Bài 1 · 3.7★Trang 34— Tính các góc của hình thang khi biết hai quan hệ giữa các góc kề cạnh bên
Tính các góc của hình thang ABCD (AB, CD là hai đáy) biết A=2D, B=C+40∘.
Kiến thức cần nhớ
Trong hình thang, hai góc kề một cạnh bên thì bù nhau (tổng bằng 180∘) — hệ quả của hai đáy song song và tính chất cặp góc trong cùng phía.
Giải hệ hai ẩn dạng tổng và tỉ số (hoặc tổng và hiệu) bằng cách rút một ẩn theo ẩn kia rồi thay vào.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho hai quan hệ tách rời — một quan hệ giữa A, D (kề cạnh bên AD) và một quan hệ giữa B, C (kề cạnh bên BC) — dấu hiệu của dạng dùng tính chất "hai góc kề một cạnh bên của hình thang thì bù nhau" cho từng cặp riêng biệt rồi giải hai bài toán tổng-tỉ độc lập. Hướng an toàn nhất là lập hai phương trình bù nhau rồi thay hệ thức đã cho vào từng phương trình, vì hai cặp góc không liên hệ trực tiếp với nhau. Bẫy của đề: đây là hình thang (không nói "cân"), nên A và B không nhất thiết bằng D, C — không được suy diễn thêm tính chất của hình thang cân.
1Cách 1. Lập hai phương trình bù nhau, thay hệ thức đã cho
Định hướng. Vì AB∥CD nên A, D kề cạnh bên AD bù nhau và B, C kề cạnh bên BC bù nhau; thay A=2D và B=C+40∘ vào hai phương trình đó.
Vì ABCD là hình thang có AB∥CD nên A+D=180∘ và B+C=180∘. Mà A=2D nên 2D+D=180∘, suy ra 3D=180∘, do đó D=60∘. Khi đó A=2D=2⋅60∘=120∘. Mà B=C+40∘ nên C+40∘+C=180∘, suy ra 2C=140∘, do đó C=70∘. Khi đó B=C+40∘=70∘+40∘=110∘.
VậyA=120∘, B=110∘, C=70∘, D=60∘.
2Cách 2. Đặt ẩn D=x, C=y rồi giải hai phương trình bậc nhất
Định hướng. Đặt D=x thì A=2x; đặt C=y thì B=y+40∘; đưa mỗi cặp góc bù nhau về một phương trình bậc nhất một ẩn.
Đặt D=x (x>0), suy ra A=2x. Từ A+D=180∘: 2x+x=180∘, tức 3x=180∘, nên x=60∘. Đặt C=y (y>0), suy ra B=y+40∘. Từ B+C=180∘: y+40∘+y=180∘, tức 2y=140∘, nên y=70∘. Do đó D=x=60∘, A=2x=120∘, C=y=70∘, B=y+40∘=110∘.
VậyA=120∘, B=110∘, C=70∘, D=60∘.
3Cách 3. Dùng tổng bốn góc tứ giác 360∘ để thử lại chéo
Định hướng. Sau khi có D, A từ cặp bù nhau thứ nhất, dùng thêm định lí tổng bốn góc tứ giác bằng 360∘ cùng hệ thức B=C+40∘ để tìm nốt B, C mà không cần dùng lại tính chất bù nhau lần hai — một cách kiểm tra chéo độc lập với Cách 1, 2.
Từ A+D=180∘ và A=2D (như Cách 1) suy ra D=60∘, A=120∘. Tổng bốn góc tứ giác ABCD: A+B+C+D=360∘. Thay số: 120∘+B+C+60∘=360∘, suy ra B+C=180∘. Mà B=C+40∘ nên C+40∘+C=180∘, suy ra C=70∘, B=110∘.
VậyA=120∘, B=110∘, C=70∘, D=60∘.
