Bài 1 · 3.9★Trang 39— Nhận biết góc so le trong, góc đồng vị khi hình có nhiều cát tuyến
Cho Hình 3.10. a) Viết tên góc so le trong với góc NMC. b) Viết tên góc đồng vị với góc ACB, góc AMN.
Kiến thức cần nhớ
Với cát tuyến c cắt hai đường thẳng a, b tại A, B: hai góc so le trong nằm ở hai phía đối diện của cát tuyến, xen giữa dải a, b; hai góc đồng vị nằm cùng phía cát tuyến, đúng vị trí tương ứng tại hai đỉnh.
Một hình có thể có nhiều cát tuyến khác nhau cắt cùng một cặp đường thẳng, mỗi cát tuyến cho một hệ cặp góc so le trong/đồng vị riêng.
🧠 Phân tích tư duy
Đề chỉ yêu cầu đọc hình để gọi tên, dấu hiệu nhận dạng là xác định đúng cát tuyến (đường thẳng cắt) ứng với từng góc đã cho: NMC gắn với cát tuyến MC cắt hai đường thẳng MN, BC; còn ACB, AMN lại gắn với hai cát tuyến khác là AC và AB, cùng cắt cặp đường thẳng MN, BC. Bẫy là hình có tới ba cát tuyến (MC, AC, AB) cùng đi qua cặp đường thẳng MN, BC nên rất dễ lấy nhầm góc của cát tuyến này gán cho cát tuyến khác.
1Cách 1. Xác định đúng cát tuyến của từng góc rồi áp định nghĩa vị trí
Với mỗi góc đã cho, trước tiên tìm đúng cát tuyến (đường cắt hai đường thẳng MN, BC) đang xét, sau đó xác định vị trí so le trong hoặc đồng vị trên chính cát tuyến đó.
a) NMC là góc tại M do cát tuyến MC tạo với đường thẳng MN; so le trong với nó là góc tại C do cùng cát tuyến MC tạo với đường thẳng BC, tức góc MCB.
b) ACB là góc tại C do cát tuyến AC tạo với đường thẳng BC; đồng vị với nó là góc tại N do cùng cát tuyến AC tạo với đường thẳng MN, cùng phía với ACB, tức góc ANM.
AMN là góc tại M do cát tuyến AB tạo với đường thẳng MN; đồng vị với nó là góc tại B do cùng cát tuyến AB tạo với đường thẳng BC, tức góc ABC.
Vậy so le trong với NMC là MCB; đồng vị với ACB là ANM, đồng vị với AMN là ABC.
2Cách 2. Liệt kê mọi góc tại từng đỉnh rồi lọc theo đúng vị trí
Ghi ra hết các góc tạo bởi các tia tại M, N, C, sau đó chỉ giữ lại đúng góc thoả vị trí so le trong hoặc đồng vị với cát tuyến tương ứng.
Tại M có các tia MA,MN,MC,MB (với MA,MB đối nhau); góc tạo bởi cát tuyến MC với đường thẳng MN chỉ có NMC, nên góc so le trong tương ứng ở C (cát tuyến MC, đường thẳng BC) chỉ có thể là MCB (loại ACB vì ACB ứng với cát tuyến AC, không phải MC).
Tại N có các tia NA,NM,NC (với NA,NC đối nhau); góc do cát tuyến AC tạo với MN tại N chỉ có ANM, đúng vị trí đồng vị với ACB tại C.
Tại B chỉ có các tia BA,BC; góc do cát tuyến AB tạo với BC tại B là ABC, đúng vị trí đồng vị với AMN tại M.
Vậy kết quả trùng Cách 1: so le trong với NMC là MCB; đồng vị với ACB là ANM, đồng vị với AMN là ABC.
3Cách 3. Kiểm tra chéo bằng sơ đồ trong dải – ngoài dải, cùng phía – khác phía
Hình dung dải nằm giữa hai đường thẳng MN và BC; góc so le trong luôn nằm trong dải và ở hai phía khác nhau của cát tuyến, góc đồng vị luôn nằm cùng phía cát tuyến (một trong dải, một ngoài dải, cùng hướng).
NMC nằm trong dải (giữa MN và BC), phía bên phải cát tuyến MC; MCB cũng nằm trong dải, phía bên trái cát tuyến MC — khác phía nhau nên đúng là so le trong.
ACB nằm ngoài dải (phía trên đường thẳng BC, so với đường MN), phía bên phải cát tuyến AC; ANM cũng ngoài dải, cùng phía bên phải cát tuyến AC — cùng phía nên đúng là đồng vị.
Vậy sơ đồ vị trí xác nhận lại đúng hai kết quả của Cách 1, Cách 2.
