Bài 1 · 3.1★Trang 32— Chứng minh tính chất góc của tứ giác dựa vào định lí tổng bốn góc bằng 360∘
Chứng minh rằng cả bốn góc của một tứ giác không thể đều là góc nhọn, không thể đều là góc tù.
Kiến thức cần nhớ
Tổng các góc của một tứ giác bằng 360∘ (định lí SGK trang 50).
Cộng hai bất đẳng thức cùng chiều: nếu a<b và c<d thì a+c<b+d.
🧠 Phân tích tư duy
Đề chỉ cho một dữ kiện có thể dùng: tổng bốn góc của một tứ giác luôn bằng 360∘ — dấu hiệu của bài toán chứng minh bằng phản chứng, so sánh tổng với một giá trị cố định. Hướng tự nhiên nhất là giả sử điều cần bác bỏ đang xảy ra rồi so sánh tổng bốn góc với 360∘. Bẫy hay gặp là chỉ xét một trong hai trường hợp (toàn nhọn hoặc toàn tù) trong khi đề yêu cầu bác bỏ cả hai khả năng.
1Cách 1. Phản chứng trực tiếp, so sánh tổng với 360∘
Định hướng. Dùng định lí tổng bốn góc của một tứ giác bằng 360∘ làm chuẩn so sánh, giả sử điều ngược lại với kết luận cần chứng minh rồi chỉ ra tổng bốn góc lệch khỏi 360∘.
Xét tứ giác ABCD có A+B+C+D=360∘. Giả sử cả bốn góc đều là góc nhọn, tức A<90∘, B<90∘, C<90∘, D<90∘. Cộng bốn bất đẳng thức cùng chiều: A+B+C+D<90∘+90∘+90∘+90∘=360∘. Điều này trái với A+B+C+D=360∘, vậy bốn góc không thể đều là góc nhọn. Giả sử cả bốn góc đều là góc tù, tức A>90∘, B>90∘, C>90∘, D>90∘. Cộng bốn bất đẳng thức cùng chiều: A+B+C+D>90∘+90∘+90∘+90∘=360∘. Điều này cũng trái với A+B+C+D=360∘, vậy bốn góc không thể đều là góc tù.
Vậy bốn góc của một tứ giác không thể đều là góc nhọn, cũng không thể đều là góc tù.
2Cách 2. Xét độ lệch của mỗi góc so với 90∘
Định hướng. Đặt độ lệch của mỗi góc so với 90∘; tổng bốn độ lệch phải bằng 0 vì tổng bốn góc đúng bằng 360∘, từ đó xét dấu để loại hai khả năng đề nêu.
Đặt x=A−90∘, y=B−90∘, z=C−90∘, t=D−90∘. x+y+z+t=(A+B+C+D)−360∘=360∘−360∘=0. Nếu cả bốn góc đều nhọn thì x<0, y<0, z<0, t<0, suy ra x+y+z+t<0, trái với x+y+z+t=0. Nếu cả bốn góc đều tù thì x>0, y>0, z>0, t>0, suy ra x+y+z+t>0, trái với x+y+z+t=0.
Vậy không thể có bốn độ lệch cùng âm, cũng không thể có bốn độ lệch cùng dương, nghĩa là bốn góc của tứ giác không thể đều là góc nhọn, không thể đều là góc tù.
Nhận xét. Cách 2 chỉ là một cách viết lại Cách 1 dưới dạng đại số, giúp thấy ngay bản chất: tổng bốn góc cố định bằng 360∘ buộc các góc phải bù trừ quanh mốc 90∘, không thể tất cả cùng lệch về một phía.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: lập luận trực tiếp bằng bất đẳng thức góc, không cần đặt thêm ẩn phụ nên trình bày nhanh và quen thuộc hơn.
Đáp số.Bốn góc của một tứ giác không thể đều là góc nhọn (vì khi đó tổng nhỏ hơn 360∘), cũng không thể đều là góc tù (vì khi đó tổng lớn hơn 360∘).
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn chỉ xét một trường hợp (ví dụ chỉ chứng minh không thể đều là góc tù) rồi kết luận bài toán xong, quên rằng đề yêu cầu bác bỏ CẢ HAI khả năng (đều nhọn và đều tù) nên phải trình bày đủ hai lập luận riêng biệt.