Nhận xét. Cách 3 thực chất suy ra lại đúng B+C=180∘ đã dùng ở Cách 1, 2 (vì A+D=180∘ và tổng bốn góc 360∘ kéo theo điều đó), nên đây là phép thử lại chắc chắn chứ không phải một con đường độc lập hoàn toàn — vẫn hữu ích để tự kiểm tra kết quả.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ hai phương trình bậc nhất một ẩn quen thuộc, không cần đặt thêm kí hiệu ẩn nên trình bày nhanh nhất và khó nhầm nhất.
Đáp số.A=120∘, B=110∘, C=70∘, D=60∘.
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn nhớ nhầm đây là hình thang CÂN nên vội suy ra A=B hoặc C=D — đề chỉ nói "hình thang", không có giả thiết cân, nên không được dùng tính chất hai góc kề đáy bằng nhau.
🚀 Mở rộng.Cùng cách lập hai phương trình bù nhau, nếu đổi "B=C+40∘" thành "B=kC" thì C=k+1180∘ — đáp số phụ thuộc trực tiếp vào k.
Bài 2 · 3.8★★Trang 34— Chứng minh giới hạn số góc tù trong hình thang dựa vào cặp góc kề cạnh bên bù nhau
Chứng minh rằng trong hình thang có nhiều nhất hai góc tù.
Kiến thức cần nhớ
Trong hình thang, hai góc kề một cạnh bên thì bù nhau (tổng bằng 180∘).
Nếu tổng hai góc bằng 180∘ thì không thể cả hai đều lớn hơn 90∘ (vì tổng khi đó sẽ lớn hơn 180∘, vô lí).
🧠 Phân tích tư duy
Đề yêu cầu chứng minh một giới hạn ("nhiều nhất hai góc") chứ không cho số liệu cụ thể — dấu hiệu của dạng lập luận bằng tính chất "hai góc kề một cạnh bên thì bù nhau", vì đây là dữ kiện duy nhất luôn đúng cho MỌI hình thang, không phụ thuộc hình dạng. Hướng tự nhiên là xét hai cặp góc kề hai cạnh bên AD, BC tách biệt, mỗi cặp bù nhau nên nhiều nhất một góc tù (nếu cả hai góc trong một cặp cùng tù thì tổng vượt quá 180∘, vô lí). Bẫy của đề: phải xét đủ CẢ HAI cặp kề cạnh bên rồi mới cộng dồn số góc tù tối đa, xét một cặp là chưa đủ để kết luận cho cả bốn góc.
1Cách 1. Xét từng cặp góc kề cạnh bên bằng phản chứng
Định hướng. Tách bốn góc của hình thang thành hai cặp kề hai cạnh bên AD và BC; mỗi cặp bù nhau nên chứng minh mỗi cặp có nhiều nhất một góc tù, rồi cộng lại cho cả tứ giác.
Xét hình thang ABCD có AB∥CD. Vì AB∥CD nên A, D là hai góc kề cạnh bên AD, do đó A+D=180∘. Giả sử cả A và D đều là góc tù, tức A>90∘ và D>90∘. Khi đó A+D>90∘+90∘=180∘, mâu thuẫn với A+D=180∘. Vậy trong hai góc A, D có nhiều nhất một góc tù. Tương tự, B, C là hai góc kề cạnh bên BC nên B+C=180∘, cùng lập luận trên cho: trong hai góc B, C có nhiều nhất một góc tù.
Vậy trong bốn góc A,B,C,D của hình thang ABCD, có nhiều nhất một góc tù trong cặp (A,D) và nhiều nhất một góc tù trong cặp (B,C), nên có nhiều nhất hai góc tù.
2Cách 2. Đặt độ lệch so với 90∘, xét dấu tổng từng cặp
Định hướng. Diễn đạt lại lập luận trên bằng đại số: đặt độ lệch của mỗi góc so với 90∘, tổng hai độ lệch trong một cặp kề cạnh bên luôn bằng 0 nên không thể cả hai cùng dương (cùng tù).
