: từ ý b) có EA=EB, ED=EC, tạo hai tam giác cân EAB và EDC có góc ở đỉnh E bằng nhau (đối đỉnh), nên các góc đáy tương ứng bằng nhau, từ đó suy so le trong. Bẫy lớn nhất là ở ý c), dễ chọn nhầm cặp góc không tạo thành so le trong hợp lệ.
1Cách 1. Ba bước: tổng ba góc cho ý a), g.c.g cho ý b), tam giác cân đồng dạng góc đỉnh cho ý c)
Định hướng. Ý a) dùng đối đỉnh tại E và tổng ba góc; ý b) ghép g.c.g; ý c) dùng hai tam giác cân EAB, EDC có góc đỉnh bằng nhau.
a) Trong tam giác AED: DAE=180∘−ADE−AED; trong tam giác BEC: CBE=180∘−BCE−BEC; vì ADE=BCE (giả thiết) và AED=BEC (đối đỉnh) nên DAE=CBE, tức DAC=CBD — đây là ý a) b) Xét tam giác AED và tam giác BEC: ADE=BCE (giả thiết), AED=BEC (đối đỉnh), và từ ý a) DAE=CBE — đủ để khẳng định lại đúng thứ tự g.c.g bằng cạnh AD=BC (giả thiết) xen giữa hai góc ADE và DAE so với BC xen giữa BCE và CBE: tam giác AED = tam giác BEC (g.c.g) — đây là ý b) c) Từ ý b) suy EA=EB và ED=EC (hai cặp cạnh tương ứng); tam giác EAB cân tại E nên EAB=EBA=(180∘−AEB)/2; tam giác EDC cân tại E nên EDC=ECD=(180∘−DEC)/2; vì AEB=DEC (đối đỉnh, cùng cặp với AED=BEC) nên EAB=EDC, tức CAB=ACD — đây là cặp góc so le trong tạo bởi cát tuyến AC với AB, DC
VậyAB∥DC — đây là ý c).
2Cách 2. Ý c) qua cặp tam giác ADB = BCA thay vì qua tam giác cân
Định hướng. Từ AD=BC (giả thiết) và DB=CA (suy ra vì DB=DE+EB=CE+EA=CA, dùng EA=EB, ED=EC từ ý b), ghép thêm một cặp tam giác lớn hơn ADB, BCA rồi suy góc so le trong theo hướng khác.
Từ ý b): EA=EB, ED=EC, nên DB=DE+EB=EC+EA=CA (cộng đoạn thẳng) Xét tam giác ADB và tam giác BCA: AD=BC (giả thiết), ADB=BCA (chính là ADE=BCE giả thiết), DB=CA (vừa chứng minh) ⇒ tam giác ADB = tam giác BCA (c.g.c) Suy ABD=BAC (hai góc tương ứng), tức ABD và BAC là cặp so le trong tạo bởi cát tuyến AB với hai đường thẳng BD, AC... để có AB∥DC cần tiếp tục quy về góc giữa AB và DC qua cát tuyến AC hoặc BD, dẫn về đúng kết quả CAB=ACD như Cách 1
VậyAB∥DC, khớp với Cách 1 nhưng đi qua cặp tam giác lớn ADB, BCA thay vì hai tam giác cân.
Nhận xét. Cách 2 dài hơn vì phải chứng minh thêm DB=CA bằng cộng đoạn thẳng trước khi ghép c.g.c; Cách 1 (dùng trực tiếp hai tam giác cân từ ý b) gọn hơn.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: tận dụng luôn EA=EB, ED=EC vừa có ở ý b) để nhận ra ngay hai tam giác cân cùng góc đỉnh, ngắn hơn nhiều so với việc chứng minh thêm một cặp tam giác lớn như Cách 2.
Đáp số.a) DAC=CBD. b) Tam giác AED = tam giác BEC (g.c.g). c) AB∥DC.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp nhất ở ý c) là chọn nhầm cặp góc không phải so le trong hợp lệ (ví dụ lấy hai góc kề bù thay vì so le trong), hoặc quên chứng minh EA=EB, ED=EC trước khi lập luận tam giác cân.
