Bài 1 · Bài 3.23★★★Trang 42— Dấu hiệu nhận biết hình thoi qua hai đường cao bằng nhau
Bài 3.23 (trang 42). Chứng minh hình bình hành có hai đường cao xuất phát từ một đỉnh bằng nhau là một hình thoi.
Kiến thức cần nhớ
Diện tích hình bình hành bằng cạnh nhân với chiều cao tương ứng cạnh đó.
Hình bình hành có hai cạnh kề bằng nhau là hình thoi (Định lí 2a).
Hình bình hành có một đường chéo là đường phân giác của một góc là hình thoi (Định lí 2c).
🧠 Phân tích tư duy
'Hai đường cao xuất phát từ một đỉnh' của hình bình hành ABCD chính là hai khoảng cách từ đỉnh đó (chẳng hạn A) tới hai đường thẳng chứa hai cạnh không đi qua nó (CD và BC) — mà đó cũng đúng là chiều cao ứng với hai cạnh kề AB và AD. Vì diện tích hình bình hành tính theo cạnh nào cũng ra cùng một giá trị, hai chiều cao bằng nhau buộc hai cạnh kề tương ứng phải bằng nhau — đúng dấu hiệu của Định lí 2a.
1Cách 1. Dùng công thức diện tích theo hai cặp cạnh – chiều cao
Định hướng. Tính diện tích hình bình hành theo hai cách (lấy cạnh AB hoặc cạnh AD làm đáy) rồi so sánh khi hai chiều cao bằng nhau.
Kẻ AH⊥CD tại H (H thuộc đường thẳng CD) và AK⊥BC tại K (K thuộc đường thẳng BC); theo giả thiết AH=AK Vì AB\parallelCD nên khoảng cách từ A đến đường thẳng CD bằng khoảng cách giữa hai đường thẳng AB, CD, tức AH là chiều cao của hình bình hành ứng với cạnh đáy AB Vì AD\parallelBC nên tương tự, AK là chiều cao ứng với cạnh đáy AD Diện tích hình bình hành ABCD tính theo hai cách: SABCD=AB⋅AH=AD⋅AK Vì AH=AK (giả thiết) nên từ AB⋅AH=AD⋅AK suy ra AB=AD
Vậy hình bình hành ABCD có hai cạnh kề AB=AD bằng nhau nên là hình thoi (Định lí 2a).
2Cách 2. Dùng hai tam giác vuông bằng nhau (cạnh huyền – cạnh góc vuông)
Định hướng. Ghép AH, AK làm hai cạnh góc vuông của hai tam giác vuông chung cạnh huyền AC, từ đó suy ra AC là phân giác của góc C — khác bản chất vì đi từ góc bằng nhau thay vì cạnh bằng nhau.
Kẻ đường chéo AC. Vì AH⊥CD tại H và AK⊥BC tại K nên ΔACH vuông tại H, ΔACK vuông tại K Hai tam giác vuông ACH và ACK có cạnh huyền AC chung, AH=AK (giả thiết) nên ΔACH=ΔACK (cạnh huyền – cạnh góc vuông) Suy ra ACH=ACK, tức ACD=ACB, hay CA là tia phân giác của BCD
Vậy hình bình hành ABCD có đường chéo CA là phân giác của BCD nên là hình thoi (Định lí 2c).
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ ba dòng tính diện tích theo hai cách, không cần kẻ thêm đường chéo và chứng minh tam giác bằng nhau như Cách 2.
Đáp số.Hình bình hành có hai đường cao xuất phát từ một đỉnh bằng nhau là một hình thoi (đã chứng minh).
Sai lầm thường gặp.Có bạn kẻ nhầm cả hai đường cao cùng vuông góc với MỘT cạnh (ví dụ cùng vuông góc CD) rồi so sánh — cần phân biệt rõ đây là hai chiều cao ứng với HAI CẠNH KỀ khác nhau (AB và AD), không phải hai đường cao của cùng một cặp cạnh đối.
🚀 Mở rộng.Đảo lại: trong một hình thoi, hai đường cao xuất phát từ một đỉnh bất kì luôn bằng nhau (vì lúc đó AB=AD nên S=AB⋅AH=AD⋅AK buộc AH=AK) — đây là một tính chất đặc trưng hai chiều của hình thoi, có thể dùng làm dấu hiệu nhận biết bổ sung ngoài Định lí 2.
