Bài 1 · Mở đầu★★Trang 67— Gấp giấy — nhận biết tứ giác đặc biệt bằng tính đối xứng trục
Mở đầu (trang 67). Lấy một tờ giấy, gấp làm tư tạo ra một góc vuông O, đánh dấu hai điểm A, B trên hai cạnh góc vuông rồi cắt chéo theo đoạn thẳng AB (H.3.46a). Sau khi mở tờ giấy ra, ta được một tứ giác. Tứ giác đó là hình gì? Vì sao? Nếu ta có OA=OB thì tứ giác nhận được là hình gì (H.3.46b)?
Kiến thức cần nhớ
Tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường là hình bình hành.
Hình bình hành có hai đường chéo vuông góc là hình thoi (Định lí 2b).
Hình thoi có một góc vuông là hình vuông; hình thoi có hai đường chéo bằng nhau là hình vuông (Chú ý).
🧠 Phân tích tư duy
Gấp tư tạo ra hai nếp gấp vuông góc cắt nhau tại O — dấu hiệu để nghĩ ngay tới trục đối xứng chứ không phải đo đạc trực tiếp. Vì A,B nằm ngay trên hai nếp gấp, mở giấy ra thì O tự động là trung điểm của hai đoạn nối các ảnh đối xứng, nên hướng ngắn nhất là chỉ ra hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường và vuông góc.
1Cách 1. Dùng tính đối xứng qua hai nếp gấp
Định hướng. Mỗi nếp gấp là một trục đối xứng; mở lần lượt hai nếp gấp sẽ tạo ra các điểm đối xứng của A, B qua O.
Gọi hai đường gấp là hai đường thẳng vuông góc cắt nhau tại O (điểm góc vuông sau khi gấp tư) Mở nếp gấp chứa B: điểm A (nằm trên nếp gấp còn lại) cho thêm ảnh đối xứng A′ qua O, với OA=OA′ Mở nếp gấp chứa A: điểm B cho thêm ảnh đối xứng B′ qua O, với OB=OB′ Tứ giác nhận được có bốn đỉnh A,B,A′,B′; hai đường chéo AA′ và BB′ cắt nhau tại O là trung điểm của mỗi đường (vì OA=OA′, OB=OB′) nên ABA′B′ là hình bình hành Hai đường chéo AA′, BB′ lại nằm đúng trên hai nếp gấp vuông góc với nhau nên AA′⊥BB′
Vậy tứ giác ABA′B′ là hình bình hành có hai đường chéo vuông góc nên là hình thoi (Định lí 2b). Khi OA=OB thì AA′=BB′=2OA, hình thoi có hai đường chéo bằng nhau nên trở thành hình vuông.
2Cách 2. Dùng toạ độ, đặt hai nếp gấp làm hai trục
Định hướng. Đặt O làm gốc, hai nếp gấp làm hai trục toạ độ để quy việc chứng minh vuông góc và bằng cạnh về tính tích vô hướng và độ dài.
Chọn hệ trục Oxy nhận O làm gốc, hai đường gấp là trục Ox, Oy A(0;p) trên Oy, B(q;0) trên Ox với p=OA, q=OB Mở nếp gấp, hai ảnh đối xứng thêm được là A′(0;−p) và B′(−q;0) OA+OA′=0, OB+OB′=0 nên O là trung điểm của cả AA′ và BB′, suy ra ABA′B′ là hình bình hành AA′=(0;−2p), BB′=(−2q;0), AA′⋅BB′=0.(−2q)+(−2p).0=0 nên AA′⊥BB′ AB=p2+q2=BA′=A′B′=B′A (bốn cạnh bằng nhau bằng công thức khoảng cách)
Vậy tứ giác nhận được là hình thoi; khi p=q thì AA′=BB′=2p bằng nhau nên hình thoi trở thành hình vuông.
Nhận xét. Cách 2 chỉ ra ngay bằng đại số điều kiện p=q (tức OA=OB) để hình thoi trở thành hình vuông, trong khi Cách 1 cho thấy đúng bản chất hình học của thao tác gấp giấy.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi nên trình bày Cách 1 (đối xứng qua nếp gấp): không cần dựng hệ trục, dùng ngay tính đối xứng mà đề bài mô tả, ngắn gọn và bám sát bản chất hoạt động gấp giấy.