🚀 Mở rộng.Cùng lập luận này cho thấy trong bốn góc của một tứ giác luôn có ít nhất một góc lớn hơn hoặc bằng 90∘ và ít nhất một góc nhỏ hơn hoặc bằng 90∘.
Bài 2 · 3.2★★Trang 32— Bất đẳng thức cạnh trong tứ giác dựa vào bất đẳng thức tam giác
Chứng minh rằng trong một tứ giác, độ dài mỗi cạnh bé hơn tổng độ dài ba cạnh còn lại.
Kiến thức cần nhớ
Bất đẳng thức tam giác: trong một tam giác, độ dài một cạnh luôn nhỏ hơn tổng độ dài hai cạnh còn lại.
Định nghĩa tứ giác: không có hai cạnh nào của tứ giác cùng nằm trên một đường thẳng.
🧠 Phân tích tư duy
Đề so sánh MỘT cạnh với tổng BA cạnh còn lại — dấu hiệu áp dụng bất đẳng thức tam giác nhiều lần qua một đường chéo phụ, vì tứ giác không có sẵn bất đẳng thức riêng cho bốn cạnh cùng lúc. Hướng tự nhiên là kẻ một đường chéo tách tứ giác thành hai tam giác rồi cộng dồn các bất đẳng thức tam giác đã học từ lớp 7. Bẫy là dừng lại sau MỘT bất đẳng thức tam giác duy nhất mà quên đường chéo vừa dùng chưa phải là cạnh của tứ giác, phải khử tiếp bằng bất đẳng thức tam giác thứ hai.
1Cách 1. Kẻ đường chéo BD, dùng hai bất đẳng thức tam giác liên tiếp
Định hướng. Kẻ đường chéo BD để tách tứ giác thành hai tam giác ABD và BCD; mỗi tam giác cho một bất đẳng thức tam giác liên quan đến BD, ghép hai bất đẳng thức lại để đưa cạnh AB về so với đúng ba cạnh còn lại.
Xét tứ giác ABCD, kẻ đường chéo BD. Trong tam giác ABD: AB<AD+DB. Trong tam giác BCD: DB<DC+CB. Thay vào bất đẳng thức trên: AB<AD+DB<AD+DC+CB. Suy ra AB<BC+CD+DA.
VậyAB<BC+CD+DA; đổi vai trò các đỉnh, lập luận hoàn toàn tương tự cho BC<CD+DA+AB, CD<DA+AB+BC, DA<AB+BC+CD.
2Cách 2. Bất đẳng thức vectơ và biện luận dấu bằng
Định hướng. Viết AB thành tổng ba vectơ theo đường gấp khúc A→D→C→B, dùng bất đẳng thức về độ dài vectơ tổng để so sánh, rồi xét khi nào dấu bằng xảy ra để khẳng định bất đẳng thức thực sự chặt.
AB=AD+DC+CB. Theo bất đẳng thức về độ dài vectơ tổng: AB=∣AB∣≤∣AD∣+∣DC∣+∣CB∣=AD+DC+CB. Dấu "=" chỉ xảy ra khi ba vectơ AD, DC, CB cùng hướng, tức bốn điểm A,D,C,B thẳng hàng theo đúng thứ tự đó. Theo định nghĩa tứ giác, không có hai cạnh nào của ABCD cùng nằm trên một đường thẳng nên A,D,C,B không thể thẳng hàng. Vậy dấu "=" không xảy ra, suy ra AB<AD+DC+CB=BC+CD+DA.
VậyAB<BC+CD+DA, và tương tự cho ba cạnh còn lại.
3Cách 3. Phản chứng dựa trên tính chất đường thẳng là đường ngắn nhất nối hai điểm
Định hướng. Giả sử điều cần chứng minh là sai, tức AB≥BC+CD+DA, rồi so sánh với tính chất đường gấp khúc A→D→C→B luôn không ngắn hơn đoạn thẳng AB nối trực tiếp hai đầu mút để tìm mâu thuẫn.