Bài 2 · Bài 3.24★★★★Trang 42— Bốn tâm đường tròn nội tiếp của các tam giác tạo bởi hai đường chéo hình bình hành
Bài 3.24 (trang 42). Gọi O là giao điểm hai đường chéo của hình bình hành ABCD. Với mỗi tam giác OAB, OBC, OCD, ODA, xét giao điểm ba đường phân giác của tam giác đó. Tại sao bốn điểm vừa vẽ là bốn đỉnh của một hình thoi?
Kiến thức cần nhớ
Phép đối xứng tâm biến một tam giác thành tam giác bằng nó, và biến tâm đường tròn nội tiếp thành tâm đường tròn nội tiếp của tam giác ảnh.
Hai góc kề bù thì hai tia phân giác của chúng vuông góc với nhau.
Hình bình hành có hai đường chéo vuông góc là hình thoi (Định lí 2b).
🧠 Phân tích tư duy
Bốn tam giác OAB,OBC,OCD,ODA không rời rạc: vì O là trung điểm của cả hai đường chéo, phép đối xứng tâm O biến A↔C, B↔D, nên biến hẳn tam giác OAB thành tam giác OCD, và tam giác OAD thành tam giác OCB — mà phép đối xứng tâm luôn biến giao điểm ba đường phân giác (tâm nội tiếp) của một tam giác thành tâm nội tiếp của tam giác ảnh. Đây là chìa khoá để có ngay O là trung điểm của cả hai 'đường chéo' nối các tâm nội tiếp, mà không cần chứng minh tam giác bằng nhau từng đôi một.
1Cách 1. Dùng phép đối xứng tâm O
Định hướng. Vì O là trung điểm của cả hai đường chéo AC, BD, phép đối xứng tâm O biến A↔C, B↔D, nên biến từng cặp tam giác thành nhau — từ đó biến tâm nội tiếp của tam giác này thành tâm nội tiếp của tam giác kia.
Gọi P,Q,R,S lần lượt là giao điểm ba đường phân giác (tâm đường tròn nội tiếp) của ΔOAB,ΔOCD,ΔOAD,ΔOBC ABCD là hình bình hành nên O là trung điểm của AC và của BD (tính chất hai đường chéo) Phép đối xứng tâm O biến A thành C, biến B thành D (vì O là trung điểm AC, BD), nên biến ΔOAB thành ΔOCD; phép đối xứng tâm biến tam giác thành tam giác bằng nó và biến tâm nội tiếp thành tâm nội tiếp của tam giác ảnh, nên biến P thành Q P biến thành Q qua phép đối xứng tâm O nghĩa là O là trung điểm của đoạn PQ Tương tự, phép đối xứng tâm O biến ΔOAD thành ΔOCB (vì A→C, D→B), nên biến R thành S, tức O là trung điểm của đoạn RS P nằm trên tia phân giác của AOB (vì tâm nội tiếp luôn nằm trên phân giác mỗi góc của tam giác chứa nó), R nằm trên tia phân giác của AOD; mà AOB và AOD là hai góc kề bù (AOB+AOD=180∘, vì B,O,D thẳng hàng) nên hai tia phân giác OP và OR vuông góc với nhau, tức đường thẳng PQ⊥ đường thẳng RS
Vậy tứ giác PSQR có hai đường chéo PQ, RS cắt nhau tại trung điểm O của mỗi đường và vuông góc với nhau, nên theo Định lí 2b, đó là một hình thoi.
2Cách 2. Dùng hai tam giác bằng nhau ΔOBP=ΔODQ
Định hướng. Không dùng phép đối xứng tâm mà chứng minh trực tiếp cặp tam giác chứa P, Q bằng nhau nhờ các góc so le trong sinh bởi hai cặp cạnh song song — khác bản chất vì dựng lại từng bước bằng tam giác thay vì áp một phép biến hình.
ABCD là hình bình hành nên AB\parallelCD, suy ra OBA=ODC (so le trong) và OAB=OCD (so le trong) BP, DQ lần lượt là tia phân giác của OBA, ODC (vì P, Q là tâm nội tiếp) nên OBP=ODQ O là trung điểm BD (tính chất hình bình hành) nên OB=OD Xét ΔOBP và ΔODQ: OBP=ODQ, OB=OD, BOP=DOQ (đối đỉnh, vì OP, OQ cùng nằm trên phân giác của cặp góc đối đỉnh AOB, COD) nên ΔOBP=ΔODQ (g.c.g), suy ra OP=OQ Chứng minh hoàn toàn tương tự cho ΔOAR và ΔOCS (dùng AD\parallelBC) ta được OR=OS Như Cách 1, hai đường phân giác của cặp góc kề bù AOB, AOD vuông góc nhau nên PQ⊥RS
Vậy tứ giác PSQR có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm O mỗi đường và vuông góc nhau nên là hình thoi (Định lí 2b).