Đáp số.Trường hợp a) OA=OB: tứ giác nhận được là hình thoi. Trường hợp b) OA=OB: tứ giác nhận được là hình vuông.
Sai lầm thường gặp.Nhiều học sinh nhìn hình thấy 'cân đối' rồi kết luận luôn là hình vuông cho cả hai trường hợp — cần chỉ rõ hình thoi (đường chéo vuông góc, cắt nhau tại trung điểm) chỉ trở thành hình vuông khi có thêm điều kiện OA=OB (hai đường chéo bằng nhau).
🚀 Mở rộng.Nếu gấp đôi liên tiếp rồi cắt chéo ở một hình gấp khác (ví dụ gấp tám tạo góc 45∘), tứ giác/đa giác nhận được vẫn luôn nhận điểm gấp gốc làm tâm đối xứng — đó là nguyên lí dùng để cắt hoa giấy đối xứng nhiều cánh.
Bài 2 · Câu hỏi (trang 67)★Trang 67— Suy luận từ định nghĩa — quan hệ giữa tứ giác bốn cạnh bằng nhau và hình bình hành
Câu hỏi (trang 67). Hình thoi có phải là hình bình hành không? Nếu có, từ tính chất đã biết của hình bình hành, hãy suy ra những tính chất tương ứng của hình thoi.
Kiến thức cần nhớ
Hình thoi là tứ giác có bốn cạnh bằng nhau (định nghĩa).
Tứ giác có các cặp cạnh đối bằng nhau là hình bình hành (đã học ở Bài 12).
🧠 Phân tích tư duy
Hình thoi được định nghĩa qua bốn cạnh bằng nhau, còn dấu hiệu quen thuộc để nhận ra hình bình hành (đã học ở Bài 12) là 'các cặp cạnh đối bằng nhau'. Hai cặp cạnh đối của hình thoi hiển nhiên bằng nhau vì cả bốn cạnh đã bằng nhau, nên chỉ cần đối chiếu đúng dấu hiệu đó.
1Cách 1. Dùng dấu hiệu cạnh đối bằng nhau
Định hướng. So sánh trực tiếp định nghĩa hình thoi với dấu hiệu nhận biết hình bình hành đã học.
Hình thoi ABCD có AB=BC=CD=DA (định nghĩa) Suy ra AB=CD và BC=DA, tức hai cặp cạnh đối của tứ giác ABCD bằng nhau Tứ giác có các cặp cạnh đối bằng nhau là hình bình hành nên ABCD là hình bình hành
Vậy hình thoi luôn là một hình bình hành đặc biệt (thêm điều kiện bốn cạnh bằng nhau).
2Cách 2. Dùng hai tam giác bằng nhau qua đường chéo
Định hướng. Kẻ một đường chéo để tách hình thoi thành hai tam giác bằng nhau, từ đó suy ra các cặp cạnh đối song song — khác bản chất vì đi từ tam giác thay vì áp thẳng dấu hiệu cạnh đối.
Kẻ đường chéo AC của hình thoi ABCD ΔABC và ΔCDA có AB=CD, BC=DA (định nghĩa hình thoi), AC chung nên ΔABC=ΔCDA (c.c.c) Suy ra BAC=DCA, hai góc so le trong bằng nhau nên AB\parallelCD Tương tự BCA=DAC nên BC\parallelAD Tứ giác có các cặp cạnh đối song song là hình bình hành nên ABCD là hình bình hành
Vậy hình thoi là hình bình hành.
Nhận xét. Vì hình thoi là hình bình hành nên nó thừa hưởng toàn bộ tính chất của hình bình hành: các góc đối bằng nhau, hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường, hai cặp cạnh đối song song và bằng nhau.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ ba dòng, áp thẳng dấu hiệu đã học ở Bài 12 mà không cần kẻ thêm đường chéo.