Giả sử AB≥BC+CD+DA, tức AB≥AD+DC+CB. Mặt khác, đường gấp khúc A→D→C→B nối hai điểm A,B nên có độ dài không nhỏ hơn đoạn thẳng AB: AD+DC+CB≥AB. Kết hợp hai bất đẳng thức cùng chiều ngược nhau, suy ra AB=AD+DC+CB. Dấu "=" trong tính chất đường gấp khúc chỉ xảy ra khi A,D,C,B thẳng hàng theo đúng thứ tự, khi đó hai cạnh AD và CB của tứ giác cùng nằm trên một đường thẳng. Điều này trái với định nghĩa tứ giác (không có hai cạnh nào cùng nằm trên một đường thẳng), mâu thuẫn.
Vậy điều giả sử là sai, tức AB<BC+CD+DA.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần kẻ một đường chéo và áp dụng hai lần bất đẳng thức tam giác đã học, ngắn gọn và không cần kiến thức vectơ hay lập luận phản chứng.
Đáp số.Với mọi cạnh của tứ giác, độ dài cạnh đó luôn nhỏ hơn tổng độ dài ba cạnh còn lại; cụ thể AB<BC+CD+DA (và tương tự cho BC,CD,DA).
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn chỉ dừng ở một bất đẳng thức tam giác duy nhất, ví dụ viết AB<AC+CB rồi kết luận luôn, quên rằng AC là đường chéo chứ không phải cạnh của tứ giác nên phải dùng tiếp bất đẳng thức tam giác thứ hai (AC<AD+DC) để thay AC hoàn toàn bằng các cạnh AD,DC thì kết luận mới đúng yêu cầu đề bài.
🚀 Mở rộng.Cùng kĩ thuật đường gấp khúc, bất đẳng thức này mở rộng đúng cho đa giác lồi bất kì có n cạnh: mỗi cạnh luôn nhỏ hơn tổng (n−1) cạnh còn lại.
Bài 3 · 3.3★★★Trang 32— Bất đẳng thức đường chéo và cạnh trong tứ giác dựa vào bất đẳng thức tam giác
Cho tứ giác ABCD có hai đường chéo AC và BD cắt nhau tại O. Chứng minh tổng độ dài hai đường chéo của tứ giác: a) Bé hơn chu vi của tứ giác; b) Lớn hơn tổng hai cạnh đối tuỳ ý của tứ giác, từ đó lớn hơn nửa chu vi của tứ giác.
Kiến thức cần nhớ
Bất đẳng thức tam giác.
Trong tứ giác, hai đường chéo cắt nhau tại một điểm nằm giữa mỗi đường (SGK trang 50).
Cộng các bất đẳng thức cùng chiều vẫn giữ nguyên chiều.
🧠 Phân tích tư duy
Đề có hai đường chéo tạo ra bốn tam giác nhỏ tại giao điểm O — dấu hiệu áp dụng bất đẳng thức tam giác cho từng tam giác nhỏ rồi cộng dồn theo đúng cách để triệt tiêu các đoạn OA,OB,OC,OD. Ý a) cần tách tứ giác theo TỪNG đường chéo riêng (không qua O) để có chiều bất đẳng thức đúng (chặn trên); ý b) cần cộng theo bốn tam giác tại O (chặn dưới). Bẫy là ghép sai cặp bất đẳng thức tại O, khiến các đoạn OA,OB,OC,OD không triệt tiêu hết.
1Cách 1. Tách theo từng đường chéo cho ý a), dùng bốn tam giác tại O cho ý b)
Định hướng. Ý a) tách tứ giác bởi mỗi đường chéo thành hai tam giác lớn để chặn TRÊN từng đường chéo bởi hai cạnh kề; ý b) dùng bốn tam giác nhỏ tại giao điểm O để chặn DƯỚI tổng hai đường chéo.
a) Trong tam giác ABC: AC<AB+BC. Trong tam giác ACD: AC<AD+DC. Cộng hai bất đẳng thức: 2AC<AB+BC+AD+DC, suy ra AC<2AB+BC+CD+DA. Trong tam giác ABD: BD<AB+AD. Trong tam giác BCD: BD<BC+CD. Cộng hai bất đẳng thức: 2BD<AB+AD+BC+CD, suy ra BD<2AB+BC+CD+DA. Cộng hai kết quả: AC+BD<AB+BC+CD+DA. b) Vì O nằm giữa A,C và nằm giữa B,D nên O không thuộc các cạnh của tứ giác; trong bốn tam giác OAB,OBC,OCD,ODA: OA+OB>AB; OB+OC>BC; OC+OD>CD; OD+OA>DA. Cộng hai bất đẳng thức đối diện qua O (chứa OA,OC và OB,OD): (OA+OB)+(OC+OD)>AB+CD, tức (OA+OC)+(OB+OD)>AB+CD, mà OA+OC=AC, OB+OD=BD nên AC+BD>AB+CD. Tương tự cộng cặp còn lại: AC+BD>BC+DA. Cộng hai bất đẳng thức vừa có: 2(AC+BD)>AB+BC+CD+DA, suy ra AC+BD>2AB+BC+CD+DA.