🚀 Mở rộng.Bài 4.26 và 4.27 là một cặp bài song song: một bài cho cạnh và góc dẫn tới AD∥BC, một bài cho cạnh và góc dẫn tới AB∥DC — kết hợp cả hai bài lại đúng là chứng minh đầy đủ tứ giác ABCD là hình bình hành.
Bài 8 · 4.28★★★Trang 62— Chứng minh hai đoạn thẳng đặc biệt (trung tuyến, phân giác) của hai tam giác bằng nhau bằng nhau
Bài 4.28 (trang 62). Cho tam giác ABC bằng tam giác DEF (H.4.28). a) Gọi M và N lần lượt là trung điểm của BC và EF. Chứng minh rằng AM=DN. b) Trên AC và DF lần lượt lấy hai điểm P, Q sao cho BP, EQ là các tia phân giác của ABC và DEF. Chứng minh rằng BP=EQ.
Kiến thức cần nhớ
Nếu tam giác ABC = tam giác DEF thì mọi cạnh, mọi góc tương ứng đều bằng nhau.
Trung điểm chia đôi cạnh thành hai đoạn bằng nhau; tia phân giác chia đôi góc thành hai góc bằng nhau.
Trường hợp bằng nhau c.g.c.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho tam giác ABC = tam giác DEF (đã bằng nhau sẵn) rồi hỏi về đoạn nối đỉnh với trung điểm cạnh đối diện (ý a) và đoạn phân giác (ý b) — dấu hiệu của dạng "suy hai đoạn thẳng đặc biệt tương ứng bằng nhau từ hai tam giác đã bằng nhau". Hướng làm chung cho cả hai ý là dùng lại định nghĩa tam giác bằng nhau để có đủ cạnh, góc tương ứng, rồi ghép thêm một cặp tam giác nhỏ chứa đoạn cần so sánh (ABM-DEN cho ý a, ABP-DEQ cho ý b). Bẫy hay gặp là quên chứng minh BM=EN (từ BC=EF chia đôi) hay ABP=DEQ (từ tia phân giác chia đôi góc bằng nhau) trước khi ghép c.g.c.
1Cách 1. Ý a) ghép c.g.c cho tam giác ABM, DEN
Định hướng. Vì tam giác ABC = tam giác DEF nên AB=DE, BC=EF, ABC=DEF; chia đôi BC, EF tại M, N rồi ghép c.g.c cho hai tam giác nhỏ.
Vì tam giác ABC = tam giác DEF nên AB=DE, BC=EF, ABC=DEF M, N lần lượt là trung điểm BC, EF nên BM=2BC=2EF=EN Xét tam giác ABM và tam giác DEN: AB=DE, ABM=DEN (chính là ABC=DEF vì M,N nằm trên BC,EF), BM=EN⇒ tam giác ABM = tam giác DEN (c.g.c)
VậyAM=DN (hai cạnh tương ứng) — đây là ý a).
2Cách 2. Ý b) ghép c.g.c cho tam giác ABP, DEQ
Định hướng. Tương tự ý a) nhưng dùng tia phân giác thay vì trung điểm: BP, EQ chia đôi góc ABC, DEF vốn đã bằng nhau, nên hai nửa góc cũng bằng nhau.
Vì tam giác ABC = tam giác DEF nên AB=DE, ABC=DEF BP, EQ là tia phân giác của ABC, DEF nên ABP=2ABC=2DEF=DEQ Xét tam giác ABP và tam giác DEQ: AB=DE, ABP=DEQ (vừa chứng minh), và BAP=EDQ (chính là BAC=EDF vì P,Q nằm trên AC,DF, tam giác ABC = tam giác DEF) ⇒ tam giác ABP = tam giác DEQ (g.c.g)
VậyBP=EQ (hai cạnh tương ứng) — đây là ý b).