Đặt x=A−90∘, y=D−90∘; vì A+D=180∘ nên x+y=0. Nếu x>0 (tức A tù) thì y=−x<0 (tức D không tù); nếu x≤0 thì A không tù. Do đó trong cặp (A,D) không thể có đồng thời hai độ lệch dương, nghĩa là có nhiều nhất một góc tù. Đặt u=B−90∘, v=C−90∘; vì B+C=180∘ nên u+v=0, cùng lập luận trên cho cặp (B,C) có nhiều nhất một góc tù.
Vậy hình thang ABCD có nhiều nhất hai góc tù (mỗi cặp góc kề một cạnh bên góp nhiều nhất một góc tù).
3Cách 3. Phản chứng trực tiếp trên toàn bộ ba góc tù trở lên
Định hướng. Giả sử phản chứng có từ ba góc tù trở lên, khi đó theo nguyên lí Dirichlet ba góc tù đó phải rơi vào hai cặp kề cạnh bên nên có ít nhất một cặp chứa hai góc cùng tù — mâu thuẫn trực tiếp với tính chất bù nhau.
Giả sử hình thang ABCD có ít nhất ba góc tù trong bốn góc A,B,C,D. Bốn góc chia thành hai cặp kề cạnh bên: (A,D) và (B,C). Có ít nhất ba góc tù trong hai cặp (mỗi cặp chỉ hai góc) nên theo nguyên lí Dirichlet, phải có một cặp mà CẢ HAI góc đều tù. Nhưng mỗi cặp kề cạnh bên có tổng bằng 180∘, nên không thể cả hai góc trong cùng một cặp đều lớn hơn 90∘ — mâu thuẫn.
Vậy điều giả sử là sai, tức hình thang ABCD có nhiều nhất hai góc tù.
Nhận xét. Cách 3 phản chứng ngay trên số lượng góc tù cần bác bỏ (từ ba trở lên), trong khi Cách 1 chứng minh trực tiếp giới hạn cho từng cặp rồi cộng lại — Cách 1 tự nhiên và dễ trình bày hơn khi đi thi.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chứng minh trực tiếp bằng phản chứng cho từng cặp góc kề cạnh bên, không cần khái niệm nguyên lí Dirichlet nên phù hợp trình bày ở lớp 8.
Đáp số.Hình thang không thể có ba góc tù trở lên; nhiều nhất là hai góc tù (mỗi cặp góc kề một cạnh bên góp nhiều nhất một góc tù vì hai góc đó bù nhau).
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn chỉ xét một cặp góc kề cạnh bên (ví dụ chỉ chứng minh A, D không thể cùng tù) rồi vội kết luận cả hình thang có nhiều nhất một góc tù — quên rằng cặp góc kề cạnh bên còn lại (B,C) cũng có thể góp thêm một góc tù độc lập, nên giới hạn đúng của cả bốn góc là HAI, không phải một.
🚀 Mở rộng.Lập luận tương tự cho thấy hình thang cũng có nhiều nhất hai góc nhọn (vì mỗi cặp kề cạnh bên bù nhau nên nhiều nhất một góc nhọn), và hình thang không thể có bốn góc đều bằng đúng 90∘ trừ khi là hình chữ nhật hoặc hình vuông (khi đó không còn là hình thang thường theo nghĩa hẹp).
Bài 3 · 3.9★★★Trang 34— Chứng minh tứ giác ghép từ hai tam giác vuông cân là hình thang vuông
Cho tam giác ABC vuông cân tại đỉnh A. Ghép thêm vào phía ngoài tam giác đó tam giác BCD vuông cân tại đỉnh B. Chứng minh tứ giác ABDC là một hình thang vuông (hình thang có một cạnh bên vuông góc với hai đáy).
Kiến thức cần nhớ
Tam giác vuông cân tại một đỉnh thì hai góc còn lại bằng nhau và bằng 45∘ (vì tổng ba góc 180∘, góc vuông 90∘, hai góc còn lại chia đều 90∘).