Vậy a) AC+BD<AB+BC+CD+DA; b) AC+BD>AB+CD, AC+BD>BC+DA, và do đó AC+BD>2AB+BC+CD+DA.
2Cách 2. Kiểm chứng bằng một tứ giác cụ thể có toạ độ rõ ràng
Định hướng. Dựng một tứ giác lồi cụ thể bằng toạ độ, tính bằng máy độ dài bốn cạnh, hai đường chéo và vị trí giao điểm O để kiểm chứng bằng số cả hai bất đẳng thức đã chứng minh tổng quát ở Cách 1.
Chọn A(70;260), B(230;80), C(420;150), D(330;320) (đơn vị quy ước), kiểm tra bằng máy cả bốn góc quay cùng chiều nên ABCD là tứ giác lồi. Tính bằng máy: AB≈268,60, BC≈206,16, CD≈200,22, DA≈268,00, chu vi ≈902,50. AC≈366,88, BD=260,00, AC+BD≈626,88. So sánh: 626,88<902,50 (đúng ý a) và 626,88>451,25=2902,50 (đúng hệ quả của ý b). Riêng từng cặp đối: AC+BD≈626,88>AB+CD≈468,82 và AC+BD≈626,88>BC+DA≈474,16 (đúng ý b).
Vậy mọi số liệu đo trên tứ giác cụ thể đều khớp với hai bất đẳng thức tổng quát đã chứng minh ở Cách 1.
Nhận xét. Cách 2 chỉ kiểm chứng trên một trường hợp cụ thể, không thay thế được chứng minh tổng quát của Cách 1, nhưng giúp hình dung rõ vị trí giao điểm O và độ lớn thực tế của các đại lượng.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: đây là chứng minh tổng quát đúng cho MỌI tứ giác lồi, trong khi Cách 2 chỉ kiểm chứng được một trường hợp cụ thể.
Đáp số.a) AC+BD<AB+BC+CD+DA; b) AC+BD>AB+CD, AC+BD>BC+DA, do đó AC+BD>2AB+BC+CD+DA.
Sai lầm thường gặp.Ở ý b), nhiều bạn cộng nhầm hai bất đẳng thức tại O theo cặp sai (ví dụ cộng OA+OB>AB với OA+OD>DA, tức cộng hai bất đẳng thức cùng chứa OA) nên không triệt tiêu hết OA,OB,OC,OD; phải ghép đúng hai cặp ĐỐI DIỆN qua O (một cặp chứa OA,OC, cặp kia chứa OB,OD) thì tổng mới gọn về đúng AC+BD.
🚀 Mở rộng.Cùng kĩ thuật này cho thấy tổng hai đường chéo của một tứ giác lồi luôn kẹp giữa nửa chu vi và chu vi: 2AB+BC+CD+DA<AC+BD<AB+BC+CD+DA.
Bài 4 · 3.4★★★★Trang 32— Cực trị hình học — tổng khoảng cách từ một điểm đến bốn đỉnh tứ giác nhỏ nhất
Tìm điểm M bên trong tứ giác ABCD sao cho tổng khoảng cách từ M đến bốn đỉnh A,B,C,D là bé nhất.
Kiến thức cần nhớ
Bất đẳng thức tam giác (dạng mở rộng): với ba điểm M,A,C bất kì, MA+MC≥AC, dấu "=" xảy ra khi và chỉ khi M nằm giữa A và C.
Trong tứ giác, hai đường chéo cắt nhau tại một điểm nằm giữa mỗi đường (SGK trang 50).