Nhận xét. Cách 3 không dùng để tìm tên góc mới, chỉ dùng để soát lại các cách trên khi hình có nhiều cát tuyến dễ gây nhầm lẫn.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: bám sát đúng cát tuyến của từng góc rồi đọc thẳng ra tên góc tương ứng, nhanh hơn liệt kê hết như Cách 2.
Đáp số.a) Góc so le trong với NMC là MCB. b) Góc đồng vị với ACB là ANM; góc đồng vị với AMN là ABC.
Sai lầm thường gặp.Nhầm góc so le trong với NMC là cả góc ACB (toàn bộ góc ở đỉnh C của tam giác), trong khi so le trong với cát tuyến MC chỉ có thể là MCB — phần góc nằm giữa tia CM và tia CB, không phải toàn bộ góc ACB.
🚀 Mở rộng.Nếu vẽ thêm một cát tuyến khác (chẳng hạn đoạn NB) cũng cắt MN và BC, hình sẽ sinh thêm một hệ bốn cặp góc đồng vị và hai cặp góc so le trong mới, độc lập với các cặp đã tìm ở cát tuyến MC.
Bài 2 · 3.10★Trang 39— Dựng đường thẳng đi qua một điểm và song song với đường thẳng cho trước
Vẽ đường thẳng d và điểm M không thuộc d. Vẽ đường thẳng a đi qua M và song song với d.
Kiến thức cần nhớ
Nếu cát tuyến cắt hai đường thẳng tạo một cặp góc so le trong (hoặc đồng vị) bằng nhau thì hai đường thẳng đó song song.
Hai đường thẳng phân biệt cùng vuông góc với một đường thẳng thứ ba thì chúng song song với nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Cụm "song song" cùng yêu cầu "vẽ" là dấu hiệu của dạng dựng hình dùng dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng song song (so le trong hoặc đồng vị bằng nhau), không phải đo đạc trực tiếp vì d và a không được phép cắt nhau ở đâu cả trên trang giấy. Bẫy là dựng "nhìn cho thẳng bằng mắt" mà không dùng êke để đảm bảo hai góc so le trong hoặc đồng vị thực sự bằng nhau.
1Cách 1. Dùng êke tạo góc so le trong bằng nhau (Thực hành 1 SGK)
Dùng một góc nhọn cố định của êke (chẳng hạn 60∘) đặt tại một điểm B trên d rồi tại M, để hai góc so le trong bằng nhau.
Đặt một cạnh góc vuông của êke trùng với d, trượt êke để cạnh huyền (cạnh tạo góc 60∘) đi qua M; đánh dấu chân êke trên d là điểm B.
Kẻ đoạn thẳng nối chân êke với M để có cát tuyến BM, khi đó góc 60∘ tại B (giữa d và BM) đã cố định.
Giữ nguyên góc 60∘ của êke, đặt đỉnh góc tại M sao cho một cạnh trùng cát tuyến BM, cạnh còn lại chính là đường thẳng a cần vẽ, tạo với BM góc 60∘ ở vị trí so le trong với góc tại B.
Vậy a và d có một cặp góc so le trong bằng nhau (60∘) nên a∥d.
2Cách 2. Sao chép góc bằng compa để tạo cặp góc đồng vị bằng nhau
Không cần êke, dùng compa để "sao chép" một góc bất kỳ tại B trên d sang đỉnh M, cho hai góc đồng vị bằng nhau.
Chọn điểm B trên d, kẻ cát tuyến BM; vẽ một cung tròn tâm B cắt d và cắt BM tại hai điểm, đo khoảng cách giữa hai điểm đó bằng compa.
Vẽ cung tròn cùng bán kính tâm M cắt cát tuyến BM; dùng compa với đúng khoảng cách vừa đo để xác định điểm thứ hai trên cung tại M, được đúng góc tại M bằng góc tại B, ở vị trí đồng vị.
Nối M với điểm vừa dựng để được đường thẳng a.
Vậy a và d có một cặp góc đồng vị bằng nhau nên a∥d, không cần dùng êke như Cách 1.
3Cách 3. Dựng đường vuông góc chung rồi dựng a vuông góc với đường đó tại M
Dùng tính chất "hai đường thẳng cùng vuông góc với một đường thẳng thứ ba thì song song" thay vì so le trong hay đồng vị.
Từ M dựng đường thẳng h vuông góc với d (dùng êke, đặt cạnh góc vuông trùng d, cạnh kia đi qua M), cắt d tại điểm H.
Tại M, dựng đường thẳng a vuông góc với h (lại dùng êke, đặt cạnh góc vuông trùng h tại M).
Vì a⊥h và d⊥h nên a∥d theo tính chất hai đường thẳng cùng vuông góc với đường thẳng thứ ba.
Nhận xét. Cách 3 chỉ cần hai lần dựng vuông góc bằng êke, không phải đo góc 60∘ như Cách 1 nên với nhiều bạn sẽ dễ thao tác chính xác hơn.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 3: chỉ cần dựng vuông góc hai lần bằng êke (thao tác quen thuộc, ít sai số), không phải giữ đúng góc 60∘ trong lúc trượt êke như Cách 1.
