Chương III. Tứ giác

Bài 14. Hình thoi và hình vuông

Sách bài tập Toán 8 — Kết nối tri thức, tập 1 · 5 bài tập, mỗi câu ít nhất 2 cách giải.

Bài 1 · Bài 3.23★★★Trang 42— Dấu hiệu nhận biết hình thoi qua hai đường cao bằng nhau
Bài 3.23 (trang 42). Chứng minh hình bình hành có hai đường cao xuất phát từ một đỉnh bằng nhau là một hình thoi.
Kiến thức cần nhớ
  • Diện tích hình bình hành bằng cạnh nhân với chiều cao tương ứng cạnh đó.
  • Hình bình hành có hai cạnh kề bằng nhau là hình thoi (Định lí 2a).
  • Hình bình hành có một đường chéo là đường phân giác của một góc là hình thoi (Định lí 2c).
🧠 Phân tích tư duy
'Hai đường cao xuất phát từ một đỉnh' của hình bình hành chính là hai khoảng cách từ đỉnh đó (chẳng hạn ) tới hai đường thẳng chứa hai cạnh không đi qua nó ( và ) — mà đó cũng đúng là chiều cao ứng với hai cạnh kề và . Vì diện tích hình bình hành tính theo cạnh nào cũng ra cùng một giá trị, hai chiều cao bằng nhau buộc hai cạnh kề tương ứng phải bằng nhau — đúng dấu hiệu của Định lí 2a.
1Cách 1. Dùng công thức diện tích theo hai cặp cạnh – chiều cao

Định hướng. Tính diện tích hình bình hành theo hai cách (lấy cạnh hoặc cạnh làm đáy) rồi so sánh khi hai chiều cao bằng nhau.

Kẻ tại ( thuộc đường thẳng ) và tại ( thuộc đường thẳng ); theo giả thiết
Vì nên khoảng cách từ đến đường thẳng bằng khoảng cách giữa hai đường thẳng , , tức là chiều cao của hình bình hành ứng với cạnh đáy
Vì nên tương tự, là chiều cao ứng với cạnh đáy
Diện tích hình bình hành tính theo hai cách:
Vì (giả thiết) nên từ suy ra

Vậy hình bình hành có hai cạnh kề bằng nhau nên là hình thoi (Định lí 2a).

2Cách 2. Dùng hai tam giác vuông bằng nhau (cạnh huyền – cạnh góc vuông)

Định hướng. Ghép , làm hai cạnh góc vuông của hai tam giác vuông chung cạnh huyền , từ đó suy ra là phân giác của góc — khác bản chất vì đi từ góc bằng nhau thay vì cạnh bằng nhau.

Kẻ đường chéo . Vì tại và tại nên vuông tại , vuông tại
Hai tam giác vuông và có cạnh huyền chung, (giả thiết) nên (cạnh huyền – cạnh góc vuông)
Suy ra , tức , hay là tia phân giác của

Vậy hình bình hành có đường chéo là phân giác của nên là hình thoi (Định lí 2c).

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: chỉ ba dòng tính diện tích theo hai cách, không cần kẻ thêm đường chéo và chứng minh tam giác bằng nhau như Cách 2.
Đáp số. Hình bình hành có hai đường cao xuất phát từ một đỉnh bằng nhau là một hình thoi (đã chứng minh).
Sai lầm thường gặp. Có bạn kẻ nhầm cả hai đường cao cùng vuông góc với MỘT cạnh (ví dụ cùng vuông góc ) rồi so sánh — cần phân biệt rõ đây là hai chiều cao ứng với HAI CẠNH KỀ khác nhau ( và ), không phải hai đường cao của cùng một cặp cạnh đối.
🚀 Mở rộng. Đảo lại: trong một hình thoi, hai đường cao xuất phát từ một đỉnh bất kì luôn bằng nhau (vì lúc đó nên buộc ) — đây là một tính chất đặc trưng hai chiều của hình thoi, có thể dùng làm dấu hiệu nhận biết bổ sung ngoài Định lí 2.
Bài 2 · Bài 3.24★★★★Trang 42— Bốn tâm đường tròn nội tiếp của các tam giác tạo bởi hai đường chéo hình bình hành
Bài 3.24 (trang 42). Gọi là giao điểm hai đường chéo của hình bình hành . Với mỗi tam giác , , , , xét giao điểm ba đường phân giác của tam giác đó. Tại sao bốn điểm vừa vẽ là bốn đỉnh của một hình thoi?
Kiến thức cần nhớ
  • Phép đối xứng tâm biến một tam giác thành tam giác bằng nó, và biến tâm đường tròn nội tiếp thành tâm đường tròn nội tiếp của tam giác ảnh.
  • Hai góc kề bù thì hai tia phân giác của chúng vuông góc với nhau.
  • Hình bình hành có hai đường chéo vuông góc là hình thoi (Định lí 2b).
🧠 Phân tích tư duy
Bốn tam giác không rời rạc: vì là trung điểm của cả hai đường chéo, phép đối xứng tâm biến , , nên biến hẳn tam giác thành tam giác , và tam giác thành tam giác — mà phép đối xứng tâm luôn biến giao điểm ba đường phân giác (tâm nội tiếp) của một tam giác thành tâm nội tiếp của tam giác ảnh. Đây là chìa khoá để có ngay là trung điểm của cả hai 'đường chéo' nối các tâm nội tiếp, mà không cần chứng minh tam giác bằng nhau từng đôi một.
1Cách 1. Dùng phép đối xứng tâm