Hai đường thẳng bị cắt bởi một cát tuyến, nếu có một cặp góc so le trong bằng nhau thì hai đường thẳng đó song song.
Hình thang có một cạnh bên vuông góc với hai đáy gọi là hình thang vuông.
🧠 Phân tích tư duy
Đề ghép hai tam giác vuông cân tại hai đỉnh KHÁC NHAU (A và B) ra hai phía của cạnh chung BC — dấu hiệu của dạng chứng minh song song bằng cặp góc so le trong bằng nhau, vì mỗi tam giác vuông cân cho ngay một góc 45∘ ở đáy. Hướng tự nhiên nhất là tính ABC và BCD rồi so sánh: cả hai đều bằng 45∘ nên là cặp so le trong của AB và CD cắt bởi cát tuyến BC, suy ra AB∥CD. Bẫy của đề: đọc nhầm "vuông cân tại đỉnh B" nghĩa là cạnh AB=AC như tam giác đầu — thực chất đỉnh vuông đổi sang B nên hai cạnh bằng nhau của tam giác sau là BC và BD, không phải BC, CD.
1Cách 1. Tính hai góc 45∘ rồi dùng dấu hiệu so le trong
Định hướng. Tính ABC từ tam giác vuông cân tại A và BCD từ tam giác vuông cân tại B; đây là cặp góc so le trong của AB, CD cắt bởi BC, bằng nhau thì suy ra song song.
Do △ABC vuông cân tại đỉnh A nên A=90∘ và ABC=ACB. Trong △ABC: ABC+ACB+A=180∘, suy ra ABC=ACB=2180∘−90∘=45∘. Do △BCD vuông cân tại đỉnh B nên CBD=90∘ và BCD=BDC. Trong △BCD: BCD+BDC+CBD=180∘, suy ra BCD=BDC=2180∘−90∘=45∘. Xét cát tuyến BC cắt hai đường thẳng AB và CD: ABC=45∘=BCD là cặp góc so le trong bằng nhau.
VậyAB∥CD, nên ABDC là hình thang với hai đáy AB, CD; lại có AC⊥AB (do A=90∘ của △ABC) nên AC là cạnh bên vuông góc với hai đáy — ABDC là hình thang vuông.
2Cách 2. Chứng minh trực tiếp AC⊥CD rồi suy ra song song với AB
Định hướng. Thay vì so sánh cặp góc so le trong, chỉ ra ACD=ACB+BCD=90∘ nên AC⊥CD; đã có sẵn AC⊥AB (từ tam giác vuông tại A) nên AB và CD cùng vuông góc với AC, do đó song song với nhau.
Từ Cách 1: ACB=45∘ (góc của △ABC vuông cân tại A) và BCD=45∘ (góc của △BCD vuông cân tại B). Vì D ở phía ngoài △ABC so với cạnh BC nên tia CB nằm giữa hai tia CA và CD, do đó ACD=ACB+BCD=45∘+45∘=90∘. Suy ra AC⊥CD. Mà A=90∘ của △ABC nghĩa là AC⊥AB. Hai đường thẳng AB và CD cùng vuông góc với đường thẳng AC.
VậyAB∥CD (hai đường thẳng cùng vuông góc với một đường thẳng thứ ba thì song song), nên ABDC là hình thang vuông với cạnh bên AC vuông góc với hai đáy AB, CD.
3Cách 3. Dùng toạ độ, tính trực tiếp hai vec-tơ đáy
Định hướng. Gắn toạ độ với A làm gốc, hai cạnh góc vuông AB, AC làm hai trục; tính toạ độ D từ điều kiện △BCD vuông cân tại B, ở phía ngoài △ABC, rồi kiểm tra trực tiếp hai vec-tơ AB, CD cùng phương và vec-tơ AC vuông góc với cả hai.