🧠 Phân tích tư duy
Đề hỏi vị trí điểm M cho tổng bốn khoảng cách nhỏ nhất — dấu hiệu bài toán cực trị hình học dùng bất đẳng thức tam giác làm công cụ chặn dưới rồi chỉ ra dấu bằng đạt được ở đâu. Vì tứ giác có sẵn hai đường chéo nối các cặp đỉnh đối nhau (A với C, B với D), hướng tự nhiên là nhóm bốn khoảng cách thành hai cặp đối nhau, mỗi cặp chặn dưới bởi độ dài đường chéo tương ứng. Bẫy là chỉ xét một đường chéo mà quên đường chéo còn lại, dẫn tới kết luận thiếu chặt (chỉ ép được M về một đoạn thẳng chứ chưa về một điểm).
1Cách 1. Nhóm bốn khoảng cách theo hai cặp đỉnh đối, dùng bất đẳng thức tam giác
Định hướng. Nhóm bốn khoảng cách MA,MB,MC,MD thành hai cặp ứng với hai đường chéo AC và BD: cặp (MA,MC) và cặp (MB,MD), mỗi cặp chặn dưới bởi một bất đẳng thức tam giác, dấu bằng đạt được khi M nằm trên đúng đường chéo đó.
Với mọi điểm M: MA+MC≥AC, dấu "=" xảy ra khi và chỉ khi M thuộc đoạn thẳng AC. Với mọi điểm M: MB+MD≥BD, dấu "=" xảy ra khi và chỉ khi M thuộc đoạn thẳng BD. Cộng hai bất đẳng thức: MA+MB+MC+MD≥AC+BD. Dấu "=" xảy ra khi và chỉ khi M đồng thời thuộc cả đoạn AC và đoạn BD, tức M là giao điểm O của hai đường chéo.
Vậy tổng MA+MB+MC+MD nhỏ nhất bằng AC+BD, đạt được khi M là giao điểm hai đường chéo AC và BD.
2Cách 2. Phản chứng: giả sử điểm cho tổng nhỏ nhất không phải giao điểm hai đường chéo
Định hướng. Gọi O là giao điểm hai đường chéo, giả sử tồn tại một điểm M cho tổng nhỏ hơn tổng tại O, rồi dùng chính bất đẳng thức tam giác để chỉ ra điều đó vô lí.
Gọi O là giao điểm hai đường chéo AC,BD của tứ giác ABCD; vì O nằm giữa A,C và nằm giữa B,D nên OA+OC=AC, OB+OD=BD. Giả sử tồn tại điểm M khác O mà MA+MB+MC+MD<OA+OB+OC+OD=AC+BD. Theo bất đẳng thức tam giác: MA+MC≥AC và MB+MD≥BD, cộng lại được MA+MB+MC+MD≥AC+BD. Điều này trái với giả sử MA+MB+MC+MD<AC+BD ở trên, mâu thuẫn.
Vậy không tồn tại điểm nào cho tổng nhỏ hơn AC+BD, nên điểm M cần tìm chính là giao điểm hai đường chéo, khi đó tổng nhỏ nhất bằng AC+BD.
3Cách 3. Thử số cụ thể bằng toạ độ để kiểm chứng
Định hướng. Dựng một tứ giác lồi cụ thể bằng toạ độ, tính tổng khoảng cách từ giao điểm hai đường chéo và từ vài điểm khác bên trong tứ giác đến bốn đỉnh, so sánh bằng số để kiểm chứng trực quan kết luận ở Cách 1, Cách 2.
Chọn A(70;260), B(230;80), C(420;150), D(330;320) (đơn vị quy ước); giao điểm hai đường chéo O≈(277,8;194,7). Tính bằng máy: OA+OB+OC+OD≈626,88, đúng bằng AC+BD≈366,88+260,00=626,88. Thử điểm M1(250;220): M1A+M1B+M1C+M1D≈637,72>626,88. Thử điểm M2(300;180): M2A+M2B+M2C+M2D≈632,45>626,88. Thử trọng tâm bốn đỉnh M3(262,5;202,5): M3A+M3B+M3C+M3D≈629,17>626,88.
Vậy mọi điểm thử đều cho tổng lớn hơn giá trị tại O, phù hợp với kết luận tổng nhỏ nhất đạt tại giao điểm hai đường chéo.