Định hướng. Vì là trung điểm của cả hai đường chéo , , phép đối xứng tâm biến , , nên biến từng cặp tam giác thành nhau — từ đó biến tâm nội tiếp của tam giác này thành tâm nội tiếp của tam giác kia.

Gọi lần lượt là giao điểm ba đường phân giác (tâm đường tròn nội tiếp) của
là hình bình hành nên là trung điểm của và của (tính chất hai đường chéo)
Phép đối xứng tâm biến thành , biến thành (vì là trung điểm , ), nên biến thành ; phép đối xứng tâm biến tam giác thành tam giác bằng nó và biến tâm nội tiếp thành tâm nội tiếp của tam giác ảnh, nên biến thành
biến thành qua phép đối xứng tâm nghĩa là là trung điểm của đoạn
Tương tự, phép đối xứng tâm biến thành (vì , ), nên biến thành , tức là trung điểm của đoạn
nằm trên tia phân giác của (vì tâm nội tiếp luôn nằm trên phân giác mỗi góc của tam giác chứa nó), nằm trên tia phân giác của ; mà và là hai góc kề bù (, vì thẳng hàng) nên hai tia phân giác và vuông góc với nhau, tức đường thẳng đường thẳng

Vậy tứ giác có hai đường chéo , cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường và vuông góc với nhau, nên theo Định lí 2b, đó là một hình thoi.

2Cách 2. Dùng hai tam giác bằng nhau

Định hướng. Không dùng phép đối xứng tâm mà chứng minh trực tiếp cặp tam giác chứa , bằng nhau nhờ các góc so le trong sinh bởi hai cặp cạnh song song — khác bản chất vì dựng lại từng bước bằng tam giác thay vì áp một phép biến hình.

là hình bình hành nên , suy ra (so le trong) và (so le trong)
, lần lượt là tia phân giác của , (vì , là tâm nội tiếp) nên
là trung điểm (tính chất hình bình hành) nên
Xét và : , , (đối đỉnh, vì , cùng nằm trên phân giác của cặp góc đối đỉnh , ) nên (g.c.g), suy ra
Chứng minh hoàn toàn tương tự cho và (dùng ) ta được
Như Cách 1, hai đường phân giác của cặp góc kề bù , vuông góc nhau nên

Vậy tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường và vuông góc nhau nên là hình thoi (Định lí 2b).