Chọn hệ trục với A(0;0), B(1;0), C(0;1) (thoả A=90∘, AB=AC=1). Đường thẳng BC có vec-tơ chỉ phương BC=(−1;1); vec-tơ vuông góc với BC và cùng độ dài BC=2, hướng ra phía ngoài △ABC (phía không chứa A) là (1;1). Suy ra D=B+(1;1)=(2;1), khi đó BD=(1;1) thoả BD=2=BC và BD⋅BC=(1)(−1)+(1)(1)=0 nên DBC=90∘ — đúng △BCD vuông cân tại B. Ta có AB=(1;0) và CD=D−C=(2;0) — hai vec-tơ cùng phương (1;0). Ta có AC=(0;1), kiểm tra AC⋅AB=0⋅1+1⋅0=0.
VậyAB∥CD (hai vec-tơ cùng phương) và AC⊥AB, nên ABDC là hình thang vuông với cạnh bên AC vuông góc với hai đáy AB, CD.
Nhận xét. Cách 3 kiểm tra toạ độ chỉ để xác nhận lại kết quả hình học của Cách 1, 2 chứ không phải một cách trình bày lớp 8 (toạ độ vec-tơ học ở lớp 10) — trong bài làm nên trình bày Cách 1 hoặc Cách 2.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần tính hai góc 45∘ rồi áp dụng đúng một dấu hiệu nhận biết hai đường thẳng song song (so le trong bằng nhau) đã học ở lớp 7, ngắn gọn và đúng phạm vi kiến thức lớp 8.
Đáp số.ABDC là hình thang vuông với hai đáy AB∥CD và cạnh bên AC⊥AB, AC⊥CD.
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn nhầm "vuông cân tại đỉnh B" của △BCD thành hai cạnh BC=CD bằng nhau (giống mẫu tam giác ABC vuông cân tại A có AB=AC) — thực ra đỉnh vuông cân đổi sang B nên hai cạnh bằng nhau phải là hai cạnh CÙNG XUẤT PHÁT từ B, tức BC=BD, còn cạnh đối diện đỉnh vuông là CD (cạnh huyền), không bằng BC.
🚀 Mở rộng.Nếu ghép thêm tam giác vuông cân thứ ba tại đỉnh D ra phía ngoài cạnh CD theo đúng quy luật trên, hình tạo thành là một chuỗi hình thang vuông nối tiếp nhau, mỗi hình thang có cạnh bên vuông góc bằng cạnh bên vuông góc của hình thang liền trước nối dài.
Bài 4 · 3.10★★★★Trang 34— Chứng minh một đường thẳng đi qua trung điểm hai đáy của hình thang cân bằng tính chất cách đều
Cho hình thang cân ABCD với hai đường thẳng chứa hai cạnh bên AD, BC cắt nhau tại S. Gọi O là giao điểm của hai đường chéo AC và BD. Chứng minh đường thẳng SO đi qua trung điểm của AB, đi qua trung điểm của CD.
Kiến thức cần nhớ
Hình thang cân có hai cạnh bên bằng nhau và hai đường chéo bằng nhau (định nghĩa/tính chất hình thang cân, SGK trang 52-53).
Một điểm cách đều hai đầu mút của một đoạn thẳng thì nằm trên đường trung trực của đoạn thẳng đó; đường trung trực đi qua trung điểm đoạn thẳng.
Hai đường thẳng phân biệt cắt nhau tại nhiều nhất một điểm — nếu cả hai điểm S, O đều nằm trên một đường thẳng cố định thì đường thẳng SO chính là đường thẳng đó.