Đáp số.Đường thẳng a đi qua M, tạo với một cát tuyến bất kỳ cặp góc so le trong (hoặc đồng vị) bằng góc mà cát tuyến đó tạo với d; khi đó a∥d.
Sai lầm thường gặp.Vẽ "bằng mắt" một đường thẳng qua M trông có vẻ song song với d nhưng không kiểm tra bằng góc so le trong/đồng vị hay bằng vuông góc chung — hình vẽ có thể sai lệch mà không phát hiện được.
🚀 Mở rộng.Với hai điểm M1, M2 khác nhau đều không thuộc d, mỗi điểm cho đúng một đường thẳng song song với d đi qua nó (tiên đề Euclid, học ở Bài 10) — hai đường song song đó cũng song song với nhau.
Bài 3 · 3.11★★Trang 39— Dựng đường thẳng đi qua một đỉnh tam giác và song song với cạnh đối diện
Vẽ tam giác ABC bất kì. Vẽ đường thẳng xy đi qua điểm A và song song với BC.
Kiến thức cần nhớ
Nếu cát tuyến cắt hai đường thẳng tạo một cặp góc so le trong (hoặc đồng vị) bằng nhau thì hai đường thẳng đó song song.
Cạnh AB (hoặc AC) của tam giác có sẵn chính là một cát tuyến tiện lợi nối A với đường thẳng BC, không cần dựng cát tuyến mới.
🧠 Phân tích tư duy
Đây là trường hợp riêng của bài 3.10 khi đường thẳng cho trước chính là cạnh BC của tam giác và điểm cho trước là đỉnh A — dấu hiệu vẫn là dựng cặp góc so le trong hoặc đồng vị bằng nhau. Bẫy là dễ nhầm dùng luôn cạnh AB hoặc AC làm cát tuyến duy nhất mà quên rằng chỉ cần MỘT cát tuyến bất kỳ qua A cắt BC là đủ để dựng, không nhất thiết phải là cạnh của tam giác.
1Cách 1. Dùng êke tạo góc so le trong bằng góc B (hoặc góc C) của tam giác
Lấy sẵn cạnh AB làm cát tuyến nối A với đường thẳng BC, chỉ cần dựng tại A một góc so le trong bằng góc ABC đã có sẵn trên hình.
Đo góc ABC bằng thước đo góc (hoặc góc của êke gần đúng), gọi số đo là β.
Tại A, dựng tia Ax tạo với tia AB (về phía đối diện với C qua AB) một góc bằng β, ở vị trí so le trong với ABC.
Đường thẳng xy chứa tia Ax thoả xAB=ABC ở vị trí so le trong nên xy∥BC.
2Cách 2. Sao chép góc C bằng compa sang đỉnh A (cát tuyến AC)
Dùng cạnh AC làm cát tuyến, sao chép góc ACB bằng compa sang đỉnh A để được góc so le trong bằng nhau, không cần đo bằng thước đo độ.
Vẽ cung tròn tâm C bán kính bất kỳ, cắt CA tại P và cắt CB tại Q; đo dây PQ bằng compa.
Vẽ cung tròn cùng bán kính tâm A, cắt tia AC (về phía ngoài tam giác) tại P′; dùng compa với khoảng cách PQ vẽ cung cắt cung vừa vẽ tại Q′, được P′AQ′=PCQ=ACB.
Đường thẳng xy đi qua A và Q′ tạo với cát tuyến AC góc so le trong bằng ACB nên xy∥BC, không cần thước đo góc như Cách 1.
3Cách 3. Dựng đường vuông góc chung với BC rồi dựng xy vuông góc với đường đó tại A
Không dùng cạnh nào của tam giác làm cát tuyến, mà dựng hẳn một đường vuông góc chung mới, áp dụng tính chất hai đường thẳng cùng vuông góc với đường thẳng thứ ba.
Từ A dựng đường thẳng h vuông góc với BC bằng êke, cắt BC (kéo dài nếu cần) tại H.
Tại A, dựng đường thẳng xy vuông góc với h.
Vì xy⊥h và BC⊥h nên xy∥BC.
Nhận xét. Cách 3 không phụ thuộc số đo góc B hay C của tam giác, chỉ cần hai lần dựng vuông góc nên thao tác đơn giản và ít sai số nhất.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: tận dụng ngay cạnh AB có sẵn làm cát tuyến và góc B có sẵn trên hình, không phải dựng thêm đường vuông góc phụ như Cách 3.
Đáp số.Đường thẳng xy đi qua A, tạo với cát tuyến AB (hoặc AC) góc so le trong bằng góc ABC (hoặc ACB); khi đó xy∥BC.