Nhận xét. Cách 1 (đối xứng tâm) ngắn gọn hơn hẳn vì suy được và CÙNG LÚC chỉ từ một phép biến hình duy nhất, trong khi Cách 2 phải chứng minh hai cặp tam giác bằng nhau riêng biệt.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: một phép đối xứng tâm giải quyết cả hai cặp điểm và cùng lúc, ngắn hơn nhiều so với chứng minh hai cặp tam giác bằng nhau riêng lẻ của Cách 2.
Đáp số. Bốn điểm (tâm nội tiếp của ) là bốn đỉnh của một hình thoi, vì hai đoạn , cắt nhau tại trung điểm của mỗi đoạn và vuông góc với nhau.
Sai lầm thường gặp. Nhầm rằng chỉ cần và là đủ kết luận hình thoi — thực chất mới chỉ có hình bình hành (hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường); phải chứng minh thêm bước (từ hai góc kề bù) mới đủ điều kiện của Định lí 2b để nâng lên hình thoi.
🚀 Mở rộng. Nếu hình bình hành ban đầu đã là hình chữ nhật, bốn góc không còn bằng nhau đôi một theo cùng một quy luật đối xứng trục như hình thoi, nhưng lập luận đối xứng tâm ở Cách 1 vẫn đúng nguyên vẹn vì chỉ dùng tính chất hình bình hành, không cần hình chữ nhật hay hình thoi.
Bài 3 · Bài 3.25★★★★Trang 42— Góc tạo bởi hai đường phân giác nửa trong một góc vuông của hình vuông
Bài 3.25 (trang 42). Cho hình vuông . Với điểm nằm giữa và , kẻ tia phân giác của góc ; nó cắt ở . Đường thẳng qua vuông góc với cắt ở . Tính số đo của góc .
Kiến thức cần nhớ
  • Điểm trên tia phân giác của một góc thì cách đều hai cạnh của góc.
  • Hai tam giác vuông có cạnh huyền và một cạnh góc vuông bằng nhau thì bằng nhau (cạnh huyền – cạnh góc vuông).
🧠 Phân tích tư duy
Vì nằm giữa , nên tia luôn nằm giữa hai tia , , tức không đổi dù ở đâu. đã chia đôi ; nếu chỉ ra được cũng chia đôi thì ngay lập tức — vậy mấu chốt chỉ còn là chứng minh là phân giác của , dựa vào việc đối xứng với qua đường phân giác .
1Cách 1. Dùng đối xứng qua phân giác rồi hai tam giác vuông bằng nhau

Định hướng. nằm trên phân giác của nên cách đều hai cạnh , của góc đó; gọi là chân đường vuông góc hạ từ xuống (chính là giao điểm của với ), ta có ngay .

Gọi là giao điểm của đường thẳng với (theo giả thiết tại )
là phân giác của nên cách đều hai cạnh và của góc này; khoảng cách từ đến chính là (vì , góc vuông của hình vuông), khoảng cách từ đến chính là (vì ), nên
Xét vuông tại và vuông tại : cạnh huyền chung, nên (cạnh huyền – cạnh góc vuông), suy ra
Vì là hình vuông nên , kết hợp với ở trên suy ra
Xét vuông tại và vuông tại (vì tại nên ): cạnh huyền chung, nên (cạnh huyền – cạnh góc vuông), suy ra , tức là phân giác của (vì nằm trên )

Vậy , không phụ thuộc vào vị trí cụ thể của trên .

2Cách 2. Dùng toạ độ, đặt hình vuông vào hệ trục

Định hướng. Gán toạ độ bốn đỉnh hình vuông và tham số hoá vị trí , rồi tính trực tiếp góc bằng vectơ — khác bản chất vì thay lập luận tổng hợp bằng tính toán đại số, đồng thời kiểm chứng kết quả không đổi với mọi .

Đặt , , , (hình vuông cạnh ), với trên cạnh
là phân giác của : hướng của tỉ lệ với tổng hai vectơ đơn vị ; giải giao điểm của tia này với đường thẳng () được toạ độ điểm
Đường thẳng qua vuông góc với cắt () tại điểm
Tính theo bằng máy tính đại số (rút gọn biểu thức chứa căn)

Vậy với mọi , biểu thức rút gọn luôn cho , tức .