Nhận xét. Cách 1 (đối xứng tâm) ngắn gọn hơn hẳn vì suy được OP=OQ và OR=OS CÙNG LÚC chỉ từ một phép biến hình duy nhất, trong khi Cách 2 phải chứng minh hai cặp tam giác bằng nhau riêng biệt.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: một phép đối xứng tâm giải quyết cả hai cặp điểm P,Q và R,S cùng lúc, ngắn hơn nhiều so với chứng minh hai cặp tam giác bằng nhau riêng lẻ của Cách 2.
Đáp số.Bốn điểm P,Q,R,S (tâm nội tiếp của ΔOAB,ΔOCD,ΔOAD,ΔOBC) là bốn đỉnh của một hình thoi, vì hai đoạn PQ, RS cắt nhau tại trung điểm O của mỗi đoạn và vuông góc với nhau.
Sai lầm thường gặp.Nhầm rằng chỉ cần OP=OQ và OR=OS là đủ kết luận hình thoi — thực chất mới chỉ có hình bình hành (hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường); phải chứng minh thêm bước PQ⊥RS (từ hai góc kề bù) mới đủ điều kiện của Định lí 2b để nâng lên hình thoi.
🚀 Mở rộng.Nếu hình bình hành ABCD ban đầu đã là hình chữ nhật, bốn góc AOB=BOC=COD=DOA không còn bằng nhau đôi một theo cùng một quy luật đối xứng trục như hình thoi, nhưng lập luận đối xứng tâm ở Cách 1 vẫn đúng nguyên vẹn vì chỉ dùng tính chất hình bình hành, không cần hình chữ nhật hay hình thoi.
Bài 3 · Bài 3.25★★★★Trang 42— Góc tạo bởi hai đường phân giác nửa trong một góc vuông của hình vuông
Bài 3.25 (trang 42). Cho hình vuông ABCD. Với điểm M nằm giữa C và D, kẻ tia phân giác của góc DAM; nó cắt CD ở N. Đường thẳng qua N vuông góc với AM cắt BC ở P. Tính số đo của góc NAP.
Kiến thức cần nhớ
Điểm trên tia phân giác của một góc thì cách đều hai cạnh của góc.
Hai tam giác vuông có cạnh huyền và một cạnh góc vuông bằng nhau thì bằng nhau (cạnh huyền – cạnh góc vuông).
🧠 Phân tích tư duy
Vì M nằm giữa C, D nên tia AM luôn nằm giữa hai tia AD, AB, tức DAM+MAB=DAB=90∘ không đổi dù M ở đâu. AN đã chia đôi DAM; nếu chỉ ra được AP cũng chia đôi MAB thì NAP=2DAM+2MAB=290∘=45∘ ngay lập tức — vậy mấu chốt chỉ còn là chứng minh AP là phân giác của MAB, dựa vào việc N đối xứng với D qua đường phân giác AN.
1Cách 1. Dùng đối xứng qua phân giác AN rồi hai tam giác vuông bằng nhau
Định hướng.N nằm trên phân giác của DAM nên cách đều hai cạnh AD, AM của góc đó; gọi Q là chân đường vuông góc hạ từ N xuống AM (chính là giao điểm của NP với AM), ta có ngay AQ=AD.
Gọi Q là giao điểm của đường thẳng NP với AM (theo giả thiết NP⊥AM tại Q) AN là phân giác của DAM nên N cách đều hai cạnh AD và AM của góc này; khoảng cách từ N đến AD chính là ND (vì ADN=90∘, góc vuông của hình vuông), khoảng cách từ N đến AM chính là NQ (vì NQ⊥AM), nên ND=NQ Xét ΔADN vuông tại D và ΔAQN vuông tại Q: cạnh huyền AN chung, ND=NQ nên ΔADN=ΔAQN (cạnh huyền – cạnh góc vuông), suy ra AQ=AD Vì ABCD là hình vuông nên AD=AB, kết hợp với AQ=AD ở trên suy ra AQ=AB Xét ΔABP vuông tại B và ΔAQP vuông tại Q (vì NP⊥AM tại Q nên AQP=90∘): cạnh huyền AP chung, AB=AQ nên ΔABP=ΔAQP (cạnh huyền – cạnh góc vuông), suy ra BAP=QAP, tức AP là phân giác của MAB (vì Q nằm trên AM) NAP=NAM+MAP=2DAM+2MAB=2DAM+MAB=2DAB=290∘=45∘
VậyNAP=45∘, không phụ thuộc vào vị trí cụ thể của M trên CD.