Nhận xét. Cách 3 chỉ kiểm chứng trên một tứ giác cụ thể, không thay cho chứng minh tổng quát ở Cách 1, Cách 2, nhưng giúp thấy rõ vì sao điểm O là lựa chọn tối ưu.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần hai bất đẳng thức tam giác và một phép cộng vế, ngắn gọn và đúng cho mọi tứ giác lồi; Cách 3 chỉ nên dùng để kiểm tra lại trực quan.
Đáp số.Điểm M cần tìm là giao điểm O của hai đường chéo AC và BD; khi đó tổng khoảng cách nhỏ nhất bằng AC+BD.
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn chỉ xét một đường chéo, ví dụ kết luận ngay M phải nằm trên AC vì MA+MC≥AC, mà quên vẫn còn ràng buộc MB+MD≥BD; phải kết hợp đồng thời cả hai điều kiện thì M mới bị ép về đúng một điểm duy nhất là giao điểm hai đường chéo, chứ không phải bất kì điểm nào trên AC.
🚀 Mở rộng.Với ngũ giác hay lục giác lồi có các đường chéo chính đôi một cắt nhau tại một điểm chung, cùng kĩ thuật ghép cặp đỉnh đối bằng bất đẳng thức tam giác vẫn áp dụng được để tìm điểm có tổng khoảng cách đến các đỉnh nhỏ nhất.
Bài 5 · 3.5★★Trang 32— Tính góc tứ giác 'hình cái diều' dựa vào tổng bốn góc và tính chất đối xứng qua đường chéo
Cho tứ giác ABCD có AB=BC, CD=DA, B=100∘, D=120∘. Tính A và C.
Kiến thức cần nhớ
Tổng các góc của một tứ giác bằng 360∘ (định lí SGK trang 50).
Hai tam giác bằng nhau theo trường hợp cạnh - cạnh - cạnh (c.c.c).
Hai góc tương ứng của hai tam giác bằng nhau thì bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho hai cặp cạnh kề bằng nhau (AB=BC và CD=DA) — đúng dấu hiệu tứ giác dạng cái diều như SGK đã giới thiệu (trang 51), có trục đối xứng là đường chéo BD. Vì hai góc B,D đã cho số đo cụ thể, hướng ngắn nhất là dùng ngay định lí tổng bốn góc bằng 360∘ kết hợp việc chỉ ra A=C nhờ tính đối xứng. Bẫy là ngộ nhận A=C hiển nhiên mà quên đây là kết quả CẦN CHỨNG MINH qua hai tam giác bằng nhau, trước khi chia đôi phần còn lại của 360∘.
1Cách 1. Chứng minh hai tam giác bằng nhau rồi dùng tổng bốn góc
Định hướng. Kẻ đường chéo BD, chứng minh tam giác ABD và tam giác CBD bằng nhau theo trường hợp cạnh - cạnh - cạnh để có A=C, rồi thay vào định lí tổng bốn góc của tứ giác.
Xét tam giác ABD và tam giác CBD có AB=CB (giả thiết), AD=CD (giả thiết), BD chung. Suy ra tam giác ABD = tam giác CBD (c.c.c). Suy ra BAD=BCD, tức A=C. Theo định lí tổng các góc của tứ giác: A+B+C+D=360∘. Thay B=100∘, D=120∘, C=A: A+100∘+A+120∘=360∘. 2A=360∘−220∘=140∘. A=70∘.
VậyA=C=70∘.
2Cách 2. Chia đôi góc B, góc D theo trục đối xứng, tính trực tiếp trong tam giác ABD
Định hướng. Vì tam giác ABD = tam giác CBD nên BD chia đôi cả góc B lẫn góc D của tứ giác; từ đó tính A trực tiếp bằng tổng ba góc trong tam giác ABD mà không cần quay lại định lí tổng bốn góc của tứ giác.
Do tam giác ABD = tam giác CBD (chứng minh như Cách 1) nên ABD=CBD=2B=2100∘=50∘. Và ADB=CDB=2D=2120∘=60∘. Trong tam giác ABD: A+ABD+ADB=180∘. A=180∘−50∘−60∘=70∘. Tương tự trong tam giác CBD: C=180∘−50∘−60∘=70∘.
VậyA=C=70∘.