🧠 Phân tích tư duy
Đề có hai điểm đặc biệt của hình thang cân (S từ hai cạnh bên kéo dài, O từ hai đường chéo) và yêu cầu chứng minh SO đi qua CẢ HAI trung điểm — dấu hiệu của dạng dùng tính chất đối xứng: một điểm đi qua trung điểm của một đoạn thẳng khi và chỉ khi điểm đó cách đều hai đầu đoạn thẳng (nằm trên đường trung trực). Hướng tự nhiên là chứng minh riêng S cách đều A, B và cách đều C, D; rồi O cũng cách đều A, B và cách đều C, D; từ đó cả S và O cùng nằm trên một đường trung trực chung. Bẫy của đề: phải chứng minh S, O cùng nằm trên MỘT đường trung trực DUY NHẤT của cả hai đáy (không phải hai đường trung trực khác nhau), muốn vậy cần chỉ ra đường trung trực của AB và của CD trùng nhau — điều này đúng vì hình thang cân có trục đối xứng chung cho hai đáy.
1Cách 1. Chứng minh S, O cùng cách đều hai đáy bằng tam giác cân
Định hướng. Chứng minh △SAB và △OAB cân tại S, O (nên S, O cách đều A, B); chứng minh tương tự cho C, D. Khi đó S và O cùng nằm trên đường trung trực chung của AB và CD, tức đường thẳng SO đi qua hai trung điểm đó.
Do ABCD là hình thang cân nên AD=BC, AC=BD, ADC=BCD. Chứng minh O cách đều A, B và C, D: Xét △ABC và △BAD có BC=AD, AC=BD, cạnh AB chung, nên △ABC=△BAD (c.c.c). Suy ra BAC=ABD, do đó △OAB cân tại O, suy ra OA=OB. Từ OA+OC=AC, OB+OD=BD, mà OA=OB và AC=BD nên OC=OD. Chứng minh S cách đều A, B và C, D: Vì AB∥CD nên SAB=SDC, SBA=SCD (các cặp góc đồng vị). Mà ADC=BCD tức SDC=SCD, suy ra SAB=SDC=SBA=SCD. Do đó △SAB cân tại S (vì SAB=SBA) nên SA=SB; và △SDC cân tại S (vì SDC=SCD) nên SD=SC.
VậyS và O đều cách đều A, B nên cùng nằm trên đường trung trực của AB; S và O đều cách đều C, D nên cùng nằm trên đường trung trực của CD. Vì hình thang cân có trục đối xứng chung cho hai đáy, hai đường trung trực đó là MỘT đường thẳng duy nhất đi qua S, O — đó chính là đường thẳng SO, và nó đi qua trung điểm của AB, đi qua trung điểm của CD.
2Cách 2. Toạ độ hoá theo trục đối xứng, tính trực tiếp S, O
Định hướng. Đặt hệ trục với trục tung là trục đối xứng của hình thang cân (do AD=BC nên hình thang cân luôn có trục đối xứng đi qua trung điểm hai đáy); tính toạ độ S, O trực tiếp bằng giao điểm hai đường thẳng rồi kiểm tra cả hai đều có hoành độ 0.
Chọn hệ trục với trục đối xứng của hình thang cân là trục Oy: A(−a;h), B(a;h), D(−b;0), C(b;0) với 0<a<b. Đường thẳng AD đi qua A(−a;h), D(−b;0); giải giao điểm với trục Oy (x=0) được S(0;b−abh). Đường thẳng BC đi qua B(a;h), C(b;0) (ảnh đối xứng của AD qua Oy) nên cũng cắt Oy tại đúng điểm S(0;b−abh) vừa tìm — khớp với S là giao điểm chung. Đường chéo AC đi qua A(−a;h), C(b;0); giải giao điểm với trục Oy được O(0;a+bbh). Đường chéo BD đi qua B(a;h), D(−b;0) (ảnh đối xứng của AC) cũng cắt Oy tại đúng O(0;a+bbh). Trung điểm AB là (0;h), trung điểm CD là (0;0) — cả hai đều có hoành độ 0.
VậyS, O và hai trung điểm của AB, CD đều có hoành độ x=0, tức cùng nằm trên trục Oy; do đó đường thẳng SO (chính là trục Oy) đi qua trung điểm của AB và trung điểm của CD.