Sai lầm thường gặp.Chỉ vẽ đường thẳng qua A "trông song song" với BC bằng mắt mà không dựng góc so le trong/đồng vị bằng nhau hay vuông góc chung, dẫn đến xy và BC thực chất hơi cắt nhau ở xa ngoài hình vẽ.
🚀 Mở rộng.Trong một tam giác, đường thẳng qua một đỉnh và song song với cạnh đối diện chính là công cụ dùng để chứng minh định lí tổng ba góc trong tam giác bằng 180∘ ở Bài 12 (nhờ các cặp góc so le trong bằng các góc của tam giác).
Bài 4 · 3.12★★Trang 39— Giải thích hai đường thẳng song song từ một cặp góc so le trong cho trước
Vẽ lại Hình 3.11 vào vở rồi giải thích tại sao xx′∥yy′.
Kiến thức cần nhớ
Nếu cát tuyến cắt hai đường thẳng tạo một cặp góc so le trong bằng nhau thì hai đường thẳng đó song song.
Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau; hai góc kề bù có tổng số đo bằng 180∘.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho hẳn số đo hai góc so le trong bằng nhau (60∘) nên dấu hiệu nhận dạng là áp dụng thẳng dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng song song qua góc so le trong; các cách khác chỉ là đường vòng để đi tới cùng kết luận, hữu ích khi đề chỉ cho một góc duy nhất. Bẫy là nhầm vị trí hai góc đã cho là đồng vị (cùng phía) trong khi chúng nằm ở hai phía khác nhau của cát tuyến mn.
1Cách 1. Dùng trực tiếp dấu hiệu so le trong
Hai góc đã cho đúng là một cặp so le trong của cát tuyến mn nên áp dụng thẳng dấu hiệu nhận biết.
x′AB=ABy=60∘
Hai góc này ở vị trí so le trong (cùng nằm giữa dải xx′, yy′, ở hai phía đối diện của cát tuyến mn).
Vậy xx′∥yy′ theo dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng song song.
2Cách 2. Dùng đối đỉnh rồi suy ra cặp góc đồng vị bằng nhau
Không dùng ngay so le trong, mà tính thêm một góc đối đỉnh để so sánh cặp góc đồng vị tương ứng.
nBy′=ABy=60∘ (hai góc đối đỉnh do y,B,y′ thẳng hàng và A,B,n thẳng hàng)
x′AB=60∘ (đề cho) và nBy′=60∘ ở vị trí đồng vị (cùng phía cát tuyến mn, cùng phía dưới bên phải tại hai đỉnh A, B)
Vậy x′AB=nBy′=60∘ ở vị trí đồng vị nên xx′∥yy′, trùng kết luận Cách 1.
3Cách 3. Dùng kề bù rồi tính tổng hai góc trong cùng phía
Tính góc kề bù của ABy để được góc trong cùng phía với x′AB, rồi kiểm tra tổng có bằng 180∘ hay không.
ABy′=180∘−ABy=180∘−60∘=120∘ (kề bù với ABy vì y,B,y′ thẳng hàng)
x′AB+ABy′=60∘+120∘=180∘
Hai góc x′AB, ABy′ ở vị trí trong cùng phía có tổng 180∘ nên xx′∥yy′, khớp Cách 1 và Cách 2.
Nhận xét. Cách 1 ngắn nhất vì dùng thẳng số liệu đề cho, không phải tính thêm góc phụ như Cách 2, Cách 3.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: hai góc so le trong đã cho sẵn bằng nhau, áp dụng thẳng một dòng dấu hiệu, không cần tính thêm góc đối đỉnh hay kề bù như Cách 2, Cách 3.
Đáp số.xx′∥yy′ vì có một cặp góc so le trong bằng nhau (60∘=60∘).
Sai lầm thường gặp.Cho rằng hai góc 60∘ đã đánh dấu ở vị trí đồng vị rồi áp dụng dấu hiệu đồng vị, trong khi quan sát kĩ vị trí trên hình thì chúng nằm xen giữa hai đường thẳng và ở hai phía đối diện của cát tuyến — đúng là so le trong, không phải đồng vị.
🚀 Mở rộng.Nếu đổi một trong hai góc 60∘ thành một số đo khác (không bằng 60∘) thì xx′ và yy′ sẽ cắt nhau ở đâu đó (không còn song song) — dấu hiệu nhận biết chỉ đúng chiều khi hai góc so le trong thực sự bằng nhau.
Bài 5 · 3.13★Trang 39— Nhận biết hai đường thẳng song song qua tính chất cùng vuông góc
Cho Hình 3.12. Giải thích tại sao a∥b.
Kiến thức cần nhớ
Hai đường thẳng phân biệt cùng vuông góc với một đường thẳng thứ ba thì chúng song song với nhau.