2Cách 2. Dùng toạ độ, đặt hình vuông vào hệ trục
Định hướng. Gán toạ độ bốn đỉnh hình vuông và tham số hoá vị trí M, rồi tính trực tiếp góc NAP bằng vectơ — khác bản chất vì thay lập luận tổng hợp bằng tính toán đại số, đồng thời kiểm chứng kết quả không đổi với mọi M.
Đặt A(0;0), B(1;0), C(1;1), D(0;1) (hình vuông cạnh 1), M(m;1) với 0<m<1 trên cạnh CD AN là phân giác của DAM: hướng của AN tỉ lệ với tổng hai vectơ đơn vị ADAD+AMAM; giải giao điểm của tia này với đường thẳng CD (y=1) được toạ độ điểm N Đường thẳng qua N vuông góc với AM cắt BC (x=1) tại điểm P Tính cosNAP=AN⋅APAN⋅AP theo m bằng máy tính đại số (rút gọn biểu thức chứa căn)
Vậy với mọi m∈(0;1), biểu thức rút gọn luôn cho cosNAP=22, tức NAP=45∘.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: không cần đại số hoá, chỉ dùng hai lần 'cạnh huyền – cạnh góc vuông' rồi cộng nửa góc, đây là kĩ thuật chuẩn cho dạng toán góc tạo bởi hai phân giác nửa trong một góc vuông.
Đáp số.NAP=45∘ với mọi vị trí của M trên đoạn CD.
Sai lầm thường gặp.Nhầm tưởng phải biết chính xác vị trí của M mới tính được NAP — thực chất kết quả 45∘ không phụ thuộc M, vì bản chất là chia đôi đúng nửa góc vuông DAB cố định, không liên quan tới độ dài DM hay MC cụ thể.
🚀 Mở rộng.Đây là trường hợp riêng của một tính chất tổng quát: khi tia AM nằm giữa hai cạnh của một góc α bất kì (không nhất thiết 90∘), nếu AN chia đôi phần góc thứ nhất và AP chia đôi phần góc còn lại theo đúng cơ chế phản chiếu như trên, thì NAP=2α luôn đúng, không riêng gì góc vuông của hình vuông.
Bài 4 · Bài 3.26★★★Trang 42— Diện tích phần hình vuông chắn bởi một góc vuông quay quanh tâm
Bài 3.26 (trang 42). Cho hình vuông ABCD với tâm O và có cạnh bằng 2 cm. Hai tia Ox, Oy tạo thành góc vuông (Ox đi qua cạnh AB, Oy đi qua cạnh BC). Tính diện tích của phần hình vuông nằm bên trong góc xOy.
Kiến thức cần nhớ
Trong hình vuông, hai đường chéo bằng nhau, vuông góc, cắt nhau tại trung điểm mỗi đường và là các đường phân giác của các góc (Định lí 3).
Hình vuông có hai đường chéo là các đường phân giác của các góc của hình vuông.
🧠 Phân tích tư duy
Góc xOy=90∘ đúng bằng góc AOB (góc giữa hai nửa đường chéo liên tiếp của hình vuông, cũng bằng 90∘ theo Định lí 3). Khi góc vuông xOy xoay quanh O từ vị trí trùng AOB sang vị trí cắt AB tại M, cắt BC tại N, phần diện tích mất đi ở tam giác OAM luôn được bù lại đúng bằng phần diện tích thêm vào ở tam giác OBN, nhờ hai tam giác này luôn bằng nhau.
1Cách 1. Dùng hai tam giác bằng nhau OAM, OBN để 'bù trừ' diện tích
Định hướng. Chứng minh ΔOAM=ΔOBN rồi thay thế phần diện tích tam giác này bằng tam giác kia, đưa phần chắn bởi góc xOy về đúng một góc phần tư cố định OAB.