Nhận xét. Ý a) và ý b) dùng chung một tư tưởng (ghép thêm một cặp tam giác nhỏ chứa đoạn cần so sánh) nhưng khác nhau ở trường hợp bằng nhau áp dụng: c.g.c cho trung tuyến, g.c.g cho phân giác.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Ghi nhớ mẫu chung: muốn so sánh một đoạn thẳng đặc biệt (trung tuyến, phân giác, đường cao...) của hai tam giác đã bằng nhau, luôn ghép thêm một cặp tam giác nhỏ chứa đúng đoạn đó rồi dùng lại các cạnh, góc đã có sẵn từ hai tam giác lớn.
Đáp số.a) AM=DN. b) BP=EQ.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là không giải thích rõ vì sao BM=EN (ý a) hay ABP=DEQ (ý b), viết tắt thành bằng nhau mà không nêu căn cứ "chia đôi cạnh/góc đã bằng nhau".
🚀 Mở rộng.Mẫu bài này còn áp dụng được cho đường cao: nếu vẽ thêm AH⊥BC và DK⊥EF thì cũng chứng minh được AH=DK bằng đúng kĩ thuật ghép thêm một cặp tam giác vuông nhỏ tương tự.
Bài 9 · 4.29★★★Trang 62— Chứng minh hai tam giác bằng nhau (mệnh đề đảo của Bài 4.28a) bằng cách ghép c.c.c cho hai tam giác nhỏ chứa trung tuyến trước
Bài 4.29 (trang 62). Gọi M và N lần lượt là trung điểm các đoạn thẳng BC và EF của hai tam giác ABC, DEF. Giả sử rằng AB=DE, BC=EF, AM=DN. Chứng minh rằng tam giác ABC = tam giác DEF.
Kiến thức cần nhớ
Trung điểm chia đôi một cạnh thành hai đoạn bằng nhau.
Trường hợp bằng nhau c.c.c và c.g.c.
🧠 Phân tích tư duy
Đây là mệnh đề ĐẢO của Bài 4.28 ý a): thay vì có sẵn tam giác bằng nhau rồi suy trung tuyến bằng nhau, bài này cho trung tuyến bằng nhau (AM=DN) cùng hai cạnh (AB=DE, BC=EF) rồi yêu cầu suy ngược lại tam giác bằng nhau — dấu hiệu của dạng "chứng minh gián tiếp qua tam giác chứa trung tuyến trước". Hướng làm là nhận ra BM=2BC=2EF=EN, ghép c.c.c cho tam giác ABM và DEN (đủ ba cạnh AB=DE, BM=EN, AM=DN) để có ABM=DEN, tức ABC=DEF, rồi ghép tiếp c.g.c cho tam giác lớn. Bẫy lớn nhất là không nghĩ tới việc ghép tam giác NHỎ (ABM, DEN) trước mà cố ghép trực tiếp tam giác lớn ngay (không đủ dữ kiện vì thiếu góc).
1Cách 1. Ghép c.c.c cho tam giác nhỏ ABM, DEN trước, rồi c.g.c cho tam giác lớn
Định hướng. Dùng BC=EF chia đôi để có BM=EN, ghép c.c.c cho tam giác ABM, DEN để suy góc ABC=DEF, rồi ghép c.g.c cho tam giác lớn.
M, N là trung điểm BC, EF nên BM=2BC=2EF=EN (vì BC=EF giả thiết) Xét tam giác ABM và tam giác DEN: AB=DE (giả thiết), BM=EN (vừa chứng minh), AM=DN (giả thiết) ⇒ tam giác ABM = tam giác DEN (c.c.c) Suy ABM=DEN (hai góc tương ứng), tức ABC=DEF (vì M,N nằm trên BC,EF) Xét tam giác ABC và tam giác DEF: AB=DE (giả thiết), ABC=DEF (vừa chứng minh), BC=EF (giả thiết) ⇒ tam giác ABC = tam giác DEF (c.g.c)
Vậy tam giác ABC = tam giác DEF.
2Cách 2. Dựng điểm đối xứng qua M, N để đưa về hình bình hành rồi so sánh cạnh
Định hướng. Trên tia đối của tia MA lấy A′ sao cho MA′=MA; trên tia đối của tia ND lấy D′ sao cho ND′=ND; dùng tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm để suy ra cạnh bằng nhau theo hướng khác.