Nếu cát tuyến cắt hai đường thẳng tạo một cặp góc so le trong hoặc đồng vị bằng nhau thì hai đường thẳng đó song song.
🧠 Phân tích tư duy
Dấu hiệu ở đây là hai ký hiệu vuông góc tại H và K — góc nào tạo bởi a, b với cát tuyến HK cũng đều bằng 90∘, nên bài chỉ còn việc chọn đúng cặp góc 90∘ để gọi tên vị trí (so le trong hay đồng vị) rồi kết luận. Bẫy duy nhất là quên mất vì sao "cùng vuông góc với một đường thẳng thứ ba" lại suy ra song song — phải quy về đúng một cặp góc so le trong hoặc đồng vị bằng nhau chứ không phải một tính chất tách biệt.
1Cách 1. Áp dụng trực tiếp tính chất cùng vuông góc
Nhận ra ngay a, b cùng vuông góc với cát tuyến HK nên dùng thẳng tính chất đã học, không cần xét vị trí góc.
a⊥HK tại H; b⊥HK tại K
Vậy a∥b vì cùng vuông góc với đường thẳng HK.
2Cách 2. Dùng cặp góc đồng vị bằng nhau
Quy tính chất trên về đúng một cặp góc đồng vị bằng nhau để thấy rõ bản chất của dấu hiệu.
Góc giữa a và HK về phía dưới bên phải tại H bằng 90∘; góc giữa b và HK về phía dưới bên phải tại K cũng bằng 90∘ (cùng là góc vuông đã kí hiệu).
Hai góc này ở vị trí đồng vị (cùng phía cát tuyến HK, cùng phía bên phải tại hai đỉnh H, K).
90∘=90∘ ở vị trí đồng vị nên a∥b, trùng kết luận Cách 1.
3Cách 3. Dùng cặp góc so le trong bằng nhau
Vì a⊥HK nên cả bốn góc quanh H đều là góc vuông; chọn cặp góc so le trong (thay vì đồng vị như Cách 2) để kiểm tra lại.
Góc giữa a và HK về phía dưới bên phải tại H bằng 90∘; góc giữa b và HK về phía trên bên trái tại K cũng bằng 90∘ (đối đỉnh với góc đã kí hiệu tại K, cũng là góc vuông).
Hai góc 90∘ này ở vị trí so le trong (hai phía đối diện của cát tuyến HK, cùng nằm giữa dải a, b).
90∘=90∘ ở vị trí so le trong nên a∥b, khớp Cách 1, Cách 2.
Nhận xét. Vì a, b đều vuông góc với HK nên MỌI cặp góc tạo bởi a, b, HK đều bằng nhau (đều là 90∘), do đó cách chọn vị trí góc nào (đồng vị hay so le trong) cũng đều dẫn tới cùng kết luận.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: gọi thẳng tên tính chất "cùng vuông góc với đường thẳng thứ ba" đã học, khỏi mất công chỉ ra cặp góc đồng vị hay so le trong cụ thể như Cách 2, Cách 3.
Đáp số.a∥b vì a và b cùng vuông góc với đường thẳng HK.
Sai lầm thường gặp.Chỉ ghi "vì a, b đều là đường nằm ngang nên song song" mà không nêu được căn cứ toán học (cùng vuông góc với HK, hoặc cặp góc 90∘ ở vị trí so le trong/đồng vị) — nhìn hình đúng nhưng thiếu lí do nên không được tính là giải thích đầy đủ.
🚀 Mở rộng.Tính chất "cùng vuông góc với đường thẳng thứ ba thì song song" chính là công cụ dùng để giải thích vì sao các thanh xà ngang trên mái nhà song song với nhau khi chúng đều vuông góc với một thanh dọc — đúng như tình huống mở đầu Bài 9 trong SGK.
Bài 6 · 3.14★★Trang 40— Giải thích hai đường thẳng song song qua góc đồng vị tạo bởi tia kéo dài
Cho Hình 3.13. Giải thích tại sao MN∥PQ.
Kiến thức cần nhớ
Nếu cát tuyến cắt hai đường thẳng tạo một cặp góc đồng vị bằng nhau thì hai đường thẳng đó song song.
Hai góc kề bù có tổng số đo bằng 180∘.
🧠 Phân tích tư duy
Dấu hiệu là tia Nx chính là phần kéo dài của cát tuyến QN qua N, nên xNM và NQP là một cặp góc đồng vị của cát tuyến NQ cắt hai đường thẳng MN, PQ. Bẫy là không nhận ra x, N, Q thẳng hàng nên tưởng xNM là một góc "rời", không liên quan gì đến cát tuyến NQ.
1Cách 1. Dùng trực tiếp dấu hiệu đồng vị
Nhận ra tia Nx là phần kéo dài của cát tuyến QN, nên xNM và NQP là cặp góc đồng vị của cát tuyến NQ.
xNM=NQP=45∘
Hai góc này ở vị trí đồng vị (cùng phía cát tuyến NQ, cùng phía có M và P).