Vì tia Ox xuất phát từ tâm O và cắt cạnh hình vuông, không mất tính tổng quát giả sử Ox cắt AB tại M (nằm giữa A, B), khi đó do xOy=90∘ nên Oy cắt cạnh kề BC tại N (nằm giữa B, C) O là tâm hình vuông nên OA=OB và OAB=OBC=45∘ (đường chéo là phân giác góc vuông của hình vuông, Định lí 3) AOM+MOB=AOB=90∘ và MOB+BON=MON=90∘ (giả thiết góc xOy vuông), suy ra AOM=BON Xét ΔOAM và ΔOBN: OA=OB, OAM=OBN=45∘, AOM=BON nên ΔOAM=ΔOBN (g.c.g), suy ra diện tích hai tam giác này bằng nhau Diện tích phần hình vuông trong góc xOy = diện tích tứ giác OMBN = diện tích ΔOAB− diện tích ΔOAM+ diện tích ΔOBN = diện tích ΔOAB (vì hai tam giác vừa chứng minh bằng nhau đã triệt tiêu nhau) Diện tích hình vuông ABCD=2×2=4(cm2); bốn tam giác OAB,OBC,OCD,ODA bằng nhau (do đối xứng qua tâm) và chia đều hình vuông nên diện tích ΔOAB=44=1(cm2)
Vậy diện tích phần hình vuông nằm trong góc xOy luôn bằng diện tích ΔOAB=1cm2, không phụ thuộc vị trí cụ thể của Ox, Oy.
2Cách 2. Dùng toạ độ và tích phân diện tích tam giác trực tiếp
Định hướng. Đặt hình vuông vào hệ trục, tham số hoá vị trí điểm cắt M trên AB rồi tính trực tiếp diện tích tứ giác OMBN bằng công thức toạ độ (Shoelace) — khác bản chất vì thay chứng minh tam giác bằng nhau bằng tính toán đại số trực tiếp.
Đặt A(0;2), B(2;2), C(2;0), D(0;0), tâm O(1;1) Gọi M(m;2) trên AB với 0≤m≤2 (Ox đi qua M); vì MON=90∘ nên N là ảnh của M qua phép quay 90∘ quanh O, tính được toạ độ N theo m Kiểm tra N luôn thuộc cạnh BC (x=2, 0≤y≤2) với mọi m∈[0;2] Tính diện tích tứ giác OMBN bằng công thức toạ độ (Shoelace) theo m; rút gọn biểu thức
Vậy kết quả rút gọn luôn cho diện tích tứ giác OMBN=1cm2 với mọi m∈[0;2], khớp với Cách 1.
Nhận xét. Kết quả không đổi 1 cm² (đúng 41 diện tích hình vuông) dù góc vuông xOy quay ở vị trí nào quanh tâm O — đây là một tính chất đẹp đặc trưng của hình vuông, không đúng với hình chữ nhật thường (không có tâm đối xứng theo góc 90∘ như vậy).
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chứng minh ΔOAM=ΔOBN rồi quy phần diện tích về đúng ΔOAB cố định — không cần tính toạ độ và Shoelace phức tạp như Cách 2.
Đáp số.Diện tích phần hình vuông nằm trong góc xOy luôn bằng 1 cm².
Sai lầm thường gặp.Nhầm tưởng diện tích phần chắn phụ thuộc vào vị trí cụ thể của M trên AB (tức phụ thuộc góc quay của Ox), nên cố định một vị trí đặc biệt (M≡A) rồi tính diện tích một phần tư hình vuông mà không chứng minh được kết quả này ĐÚNG VỚI MỌI vị trí của Ox, Oy.
🚀 Mở rộng.Nếu thay 'góc vuông' xOy bằng một góc α bất kì quay quanh tâm O, phần diện tích chắn bởi góc đó không còn cố định nữa (chỉ cố định khi α=90∘, đúng bằng góc giữa hai nửa đường chéo liên tiếp của hình vuông) — đây là điều kiện mấu chốt để phép 'bù trừ diện tích' ở Cách 1 xảy ra.
Bài 5 · Bài 3.27★★★Trang 42— Dựng hình vuông từ tam giác vuông cân bằng cách chia ba cạnh huyền
Bài 3.27 (trang 42). Xét tam giác ABC vuông cân tại A. Lấy trên cạnh BC hai điểm D, E sao cho BD=DE=EC. Lấy các điểm F, G lần lượt thuộc cạnh AC, AB sao cho FE, GD vuông góc với BC. Chứng minh tứ giác DEFG là một hình vuông.
Kiến thức cần nhớ
Tam giác vuông có một góc 45° là tam giác vuông cân.
Hình bình hành có một góc vuông là hình chữ nhật.
Hình chữ nhật có hai cạnh kề bằng nhau là hình vuông (Định lí 4a).