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: không cần đại số hoá, chỉ dùng hai lần 'cạnh huyền – cạnh góc vuông' rồi cộng nửa góc, đây là kĩ thuật chuẩn cho dạng toán góc tạo bởi hai phân giác nửa trong một góc vuông.
Đáp số. với mọi vị trí của trên đoạn .
Sai lầm thường gặp. Nhầm tưởng phải biết chính xác vị trí của mới tính được — thực chất kết quả không phụ thuộc , vì bản chất là chia đôi đúng nửa góc vuông cố định, không liên quan tới độ dài hay cụ thể.
🚀 Mở rộng. Đây là trường hợp riêng của một tính chất tổng quát: khi tia nằm giữa hai cạnh của một góc bất kì (không nhất thiết ), nếu chia đôi phần góc thứ nhất và chia đôi phần góc còn lại theo đúng cơ chế phản chiếu như trên, thì luôn đúng, không riêng gì góc vuông của hình vuông.
Bài 4 · Bài 3.26★★★Trang 42— Diện tích phần hình vuông chắn bởi một góc vuông quay quanh tâm
Bài 3.26 (trang 42). Cho hình vuông với tâm và có cạnh bằng cm. Hai tia , tạo thành góc vuông ( đi qua cạnh , đi qua cạnh ). Tính diện tích của phần hình vuông nằm bên trong góc .
Kiến thức cần nhớ
  • Trong hình vuông, hai đường chéo bằng nhau, vuông góc, cắt nhau tại trung điểm mỗi đường và là các đường phân giác của các góc (Định lí 3).
  • Hình vuông có hai đường chéo là các đường phân giác của các góc của hình vuông.
🧠 Phân tích tư duy
Góc đúng bằng góc (góc giữa hai nửa đường chéo liên tiếp của hình vuông, cũng bằng theo Định lí 3). Khi góc vuông xOy xoay quanh từ vị trí trùng sang vị trí cắt tại , cắt tại , phần diện tích mất đi ở tam giác luôn được bù lại đúng bằng phần diện tích thêm vào ở tam giác , nhờ hai tam giác này luôn bằng nhau.
1Cách 1. Dùng hai tam giác bằng nhau OAM, OBN để 'bù trừ' diện tích

Định hướng. Chứng minh rồi thay thế phần diện tích tam giác này bằng tam giác kia, đưa phần chắn bởi góc về đúng một góc phần tư cố định .

Vì tia xuất phát từ tâm và cắt cạnh hình vuông, không mất tính tổng quát giả sử cắt tại (nằm giữa , ), khi đó do nên cắt cạnh kề tại (nằm giữa , )
là tâm hình vuông nên và (đường chéo là phân giác góc vuông của hình vuông, Định lí 3)
và (giả thiết góc vuông), suy ra
Xét và : , , nên (g.c.g), suy ra diện tích hai tam giác này bằng nhau
Diện tích phần hình vuông trong góc = diện tích tứ giác = diện tích diện tích diện tích = diện tích (vì hai tam giác vừa chứng minh bằng nhau đã triệt tiêu nhau)
Diện tích hình vuông ; bốn tam giác bằng nhau (do đối xứng qua tâm) và chia đều hình vuông nên diện tích

Vậy diện tích phần hình vuông nằm trong góc luôn bằng diện tích , không phụ thuộc vị trí cụ thể của , .

2Cách 2. Dùng toạ độ và tích phân diện tích tam giác trực tiếp

Định hướng. Đặt hình vuông vào hệ trục, tham số hoá vị trí điểm cắt trên rồi tính trực tiếp diện tích tứ giác bằng công thức toạ độ (Shoelace) — khác bản chất vì thay chứng minh tam giác bằng nhau bằng tính toán đại số trực tiếp.

Đặt , , , , tâm
Gọi trên với ( đi qua ); vì nên là ảnh của qua phép quay quanh , tính được toạ độ theo
Kiểm tra luôn thuộc cạnh (, ) với mọi
Tính diện tích tứ giác bằng công thức toạ độ (Shoelace) theo ; rút gọn biểu thức

Vậy kết quả rút gọn luôn cho diện tích tứ giác với mọi , khớp với Cách 1.

Nhận xét. Kết quả không đổi cm² (đúng diện tích hình vuông) dù góc vuông quay ở vị trí nào quanh tâm — đây là một tính chất đẹp đặc trưng của hình vuông, không đúng với hình chữ nhật thường (không có tâm đối xứng theo góc như vậy).