Nhận xét. Cách 2 không cần nhắc lại định lí tổng bốn góc của tứ giác, chỉ dùng tổng ba góc trong một tam giác quen thuộc từ lớp 7, nhưng buộc phải chỉ ra BD chia đôi góc B và góc D trước.
3Cách 3. Kiểm chứng bằng toạ độ cụ thể
Định hướng. Dựng tứ giác ABCD bằng toạ độ cụ thể thoả đúng AB=BC, CD=DA, B=100∘, D=120∘, rồi đo lại bốn góc bằng công thức toạ độ để kiểm tra kết quả A=C=70∘ ở Cách 1, Cách 2.
Chọn B(0;0), D(0;−200) (đơn vị quy ước), dựng A(−141,2;−118,5) và C(141,2;−118,5) đối xứng nhau qua trục BD. Tính bằng máy: AB=BC≈184,32, CD=DA≈163,04 (đúng như giả thiết). Đo lại các góc bằng công thức toạ độ: B=100,00∘, D=120,00∘, A=C=70,00∘.
Vậy kết quả đo bằng toạ độ khớp hoàn toàn với A=C=70∘ đã tính ở Cách 1, Cách 2.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần một lần chứng minh hai tam giác bằng nhau rồi áp dụng thẳng định lí tổng bốn góc của tứ giác, không cần thêm bước chia đôi góc như Cách 2.
Đáp số.A=C=70∘.
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn thấy AB=BC, CD=DA liền suy luôn A=C mà không chứng minh, thực chất đây là kết quả CẦN CHỨNG MINH (qua hai tam giác bằng nhau) chứ không phải hiển nhiên chỉ vì tứ giác có hai cặp cạnh kề bằng nhau.
🚀 Mở rộng.Nếu đổi giả thiết thành B=b∘, D=d∘ tuỳ ý (vẫn giữ AB=BC, CD=DA, b+d<360∘) thì luôn có A=C=2360∘−b∘−d∘.
Bài 6 · 3.6★★Trang 32— Góc ngoài của tứ giác và tam giác — tính tổng dựa vào góc kề bù và tổng góc trong
a) Góc kề bù với góc tại một đỉnh của tứ giác gọi là một góc ngoài tại đỉnh đó của tứ giác. Hãy tính tổng bốn góc ngoài tại bốn đỉnh của một tứ giác (mỗi đỉnh lấy đúng một góc ngoài). b) Định nghĩa góc ngoài tại một đỉnh của một tam giác tương tự. Hỏi tổng các góc ngoài của một tam giác bằng bao nhiêu?
Kiến thức cần nhớ
Hai góc kề bù có tổng số đo bằng 180∘.
Tổng các góc của một tứ giác bằng 360∘; tổng các góc của một tam giác bằng 180∘.
🧠 Phân tích tư duy
Đề định nghĩa góc ngoài là góc kề bù với góc trong tại cùng đỉnh — dấu hiệu mỗi góc ngoài bằng 180∘ trừ góc trong tương ứng. Vì đã biết tổng các góc trong (tứ giác 360∘, tam giác 180∘), hướng tự nhiên là viết tổng các góc ngoài theo tổng các góc trong rồi rút gọn. Bẫy ở ý b) là áp nhầm công thức của tứ giác (trừ 360∘) thay vì lập lại đúng quy trình cho tam giác (chỉ ba đỉnh, tổng góc trong là 180∘).
1Cách 1. Viết mỗi góc ngoài theo góc trong rồi cộng lại
Định hướng. Viết mỗi góc ngoài bằng 180∘ trừ góc trong tại đỉnh đó, cộng các đẳng thức lại rồi thay tổng góc trong đã biết.
a) Gọi bốn góc trong của tứ giác là A,B,C,D, bốn góc ngoài tương ứng là 180∘−A, 180∘−B, 180∘−C, 180∘−D. Tổng bốn góc ngoài =4⋅180∘−(A+B+C+D). Vì A+B+C+D=360∘ nên tổng bốn góc ngoài =720∘−360∘=360∘. b) Gọi ba góc trong của tam giác là A,B,C, ba góc ngoài tương ứng là 180∘−A, 180∘−B, 180∘−C. Tổng ba góc ngoài =3⋅180∘−(A+B+C)=540∘−180∘=360∘.