Đáp số.Có. Hình thoi là một hình bình hành (có hai cặp cạnh đối bằng nhau); do đó hình thoi có đủ các tính chất của hình bình hành: các góc đối bằng nhau, hai cặp cạnh đối song song, hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường.
Sai lầm thường gặp.Một số học sinh nghĩ hình thoi và hình bình hành là hai loại tứ giác 'tách biệt' vì được học ở hai định nghĩa khác nhau, quên rằng hình thoi chỉ là hình bình hành có thêm điều kiện hai cạnh kề bằng nhau — chứ không phải một tập hợp tứ giác rời khỏi hình bình hành.
🚀 Mở rộng.Tổng quát hơn: mọi hình vuông cũng là hình thoi (nên cũng là hình bình hành); dãy bao hàm \(\text{hình bình hành} \supset \text{hình thoi} \supset \text{hình vuông}\) sẽ được làm rõ dần qua các Định lí 2, 3, 4 của chính bài học này.
Bài 3 · HĐ1★★Trang 68— Tính chất hai đường chéo của hình thoi
HĐ1 (trang 68). Cho hình thoi ABCD có hai đường chéo AC, BD cắt nhau tại O (H.3.48). a) ΔABD có cân tại A không? b) AC có vuông góc với BD không và AC có là đường phân giác của góc A không? Vì sao?
Kiến thức cần nhớ
Hình thoi là tứ giác có bốn cạnh bằng nhau (định nghĩa).
Hình bình hành có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường.
Trong tam giác cân, đường trung tuyến ứng với cạnh đáy đồng thời là đường cao và đường phân giác của góc ở đỉnh.
🧠 Phân tích tư duy
Hình thoi có AB=AD ngay từ định nghĩa nên ΔABD cân tại A là điều thấy được tức thì. Từ tam giác cân này, đường trung tuyến AO (vì O là trung điểm BD do ABCD là hình bình hành) đồng thời là đường cao và đường phân giác — đây chính là chìa khoá để suy ra cả hai vuông góc lẫn phân giác chỉ từ một tính chất tam giác cân duy nhất.
1Cách 1. Dùng tính chất tam giác cân (đường trung tuyến đồng thời là đường cao, đường phân giác)
Định hướng. Hình thoi có AB=AD nên ΔABD cân tại A; chỉ cần nhận ra AO là trung tuyến của tam giác cân này để suy ra ngay cả vuông góc lẫn phân giác.
ABCD là hình thoi nên AB=AD (định nghĩa) ⇒ΔABD cân tại A ABCD là hình bình hành (vì là hình thoi) nên hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường, suy ra O là trung điểm của BD Trong ΔABD cân tại A, đoạn AO nối đỉnh A với trung điểm O của cạnh đáy BD chính là đường trung tuyến Đường trung tuyến ứng với cạnh đáy của tam giác cân đồng thời là đường cao và đường phân giác của góc ở đỉnh Suy ra AO⊥BD, tức AC⊥BD, và AO (tức AC) là phân giác của BAD
Vậy a) ΔABD cân tại A; b) AC⊥BD và AC là đường phân giác của góc A.
2Cách 2. Dùng hai tam giác bằng nhau ΔAOB=ΔAOD
Định hướng. Chứng minh trực tiếp hai tam giác vuông tạo bởi O bằng nhau bằng trường hợp cạnh – cạnh – cạnh, khác bản chất vì không dùng tính chất tam giác cân có sẵn mà dựng lại từ định nghĩa.
ABCD là hình thoi nên AB=AD (định nghĩa), suy ra ΔABD cân tại A (câu a) ABCD là hình bình hành nên O là trung điểm BD, tức OB=OD Xét ΔAOB và ΔAOD: AB=AD, OB=OD, AO chung ⇒ΔAOB=ΔAOD (c.c.c) Suy ra AOB=AOD, mà hai góc này kề bù nên AOB=AOD=90∘, tức AC⊥BD Cũng từ ΔAOB=ΔAOD suy ra BAO=DAO, tức AC là phân giác của BAD
Vậy a) ΔABD cân tại A; b) AC⊥BD và AC là đường phân giác của góc A.