🧠 Phân tích tư duy
Tam giác vuông cân tại A cho ngay B=C=45∘; khi dựng thêm GD, FE vuông góc với cạnh huyền BC, hai tam giác nhỏ GBD và FEC đều là tam giác vuông có một góc 45∘ nên lại vuông cân — điều này buộc GD=BD và FE=EC, mà BD=DE=EC theo giả thiết, nên cả ba đoạn GD,DE,FE đều bằng nhau. Kết hợp GD\parallelFE (cùng vuông góc BC) là đủ nguyên liệu để lên hình chữ nhật rồi hình vuông.
1Cách 1. Dùng hai tam giác vuông cân GBD, FEC rồi Định lí 4a
Định hướng. Chỉ ra GD=BD, FE=EC từ hai tam giác vuông cân, ghép với BD=DE=EC đã cho để có ba cạnh liên tiếp của DEFG bằng nhau.
Tam giác ABC vuông cân tại A nên B=C=45∘ ΔGBD vuông tại D (vì GD⊥BC) có B=45∘ nên ΔGBD vuông cân tại D, suy ra GD=BD Tương tự, ΔFEC vuông tại E (vì FE⊥BC) có C=45∘ nên ΔFEC vuông cân tại E, suy ra FE=EC Theo giả thiết BD=DE=EC, kết hợp hai kết quả trên: GD=DE=EF GD⊥BC và FE⊥BC (giả thiết) nên GD\parallelFE; lại có GD=FE (vừa chứng minh) nên tứ giác GDEF có một cặp cạnh đối song song và bằng nhau, do đó GDEF là hình bình hành Hình bình hành GDEF có GDE=90∘ (vì GD⊥DE, do DE nằm trên BC và GD⊥BC) nên GDEF là hình chữ nhật Hình chữ nhật GDEF có hai cạnh kề GD=DE bằng nhau (đã chứng minh GD=DE=EF) nên theo Định lí 4a, GDEF là hình vuông
Vậy tứ giác DEFG (tức GDEF) là một hình vuông có cạnh bằng dfrac13BC.
2Cách 2. Dùng toạ độ, đặt B, C trên trục hoành
Định hướng. Gán toạ độ cụ thể cho A,B,C,D,E,F,G theo tam giác vuông cân rồi tính trực tiếp bốn cạnh và các góc của DEFG bằng công thức khoảng cách và tích vô hướng — khác bản chất vì thay lập luận tổng hợp bằng kiểm chứng đại số.
Đặt B(0;0), C(3;0) (chia BC thành ba đoạn bằng nhau cho dễ tính), khi đó D(1;0), E(2;0) Vì ABC vuông cân tại A và BC là cạnh huyền nên A nằm trên đường trung trực của BC, cách BC một khoảng bằng 2BC, tức A(23;23) G là giao điểm của đường thẳng AB với đường thẳng đứng x=1 (vì GD⊥BC tại D(1;0)); tính được G(1;1) F là giao điểm của đường thẳng AC với đường thẳng đứng x=2 (vì FE⊥BC tại E(2;0)); tính được F(2;1) Tính bốn cạnh: DE=1, EF=∣F−E∣=1, FG=∣G−F∣=1, GD=∣D−G∣=1 (bằng công thức khoảng cách) và DE⋅EF=0 (bằng công thức tích vô hướng)
Vậy bốn cạnh DE=EF=FG=GD=1 bằng nhau và có một góc vuông tại E nên DEFG là hình vuông (khớp Cách 1, với BC=3 thì cạnh hình vuông bằng 1=dfracBC3).
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần nhận ra hai tam giác vuông cân GBD, FEC từ góc 45∘ có sẵn, không cần dựng hệ trục toạ độ và tính lại từng cạnh như Cách 2.
Đáp số.DEFG là hình vuông, có cạnh bằng 31BC.
Sai lầm thường gặp.Có bạn chỉ chứng minh GD=FE rồi kết luận ngay là hình vuông — thiếu bước chứng minh có một góc vuông (để lên hình chữ nhật) VÀ bước có hai cạnh kề bằng nhau (để lên hình vuông); riêng GD=FE và GD\parallelFE mới chỉ đủ kết luận hình bình hành hoặc hình chữ nhật.
🚀 Mở rộng.Nếu chia cạnh huyền BC thành n đoạn bằng nhau (n≥3) và dựng các đoạn vuông góc tương ứng từ hai điểm chia sát hai đầu, lập luận tam giác vuông cân ở hai đầu vẫn hoạt động y hệt, cho một hình vuông cạnh nBC với hai điểm chia đầu tiên và cuối cùng kề hai đầu B, C.