Nhận xét. Cách 2 tính trực tiếp bằng toạ độ nên thấy ngay bốn điểm S, O, trung điểm AB, trung điểm CD đều nằm trên MỘT trục thẳng đứng cố định — trực quan hơn Cách 1 nhưng đòi hỏi kĩ năng giải hệ phương trình đường thẳng.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ dùng tam giác bằng nhau và tam giác cân đã học, đúng phạm vi kiến thức lớp 8, không cần toạ độ hoá.
Đáp số.Đường thẳng SO chính là trục đối xứng của hình thang cân ABCD, đi qua trung điểm của AB và trung điểm của CD.
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn chỉ chứng minh O cách đều A, B (hoặc chỉ S cách đều A, B) rồi kết luận ngay SO đi qua trung điểm AB — thiếu bước chỉ ra đường trung trực của AB và đường trung trực của CD là CÙNG MỘT đường thẳng (không phải hai đường khác nhau tình cờ đều đi qua S, O), nên lập luận chưa trọn vẹn nếu bỏ qua lí do "hình thang cân có một trục đối xứng chung".
🚀 Mở rộng.Cùng lập luận cách đều này áp dụng được cho MỌI đa giác có trục đối xứng: mọi điểm đặc biệt được dựng đối xứng qua trục (giao điểm hai cạnh bên kéo dài, giao điểm hai đường chéo, tâm đường tròn ngoại tiếp nếu có) đều nằm trên cùng trục đối xứng đó.
Bài 5 · 3.11★★★★Trang 34— Tính chu vi hình thang cân dựa vào đường chéo vuông góc cạnh bên và tia phân giác
Cho hình thang cân ABCD với hai đáy AB và CD, đường chéo AC vuông góc với cạnh bên AD, tia CA là tia phân giác của góc C. Tính chu vi của hình thang đó biết rằng AD=2 cm.
Kiến thức cần nhớ
Hình thang cân có hai cạnh bên bằng nhau (AD=BC) và hai góc kề một đáy bằng nhau (C=D).
Tia phân giác chia một góc thành hai góc bằng nhau; hai đường thẳng song song bị cắt bởi cát tuyến cho cặp góc so le trong bằng nhau.
Tam giác có hai góc bằng nhau là tam giác cân; tam giác cân có một góc bằng 60∘ là tam giác đều.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho hai dữ kiện về đường chéo AC (vuông góc với AD, và là phân giác của C) cùng một độ dài AD=2 — dấu hiệu của dạng "đặt ẩn góc rồi tính ngược ra tỉ lệ các cạnh", vì chưa biết ngay cạnh nào bằng cạnh nào. Hướng an toàn nhất là đặt BAC=α, dùng tính chất phân giác và so le trong để suy ra C=2α, rồi dùng tam giác vuông ACD để tìm α=30∘; từ đó dựng thêm điểm phụ M trên DC để lộ ra tam giác đều, quy mọi cạnh về theo AD. Bẫy của đề: chu vi hình thang cân có BỐN cạnh (AB+BC+CD+AD), không phải chỉ tính CD rồi nhân đôi — phải xác định đủ AB, BC trước khi cộng.
1Cách 1. Đặt ẩn góc, dựng điểm phụ tạo tam giác đều
Định hướng. Đặt BAC=α để chỉ ra △ABC cân tại B và C=2α; dùng tam giác vuông ACD tìm α=30∘; rồi lấy M trên DC với DM=AD để lộ tam giác đều ADM, từ đó suy ra DC=2AD và AB=BC=AD.