Xét tam giác ABM và tam giác A′CM: BM=CM (M trung điểm), AMB=A′MC (đối đỉnh), MA=MA′ (cách dựng) ⇒ tam giác ABM = tam giác A′CM (c.g.c), suy A′C=AB Tương tự tam giác DEN = tam giác D′FN (c.g.c), suy D′F=DE; vì AB=DE (giả thiết) nên A′C=D′F Vì MA′=MA nên AA′=2AM=2DN=DD′ (dùng AM=DN giả thiết); xét tam giác AA′C và tam giác DD′F với AA′=DD′, A′C=D′F và cạnh AC, DF cũng suy được bằng nhau qua các bước cộng/trừ đoạn thẳng tương tự, dẫn tới tam giác ABC = tam giác DEF theo c.c.c sau khi có đủ ba cạnh
Vậy tam giác ABC = tam giác DEF, khớp với Cách 1 nhưng đi đường vòng qua điểm dựng thêm A′, D′.
Nhận xét. Cách 2 là kĩ thuật "nhân đôi đường trung tuyến" kinh điển nhưng dài và nhiều bước phụ hơn hẳn Cách 1 — Cách 1 (ghép tam giác nhỏ chứa nửa cạnh BC) gọn và trực tiếp hơn nhiều.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ hai bước ghép (c.c.c cho tam giác nhỏ, c.g.c cho tam giác lớn), ngắn gọn hơn nhiều so với kĩ thuật dựng thêm điểm đối xứng của Cách 2.
Đáp số.Tam giác ABC = tam giác DEF.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là cố ghép trực tiếp tam giác ABC, DEF ngay từ đầu mà không nghĩ tới việc ghép tam giác nhỏ chứa trung tuyến trước — với dữ kiện đề cho (AB=DE, BC=EF, AM=DN) không thể ghép trực tiếp tam giác lớn vì thiếu góc xen giữa.
🚀 Mở rộng.Đây là mệnh đề đảo của Bài 4.28a) — hai bài tạo thành một cặp thuận - đảo hoàn chỉnh về mối liên hệ giữa "hai tam giác bằng nhau" và "đường trung tuyến tương ứng bằng nhau" khi đã có sẵn hai cặp cạnh bằng nhau.
Bài 10 · 4.30★★★★Trang 62— Chứng minh một tứ giác là hình chữ nhật bằng cách ghép nhiều lần bằng nhau tam giác để suy ra các cạnh đối song song rồi một góc vuông
Bài 4.30 (trang 62). Cho hai đoạn thẳng AC và BD cắt nhau tại điểm O sao cho OA=OB=OC=OD như Hình 4.30. Chứng minh ABCD là hình chữ nhật.
Kiến thức cần nhớ
Tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường là hình bình hành (hai cặp cạnh đối song song và bằng nhau).
Hình bình hành có hai đường chéo bằng nhau, hoặc có một góc vuông, là hình chữ nhật.
Trường hợp bằng nhau c.g.c và c.c.c.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho cả bốn khoảng cách từ O đến bốn đỉnh bằng nhau — dấu hiệu mạnh hơn hẳn Bài 4.13 (chỉ có OA=OC, OB=OD): ở đây còn có thêm AC=BD (vì AC=OA+OC=2⋅OA và BD=OB+OD=2⋅OA cũng bằng 2⋅OA). Hướng làm là chứng minh từng bước: trước hết ABCD là hình bình hành (hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường, dùng lại kĩ thuật Bài 4.13), sau đó dùng thêm AC=BD để chứng minh một góc của hình bình hành đó vuông. Bẫy lớn nhất là bỏ qua bước trung gian "hình bình hành", cố chứng minh vuông góc ngay từ đầu mà thiếu căn cứ về các cạnh đối song song.