3Cách 3. Dùng trục đối xứng AC của hình thoi
Định hướng. Hình thoi có AC là một trục đối xứng (vì AB=AD, CB=CD); phản chiếu qua trục này cho ngay cả hai kết luận, khác bản chất vì dùng phép đối xứng thay vì tam giác bằng nhau.
AB=AD và CB=CD (định nghĩa hình thoi) nên B, D là hai điểm đối xứng với nhau qua đường thẳng AC Vì B đối xứng với D qua AC nên AC là đường trung trực của BD, tức AC⊥BD tại trung điểm O của BD ΔABD có AB=AD nên cân tại A (câu a) Vì B, D đối xứng nhau qua AC nên tia AC biến tia AB thành tia AD, tức BAC=DAC, hay AC là phân giác của BAD
Vậy a) ΔABD cân tại A; b) AC⊥BD và AC là đường phân giác của góc A.
Nhận xét. Cả ba cách đều quy về cùng một sự thật: AC vừa là trục đối xứng, vừa là trung tuyến-đường cao-phân giác của tam giác cân ABD — đây chính là nội dung Định lí 1 của bài học.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần nhận ra AO là trung tuyến của tam giác cân ABD rồi áp thẳng tính chất 'trung tuyến = đường cao = phân giác', không phải chứng minh lại hai tam giác bằng nhau.
Đáp số.a) ΔABD cân tại A. b) AC⊥BD và AC là đường phân giác của BAD.
Sai lầm thường gặp.Có bạn cho rằng AC⊥BD là 'hiển nhiên vì hình vẽ trông vuông góc' mà không chỉ ra được O là trung điểm BD (tính chất hình bình hành) — thiếu bước này thì AO chưa chắc là đường trung tuyến nên không thể áp tính chất tam giác cân.
🚀 Mở rộng.Lập luận này áp dụng y hệt cho đường chéo BD: ΔBAC cũng cân tại B (vì BA=BC) nên BD cũng là phân giác của ABC — đó chính là nội dung đầy đủ của Định lí 1: cả hai đường chéo đều là các đường phân giác của các góc trong hình thoi.
Bài 4 · Câu hỏi (trang 68)★Trang 68— Viết giả thiết – kết luận của một định lí đã cho
Câu hỏi (trang 68). Hãy viết giả thiết, kết luận của câu c trong Định lí 2.
Kiến thức cần nhớ
Hình bình hành có một đường chéo là đường phân giác của một góc là hình thoi (Định lí 2c).
🧠 Phân tích tư duy
Câu c của Định lí 2 phát biểu bằng lời 'hình bình hành có một đường chéo là đường phân giác của một góc là hình thoi'. Chỉ cần tách đúng phần điều kiện cho trước (giả thiết) và phần cần khẳng định (kết luận), gọi tên đỉnh và đường chéo cụ thể để viết bằng kí hiệu.
1Cách 1. Viết bằng kí hiệu góc thông thường
Định hướng. Gọi tên hình bình hành ABCD và đường chéo AC, diễn đạt 'đường chéo là phân giác của một góc' bằng hai góc bằng nhau tại đỉnh đó.
ABCD là hình bình hành AC là đường chéo với BAC=DAC (tức AC là phân giác của BAD)
Vậy Giả thiết: ABCD là hình bình hành, BAC=DAC. Kết luận: ABCD là hình thoi.
2Cách 2. Viết theo kí hiệu nửa góc như Hình 3.48
Định hướng. Dùng cách đánh số nửa góc A1,A2 quen thuộc trong hình vẽ của bài (một quy ước trình bày khác thường gặp khi kiểm tra) — khác bản chất kí hiệu so với Cách 1 dù cùng một nội dung.
ABCD là hình bình hành, đường chéo AC chia A thành A1 (kề AB) và A2 (kề AD) Giả thiết cho A1=A2
Vậy Giả thiết: ABCD là hình bình hành, A1=A2 (với AC chia A thành A1,A2). Kết luận: ABCD là hình thoi.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Cách 1 rõ ràng và phổ biến nhất khi trình bày bài kiểm tra, không cần đặt thêm kí hiệu phụ.