Vì CA là tia phân giác của C nên BCA=ACD. Vì ABCD là hình thang cân có AB∥CD nên BAC=ACD (so le trong). Suy ra BAC=BCA, do đó △ABC cân tại B, suy ra BA=BC. Đặt BAC=α; khi đó BCA=α và ACD=BCA=α, nên C=BCA+ACD=α+α=2α. Vì ABCD là hình thang cân nên D=C=2α. Tam giác ACD vuông tại A (do AC⊥AD) nên ACD+ADC=90∘, tức α+2α=90∘, suy ra 3α=90∘, do đó α=30∘. Khi đó D=2α=60∘. Lấy điểm M thuộc cạnh huyền DC sao cho DM=AD; vì D=60∘ nên △ADM cân tại D có một góc 60∘, do đó △ADM là tam giác đều, suy ra AM=DM=AD và MAD=60∘. Ta có MAC=CAD−MAD=90∘−60∘=30∘. Mà ACM=ACD=30∘ (đã tính ở trên), nên MAC=ACM=30∘, suy ra △MAC cân tại M, do đó MA=MC. Kết hợp MA=DM=AD (từ tam giác đều ADM) và MA=MC: MC=DM=AD, nên DC=DM+MC=AD+AD=2AD. Từ BA=BC=AD (đã chứng minh) và DC=2AD, với AD=2 cm: AB=BC=AD=2 cm, DC=4 cm.
Vậy chu vi hình thang ABCD là AB+BC+CD+DA=2+2+4+2=10 (cm).
2Cách 2. Toạ độ hoá tam giác vuông ACD, tính trực tiếp bốn cạnh
Định hướng. Từ α=30∘, D=60∘ đã tìm được ở Cách 1, đặt toạ độ tam giác vuông ACD theo đúng số đo góc rồi tính toạ độ A, B, C, D bằng công thức lượng giác, từ đó đo trực tiếp bốn cạnh bằng khoảng cách hai điểm — một phép kiểm tra độc lập với Cách 1.
Đặt D(0;0), C(c;0) với c=DC cần tìm; vì ADC=60∘ và AD=2 nên A=(2cos60∘;2sin60∘)=(1;3). Vì △ACD vuông tại A: DC=cosADCAD=cos60∘2=0,52=4, nên C=(4;0). Vì ABCD là hình thang cân với trục đối xứng là đường trung trực của DC (đi qua x=2), điểm B là ảnh đối xứng của A qua đường thẳng x=2: B=(2⋅2−1;3)=(3;3). Tính AB=∣3−1∣=2. Tính BC=(4−3)2+(0−3)2=1+3=2. Kiểm tra lại AC⊥AD: AC=(3;−3), AD=(−1;−3), tích vô hướng =−3+3=0 — đúng như đề cho.
VậyAB=2 cm, BC=2 cm, CD=4 cm, AD=2 cm, chu vi ABCD=2+2+4+2=10 (cm), khớp với Cách 1.
Nhận xét. Cách 2 dùng toạ độ và lượng giác lớp 9-10 để kiểm chứng số học chứ không thay thế Cách 1 khi trình bày ở lớp 8, vì lớp 8 chưa học hệ thức lượng trong tam giác vuông theo góc; nên đi thi vẫn trình bày Cách 1.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ dùng tam giác cân, tam giác đều và tổng ba góc tam giác, đúng phạm vi kiến thức lớp 8, không cần công thức lượng giác.
Đáp số.Chu vi hình thang ABCD bằng 10 cm (AB=BC=AD=2 cm, CD=4 cm).
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn tính được D=60∘ rồi vội cho rằng cả hình thang "đều" theo nghĩa mọi cạnh bằng nhau, tính nhầm CD=AD=2 cm — thực chất chỉ có AB=BC=AD, còn CD là cạnh đáy lớn gấp đôi (CD=2AD=4 cm), phải dựng điểm phụ M mới chứng minh được tỉ lệ này, không được suy luận cảm tính.
🚀 Mở rộng.Cùng cách dựng điểm phụ, nếu thay điều kiện "AD=2 cm" bằng "AD=a" (độ dài bất kì) thì chu vi luôn bằng 5a — kết quả D=60∘ và tỉ lệ DC=2AD, AB=BC=AD không phụ thuộc độ dài cụ thể của AD.