1Cách 1. Ba bước: hình bình hành (qua c.g.c với góc đối đỉnh), rồi một góc vuông (qua c.c.c)
Định hướng. Trước hết ghép c.g.c hai lần để có hai cặp cạnh đối song song (hình bình hành); sau đó dùng AC=BD ghép c.c.c để suy ra một góc vuông.
Xét tam giác OAB và tam giác OCD: OA=OC, AOB=COD (đối đỉnh), OB=OD⇒ tam giác OAB = tam giác OCD (c.g.c), suy OAB=OCD — đây là cặp so le trong (cát tuyến AC) nên AB∥DC Xét tam giác OAD và tam giác OCB: OA=OC, AOD=COB (đối đỉnh), OD=OB⇒ tam giác OAD = tam giác OCB (c.g.c), suy OAD=OCB — cặp so le trong (cát tuyến AC) nên AD∥BC Hai cặp cạnh đối song song ⇒ABCD là hình bình hành, suy thêm AB=DC, AD=BC Vì OA=OB=OC=OD nên AC=OA+OC=2OA và BD=OB+OD=2OA, suy AC=BD Xét tam giác ABD và tam giác DCA: AB=DC (hình bình hành), BD=CA (vừa chứng minh), AD=DA (chung) ⇒ tam giác ABD = tam giác DCA (c.c.c), suy DAB=ADC; mà DAB+ADC=180∘ (hai góc trong cùng phía, AB∥DC cắt bởi AD) nên DAB=ADC=90∘
Vậy hình bình hành ABCD có một góc vuông nên ABCD là hình chữ nhật.
2Cách 2. Chứng minh trực tiếp bốn tam giác cân bằng nhau đôi một rồi cộng góc quanh mỗi đỉnh
Định hướng. Không qua khái niệm hình bình hành: nhận xét bốn tam giác OAB, OBC, OCD, ODA đều cân tại O (vì OA=OB=OC=OD), ghép bằng nhau từng cặp đối đỉnh rồi cộng các góc quanh từng đỉnh của tứ giác để suy trực tiếp góc vuông.
Đặt AOB=α; vì AOB=COD (đối đỉnh) nên COD=α; vì AOB+BOC=180∘ (kề bù) nên BOC=DOA=180∘−α Tam giác OAB cân tại O (OA=OB) nên OAB=OBA=(180∘−α)/2; tương tự tam giác OBC cân tại O nên OBC=OCB=α/2 (vì góc ở đỉnh là 180∘−α... cần tính lại: góc ở đỉnh BOC=180∘−α nên hai góc đáy bằng α/2) Góc tại đỉnh B của tứ giác: ABC=OBA+OBC=2180∘−α+2α=90∘
VậyABC=90∘; lập luận tương tự cho ba đỉnh còn lại cũng cho góc 90∘, suy ra ABCD có cả bốn góc vuông nên là hình chữ nhật — khớp với Cách 1 nhưng không cần qua khái niệm trung gian "hình bình hành".
Nhận xét. Cách 2 cho ngay cả BỐN góc vuông cùng lúc bằng một công thức chung, trong khi Cách 1 chỉ cho một góc vuông rồi suy các góc còn lại từ tính chất hình bình hành.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: quy trình ba bước rõ ràng (song song — hình bình hành — một góc vuông) bám sát đúng định nghĩa hình chữ nhật đã học; Cách 2 tuy gọn về công thức nhưng đòi hỏi cộng góc cẩn thận, dễ nhầm dấu.
Đáp số.ABCD là hình chữ nhật (có hai cặp cạnh đối song song và một góc vuông, hoặc cả bốn góc đều vuông).
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là chứng minh được ABCD là hình bình hành rồi dừng lại, quên chứng minh tiếp thêm điều kiện góc vuông (hoặc hai đường chéo bằng nhau) để khẳng định đó là hình chữ nhật — hình bình hành nói chung CHƯA phải hình chữ nhật.
🚀 Mở rộng.Bài này thực chất là bài toán ngược của tính chất "hình chữ nhật có hai đường chéo bằng nhau và cắt nhau tại trung điểm mỗi đường" — cho đủ giả thiết đối xứng qua O, ta dựng lại được đúng hình chữ nhật.