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: chứng minh rồi quy phần diện tích về đúng cố định — không cần tính toạ độ và Shoelace phức tạp như Cách 2.
Đáp số. Diện tích phần hình vuông nằm trong góc luôn bằng cm².
Sai lầm thường gặp. Nhầm tưởng diện tích phần chắn phụ thuộc vào vị trí cụ thể của trên (tức phụ thuộc góc quay của ), nên cố định một vị trí đặc biệt () rồi tính diện tích một phần tư hình vuông mà không chứng minh được kết quả này ĐÚNG VỚI MỌI vị trí của , .
🚀 Mở rộng. Nếu thay 'góc vuông' bằng một góc bất kì quay quanh tâm , phần diện tích chắn bởi góc đó không còn cố định nữa (chỉ cố định khi , đúng bằng góc giữa hai nửa đường chéo liên tiếp của hình vuông) — đây là điều kiện mấu chốt để phép 'bù trừ diện tích' ở Cách 1 xảy ra.
Bài 5 · Bài 3.27★★★Trang 42— Dựng hình vuông từ tam giác vuông cân bằng cách chia ba cạnh huyền
Bài 3.27 (trang 42). Xét tam giác vuông cân tại . Lấy trên cạnh hai điểm , sao cho . Lấy các điểm , lần lượt thuộc cạnh , sao cho , vuông góc với . Chứng minh tứ giác là một hình vuông.
Kiến thức cần nhớ
  • Tam giác vuông có một góc 45° là tam giác vuông cân.
  • Hình bình hành có một góc vuông là hình chữ nhật.
  • Hình chữ nhật có hai cạnh kề bằng nhau là hình vuông (Định lí 4a).
🧠 Phân tích tư duy
Tam giác vuông cân tại cho ngay ; khi dựng thêm , vuông góc với cạnh huyền , hai tam giác nhỏ và đều là tam giác vuông có một góc nên lại vuông cân — điều này buộc và , mà theo giả thiết, nên cả ba đoạn đều bằng nhau. Kết hợp (cùng vuông góc ) là đủ nguyên liệu để lên hình chữ nhật rồi hình vuông.
1Cách 1. Dùng hai tam giác vuông cân GBD, FEC rồi Định lí 4a

Định hướng. Chỉ ra , từ hai tam giác vuông cân, ghép với đã cho để có ba cạnh liên tiếp của bằng nhau.

Tam giác vuông cân tại nên
vuông tại (vì ) có nên vuông cân tại , suy ra
Tương tự, vuông tại (vì ) có nên vuông cân tại , suy ra
Theo giả thiết , kết hợp hai kết quả trên:
và (giả thiết) nên ; lại có (vừa chứng minh) nên tứ giác có một cặp cạnh đối song song và bằng nhau, do đó là hình bình hành
Hình bình hành có (vì , do nằm trên và ) nên là hình chữ nhật
Hình chữ nhật có hai cạnh kề bằng nhau (đã chứng minh ) nên theo Định lí 4a, là hình vuông

Vậy tứ giác (tức ) là một hình vuông có cạnh bằng .

2Cách 2. Dùng toạ độ, đặt , trên trục hoành

Định hướng. Gán toạ độ cụ thể cho theo tam giác vuông cân rồi tính trực tiếp bốn cạnh và các góc của bằng công thức khoảng cách và tích vô hướng — khác bản chất vì thay lập luận tổng hợp bằng kiểm chứng đại số.

Đặt , (chia thành ba đoạn bằng nhau cho dễ tính), khi đó ,
Vì vuông cân tại và là cạnh huyền nên nằm trên đường trung trực của , cách một khoảng bằng , tức
là giao điểm của đường thẳng với đường thẳng đứng (vì tại ); tính được
là giao điểm của đường thẳng với đường thẳng đứng (vì tại ); tính được
Tính bốn cạnh: , , , (bằng công thức khoảng cách) và (bằng công thức tích vô hướng)

Vậy bốn cạnh bằng nhau và có một góc vuông tại nên là hình vuông (khớp Cách 1, với thì cạnh hình vuông bằng ).

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần nhận ra hai tam giác vuông cân , từ góc có sẵn, không cần dựng hệ trục toạ độ và tính lại từng cạnh như Cách 2.
Đáp số. là hình vuông, có cạnh bằng .
Sai lầm thường gặp. Có bạn chỉ chứng minh rồi kết luận ngay là hình vuông — thiếu bước chứng minh có một góc vuông (để lên hình chữ nhật) VÀ bước có hai cạnh kề bằng nhau (để lên hình vuông); riêng và mới chỉ đủ kết luận hình bình hành hoặc hình chữ nhật.
🚀 Mở rộng. Nếu chia cạnh huyền thành đoạn bằng nhau () và dựng các đoạn vuông góc tương ứng từ hai điểm chia sát hai đầu, lập luận tam giác vuông cân ở hai đầu vẫn hoạt động y hệt, cho một hình vuông cạnh với hai điểm chia đầu tiên và cuối cùng kề hai đầu , .