Vậy a) tổng bốn góc ngoài của một tứ giác bằng 360∘; b) tổng ba góc ngoài của một tam giác cũng bằng 360∘.
2Cách 2. Hình dung phép quay một vòng quanh biên
Định hướng. Tưởng tượng đi bộ một vòng quanh biên của tứ giác (hoặc tam giác) theo một chiều nhất định; tại mỗi đỉnh, hướng đi bị rẽ đi đúng một góc bằng góc ngoài tại đỉnh đó. Đi hết một vòng khép kín thì hướng đi quay đúng một vòng tròn.
a) Khi đi hết một vòng quanh tứ giác ABCD (qua lần lượt bốn đỉnh A,B,C,D rồi trở lại A), tổng các góc rẽ tại bốn đỉnh đúng bằng một vòng quay trọn: 360∘. Mỗi góc rẽ tại một đỉnh chính là góc ngoài tại đỉnh đó (góc kề bù với góc trong). Do đó tổng bốn góc ngoài của tứ giác ABCD bằng 360∘. b) Tương tự, khi đi hết một vòng quanh tam giác (qua ba đỉnh rồi trở lại điểm xuất phát), tổng các góc rẽ tại ba đỉnh cũng đúng bằng một vòng quay trọn: 360∘. Mỗi góc rẽ chính là góc ngoài tại mỗi đỉnh của tam giác, nên tổng ba góc ngoài của tam giác cũng bằng 360∘.
Vậy cả hai kết quả trùng khớp Cách 1: tổng góc ngoài của tứ giác và của tam giác đều bằng 360∘, không phụ thuộc số cạnh.
Nhận xét. Cách 2 cho thấy 360∘ mang bản chất hình học trực quan (một vòng quay trọn), giải thích vì sao tổng góc ngoài của MỌI đa giác lồi — dù ba, bốn hay nhiều cạnh hơn — luôn bằng 360∘, khác với tổng góc TRONG vốn phụ thuộc số cạnh.
3Cách 3. Kiểm chứng bằng một tứ giác và một tam giác có số đo góc cụ thể
Định hướng. Lấy tứ giác trong Ví dụ của SGK (trang 50) có ba góc 110∘,120∘,80∘ và góc còn lại đã tính được 50∘, cùng một tam giác đều 60∘-60∘-60∘, tính trực tiếp các góc ngoài rồi cộng lại để kiểm chứng kết quả tổng quát ở Cách 1.
Tứ giác có bốn góc trong 110∘,120∘,80∘,50∘ (tổng =360∘, đúng định lí). Bốn góc ngoài tương ứng: 180∘−110∘=70∘; 180∘−120∘=60∘; 180∘−80∘=100∘; 180∘−50∘=130∘. Tổng bốn góc ngoài: 70∘+60∘+100∘+130∘=360∘. Tam giác đều có ba góc trong đều 60∘ (tổng =180∘, đúng định lí). Ba góc ngoài tương ứng đều bằng 180∘−60∘=120∘. Tổng ba góc ngoài: 120∘+120∘+120∘=360∘.
Vậy cả hai phép thử số đều cho tổng góc ngoài bằng 360∘, khớp với kết luận tổng quát ở Cách 1, Cách 2.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần viết mỗi góc ngoài dưới dạng 180∘ trừ góc trong rồi cộng lại, không cần hình dung phép quay như Cách 2.
Đáp số.a) Tổng bốn góc ngoài của một tứ giác bằng 360∘. b) Góc ngoài tại một đỉnh của tam giác là góc kề bù với góc trong tại đỉnh đó; tổng ba góc ngoài của một tam giác cũng bằng 360∘.
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn nhớ nhầm tổng góc ngoài của tam giác bằng 180∘ vì lẫn với tổng ba góc TRONG của tam giác; thực ra góc ngoài luôn tính bằng 180∘ trừ góc trong tương ứng nên tổng ba góc ngoài phải là 540∘−180∘=360∘, không phải 180∘.
🚀 Mở rộng.Kết quả tổng góc ngoài luôn bằng 360∘ đúng cho MỌI đa giác lồi n cạnh (không chỉ tam giác, tứ giác): tổng góc ngoài =n⋅180∘−(n−2)⋅180∘=360∘, không phụ thuộc n.