Vậy MN∥PQ theo dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng song song.
2Cách 2. Dùng kề bù rồi tính tổng hai góc trong cùng phía
Tính góc kề bù của xNM để được góc trong cùng phía với NQP, rồi kiểm tra tổng có bằng 180∘.
MNQ=180∘−xNM=180∘−45∘=135∘ (kề bù với xNM vì x,N,Q thẳng hàng)
MNQ+NQP=135∘+45∘=180∘
Hai góc MNQ, NQP ở vị trí trong cùng phía có tổng 180∘ nên MN∥PQ, khớp Cách 1.
Nhận xét. Cách 1 ngắn hơn vì dùng thẳng góc đã cho, không phải tính thêm góc kề bù như Cách 2; tuy vậy Cách 2 vẫn hữu ích khi đề không vẽ sẵn tia kéo dài như Nx.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: đọc thẳng cặp góc đồng vị 45∘=45∘ đã có sẵn trên hình, không cần tính thêm góc kề bù như Cách 2.
Đáp số.MN∥PQ vì có một cặp góc đồng vị bằng nhau (xNM=NQP=45∘).
Sai lầm thường gặp.Coi xNM và NQP là cặp góc so le trong (vì thấy chúng ở hai đầu hình thang), trong khi M và P thực ra nằm cùng phía của cát tuyến NQ — đây là đồng vị chứ không phải so le trong; muốn có so le trong phải dùng góc kề bù MNQ=135∘ so với góc thích hợp ở phía đối diện.
🚀 Mở rộng.Nếu đề chỉ cho MNQ=135∘ (không vẽ tia Nx và không cho trực tiếp góc đồng vị) thì vẫn giải được bằng Cách 2: tính MNQ+NQP=135∘+45∘=180∘ rồi kết luận song song nhờ trong cùng phía bù nhau.
Bài 7 · 3.15★★Trang 40— Nhận biết hai đường thẳng song song qua tính chất cùng vuông góc trong tam giác
Cho Hình 3.14. Giải thích tại sao EF∥NP.
Kiến thức cần nhớ
Hai đường thẳng phân biệt cùng vuông góc với một đường thẳng thứ ba thì chúng song song với nhau.
Đường cao của tam giác là đoạn thẳng vuông góc kẻ từ một đỉnh xuống đường thẳng chứa cạnh đối diện.
🧠 Phân tích tư duy
Hai ký hiệu vuông góc trên hình (tại H và tại giao điểm của EF với MH) là dấu hiệu cho thấy cả EF và NP đều vuông góc với cùng đường thẳng MH — đúng dạng bài như 3.13 nhưng đặt trong một tam giác cụ thể. Bẫy là chỉ nhìn thấy ký hiệu vuông góc tại H (đường cao) mà bỏ sót ký hiệu vuông góc thứ hai tại giao điểm EF với MH, dẫn đến thiếu căn cứ để kết luận song song.
1Cách 1. Áp dụng trực tiếp tính chất cùng vuông góc
Đọc thẳng hai ký hiệu vuông góc trên hình để thấy EF, NP cùng vuông góc với MH.
EF⊥MH (ký hiệu vuông góc tại giao điểm của EF và MH)
NP⊥MH tại H (ký hiệu vuông góc tại H, MH là đường cao từ M)
Vậy EF∥NP vì cùng vuông góc với đường thẳng MH.
2Cách 2. Dùng cặp góc đồng vị bằng nhau
Quy về đúng một cặp góc đồng vị 90∘ của cát tuyến MH cắt hai đường thẳng EF, NP.
Góc giữa EF và MH về phía dưới bên phải (tại giao điểm) bằng 90∘; góc giữa NP và MH về phía dưới bên phải tại H cũng bằng 90∘.
Hai góc này ở vị trí đồng vị (cùng phía cát tuyến MH, cùng phía bên phải tại hai giao điểm).
90∘=90∘ ở vị trí đồng vị nên EF∥NP, trùng Cách 1.
3Cách 3. Dùng cặp góc so le trong bằng nhau
Vì EF⊥MH và NP⊥MH nên mọi góc tạo bởi hai đường này với MH đều là góc vuông; chọn cặp so le trong để kiểm tra lại.
Góc giữa EF và MH về phía dưới bên trái (tại giao điểm) bằng 90∘; góc giữa NP và MH về phía trên bên phải tại H cũng bằng 90∘.
Hai góc này ở vị trí so le trong (hai phía đối diện của cát tuyến MH, cùng nằm giữa dải EF, NP).
90∘=90∘ ở vị trí so le trong nên EF∥NP, khớp Cách 1, Cách 2.
Nhận xét. Cách 1 gọn nhất vì gọi thẳng tên tính chất đã học, không cần chỉ rõ từng cặp góc vuông như Cách 2, Cách 3.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: nêu thẳng "cùng vuông góc với MH" từ hai ký hiệu vuông góc có sẵn, nhanh gọn hơn việc gọi tên từng cặp góc 90∘ ở vị trí đồng vị hay so le trong như Cách 2, Cách 3.
Đáp số.EF∥NP vì EF và NP cùng vuông góc với đường thẳng MH.
Sai lầm thường gặp.Chỉ dựa vào "nhìn hình thấy EF nằm ngang giống NP" mà không chỉ ra được cả hai cùng vuông góc với MH — thiếu căn cứ nên lời giải không được chấp nhận dù kết luận đúng.
🚀 Mở rộng.Nếu E, F lần lượt là trung điểm của MN, MP thì EF còn có thêm tính chất là đường trung bình của tam giác MNP, với EF=21NP — nội dung sẽ được học kĩ hơn ở lớp 8.
Bài 8 · 3.16★Trang 40— Dựng tứ giác có một cặp cạnh vừa song song vừa bằng nhau
Vẽ lại hình 3.15 vào vở, biết NP∥MQ và NP=MQ.
Kiến thức cần nhớ
Dựng đường thẳng song song với một đường thẳng cho trước qua một điểm dùng êke hoặc compa (xem bài 3.10).
Tứ giác có một cặp cạnh đối vừa song song vừa bằng nhau là hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
Cụm "vừa song song vừa bằng nhau" là dấu hiệu của dạng dựng hình bình hành từ một cạnh cho trước: chỉ cần dựng MQ song song với NP (bằng êke hoặc compa) rồi lấy đúng độ dài bằng NP. Bẫy là dựng MQ song song và bằng NP nhưng lại đặt sai hướng (ngược chiều), khiến tứ giác NPQM nối theo đúng thứ tự đỉnh không còn là một tứ giác "thuận" (các cạnh bị bắt chéo nhau).
1Cách 1. Dựng bằng êke và thước đo độ dài
Vẽ NP trước, dùng êke dựng đường thẳng song song với NP đi qua một điểm tuỳ chọn, rồi dùng thước đo đúng độ dài NP trên đường đó.
Vẽ đoạn thẳng NP tuỳ ý.
Chọn điểm M ngoài đường thẳng NP; dùng êke dựng đường thẳng qua M song song với NP (như Thực hành 1, SGK trang 48).
Trên đường thẳng đó, dùng thước đặt MQ=NP (đo bằng thước thẳng), chọn hướng Q sao cho M,Q cùng thứ tự với N,P (không bắt chéo).
Nối N với M, P với Q được tứ giác NPQM có NP∥MQ và NP=MQ đúng như yêu cầu.
2Cách 2. Dựng bằng compa qua trung điểm chung của hai đường chéo
Dùng tính chất hai đường chéo của hình bình hành cắt nhau tại trung điểm mỗi đường để dựng ngược từ tâm đối xứng.
Vẽ đoạn thẳng NP; xác định trung điểm O của NP bằng compa (vẽ hai cung tròn cùng bán kính tâm N, tâm P, cắt nhau tại hai điểm, nối hai điểm đó cắt NP tại O).
Chọn hướng bất kỳ qua O, dùng compa với bán kính ON=OP để lấy hai điểm M, Q đối xứng nhau qua O trên hướng đó.
Vì O là trung điểm chung của cả NP và MQ nên NPQM là hình bình hành, do đó NP∥MQ và NP=MQ, không cần dựng đường song song riêng như Cách 1.
3Cách 3. Dựng bằng phép tịnh tiến trực quan (trượt đoạn thẳng theo một hướng)
Hình dung "trượt" nguyên đoạn NP theo một hướng và khoảng cách tuỳ chọn để được đoạn MQ, cách này không cần đo góc hay dựng vuông góc.
Vẽ đoạn thẳng NP; chọn một hướng trượt bất kỳ (không song song với NP) và một khoảng cách d tuỳ ý.
Từ N đo theo hướng đã chọn một đoạn dài d được điểm M; từ P đo theo đúng hướng và khoảng cách d đó được điểm Q (dùng compa giữ nguyên độ mở d).
Vì M, Q là ảnh của N, P qua cùng một phép trượt (tịnh tiến) nên MQ∥NP và MQ=NP tự động, không cần đo lại độ dài MQ như Cách 1.
Nhận xét. Ba cách đều cho cùng một loại hình (hình bình hành NPQM), khác nhau ở công cụ dựng: êke đo góc (Cách 1), compa qua tâm đối xứng (Cách 2), hay compa theo phép trượt (Cách 3).
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: dựng đường song song bằng êke rồi đo độ dài bằng thước là thao tác quen thuộc nhất, dễ trình bày hơn việc xác định tâm đối xứng như Cách 2.
Đáp số.Tứ giác NPQM dựng được là một hình bình hành (vì có một cặp cạnh đối NP, MQ vừa song song vừa bằng nhau).
Sai lầm thường gặp.Dựng MQ song song và bằng NP nhưng đặt ngược hướng so với NP, khiến khi nối theo đúng thứ tự N→P→Q→M các cạnh PQ và NM bị bắt chéo nhau, không tạo thành một tứ giác lồi bình thường.
🚀 Mở rộng.Nếu chỉ cho NP∥MQ mà không cho NP=MQ thì tứ giác NPQM chỉ chắc chắn là hình thang, không chắc là hình bình hành — điều kiện "bằng nhau" là bắt buộc để có đủ hai cặp cạnh đối song song.
Bài 9 · 3.17★★★Trang 40— Giải thích hai đường thẳng song song qua cặp góc trong cùng phía bù nhau
Vẽ lại Hình 3.16 vào vở. Giải thích tại sao Hx∥Ky.
Kiến thức cần nhớ
Nếu cát tuyến cắt hai đường thẳng tạo một cặp góc trong cùng phía có tổng bằng 180∘ thì hai đường thẳng đó song song (hệ quả của dấu hiệu so le trong).
Hai góc kề bù có tổng số đo bằng 180∘.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho một góc 50∘ và một góc 130∘ ở hai phía CÙNG một bên của cát tuyến HK — tổng đúng bằng 180∘, đây là dấu hiệu của dạng dùng góc trong cùng phía bù nhau (hệ quả trực tiếp của dấu hiệu so le trong/đồng vị, đã gặp ở Luyện tập 1 SGK) thay vì so le trong hay đồng vị thông thường. Bẫy là thấy 50∘=130∘ rồi vội kết luận không đủ căn cứ để suy ra song song, trong khi đúng ra phải kiểm tra tổng hai góc trong cùng phía.
1Cách 1. Dùng ngay tổng hai góc trong cùng phía
Hai góc KHx và HKy đã cho đều nằm về phía bên phải của cát tuyến HK — đúng vị trí trong cùng phía, chỉ cần cộng lại và so với 180∘.
KHx+HKy=50∘+130∘=180∘
Vậy Hx∥Ky vì có một cặp góc trong cùng phía có tổng bằng 180∘.
2Cách 2. Vẽ tia đối Hz để đưa về cặp góc đồng vị bằng nhau
Kéo dài HK quá K thành tia Kz (như hình vẽ), tính góc kề bù tại K để được cặp góc đồng vị bằng nhau với góc đã cho tại H.
yKz=180∘−HKy=180∘−130∘=50∘ (kề bù với HKy vì H,K,z thẳng hàng)
KHx=yKz=50∘ ở vị trí đồng vị (cùng phía cát tuyến Hz, cùng phía bên phải tại H và K)
Vậy Hx∥Ky, trùng kết luận Cách 1.
3Cách 3. Vẽ tia đối tại H để đưa về cặp góc so le trong bằng nhau
Thay vì kéo dài tại K như Cách 2, kéo dài tia Hx quá H thành tia Hx′, tính góc kề bù tại H để được cặp góc so le trong bằng nhau với góc đã cho tại K.
x′HK=180∘−KHx=180∘−50∘=130∘ (kề bù với KHx vì x,H,x′ thẳng hàng)
x′HK=HKy=130∘ ở vị trí so le trong (hai phía đối diện của cát tuyến HK, cùng nằm giữa dải Hx, Ky)
Vậy Hx∥Ky, khớp Cách 1 và Cách 2.
Nhận xét. Cách 1 nhanh nhất vì dùng thẳng hai góc đề đã cho; Cách 2, Cách 3 tuy dài hơn nhưng cho thấy rõ vì sao "trong cùng phía bù nhau" lại tương đương với so le trong/đồng vị bằng nhau.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: cộng thẳng hai góc đề đã cho (50∘+130∘=180∘) và kết luận ngay, không cần vẽ thêm tia đối và tính góc kề bù như Cách 2, Cách 3.
Đáp số.Hx∥Ky vì KHx+HKy=50∘+130∘=180∘ (hai góc trong cùng phía bù nhau).
Sai lầm thường gặp.Thấy KHx=50∘=HKy=130∘ rồi kết luận vội rằng không đủ căn cứ để suy ra song song, trong khi đây đúng ra là một cặp góc trong cùng phía cần CỘNG lại rồi so với 180∘, không phải so sánh bằng nhau như so le trong hay đồng vị.
🚀 Mở rộng.Dấu hiệu "hai góc trong cùng phía bù nhau" luôn tương đương với dấu hiệu so le trong (hoặc đồng vị) bằng nhau, vì hai góc trong cùng phía luôn kề bù với một góc so le trong tương ứng — đây chính là nội dung câu b) của Luyện tập 1, SGK trang 47.