Đáp số.Giả thiết: ABCD là hình bình hành, đường chéo AC là phân giác của BAD (tức BAC=DAC). Kết luận: ABCD là hình thoi.
Sai lầm thường gặp.Có bạn viết giả thiết là 'AC là phân giác của góc A' mà quên nêu ABCD đã là hình bình hành từ trước — thiếu điều kiện nền này thì Định lí 2c không áp dụng được (một tứ giác bất kì có đường chéo là phân giác một góc chưa chắc đã là hình thoi).
🚀 Mở rộng.Có thể viết tương tự cho đường chéo còn lại: ABCD là hình bình hành và BD là phân giác của ABC thì ABCD cũng là hình thoi — về bản chất chỉ là đổi tên đỉnh và đường chéo.
Bài 5 · Luyện tập 1★★Trang 69— Nhận diện hình thoi qua dấu hiệu cho sẵn trên hình vẽ
Luyện tập 1 (trang 69). Trong Hình 3.51, hình nào là hình thoi? Vì sao?
Kiến thức cần nhớ
Hình thoi là tứ giác có bốn cạnh bằng nhau (định nghĩa).
Hình bình hành có hai đường chéo vuông góc là hình thoi (Định lí 2b).
Nếu LR chia đều cả hai góc ở L và ở R thì ΔTLR=ΔBLR (g.c.g), suy ra LT=LB, RT=RB.
🧠 Phân tích tư duy
Ba hình đều có dạng 'cánh diều' với một đường chéo chung, nhưng dữ kiện đánh dấu khác nhau: hình a) cho cả hai đường chéo cùng bị chia đôi và vuông góc; hình b) chỉ đánh dấu góc bằng nhau ở hai đầu một đường chéo cùng một cặp cạnh bằng nhau; hình c) chỉ có một góc bị chia đôi và một cặp đường thẳng vuông góc. Phải soi kĩ xem dữ kiện đã đủ áp đúng dấu hiệu nào của Định lí 2 hay chưa, tránh kết luận ẩu theo cảm giác 'trông giống hình thoi'.
1Cách 1. Áp trực tiếp dấu hiệu phù hợp cho từng hình
Định hướng. Đi lần lượt a) → b) → c), mỗi hình chọn đúng dấu hiệu của Định lí 2 khớp với dữ kiện đã đánh dấu.
Hình a): hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường (các nửa đường chéo được đánh dấu bằng nhau) nên tứ giác là hình bình hành; hai đường chéo lại vuông góc (có kí hiệu vuông) nên theo Định lí 2b, đó là hình thoi Hình b): đường chéo chung LR chia đều góc tại L và chia đều góc tại R (các cặp góc được đánh dấu bằng nhau); xét ΔTLR và ΔBLR có LR chung, TLR=BLR, TRL=BRL nên ΔTLR=ΔBLR (g.c.g), suy ra LT=LB và RT=RB; kết hợp thêm cặp cạnh TR=BL đã đánh dấu bằng nhau trên hình, ta có LT=LB=TR=BR — cả bốn cạnh bằng nhau nên tứ giác là hình thoi (định nghĩa) Hình c): chỉ có góc tại L bị chia đôi và hai đường chéo vuông góc tại một điểm không được đánh dấu là trung điểm của cả hai đường chéo — dữ kiện này chỉ đủ suy ra tam giác đối xứng qua đường chéo LR (cho LT=LB) chứ không cho RT=RB hay LT=RT, nên KHÔNG đủ căn cứ để khẳng định là hình thoi
Vậy a) và b) là hình thoi; c) chưa đủ dữ kiện để khẳng định là hình thoi.
2Cách 2. Loại trừ qua kiểm tra từng dấu hiệu còn thiếu
Định hướng. Với mỗi hình, thử xem có dấu hiệu nào của Định lí 2 KHÔNG được thoả trước, nếu mọi dấu hiệu đều thiếu thì loại ngay — khác bản chất vì đi từ việc phủ định thay vì khẳng định trực tiếp.
Hình a): có thiếu dấu hiệu 'hình bình hành' không? Không — hai đường chéo đã cắt nhau tại trung điểm mỗi đường; có thiếu 'vuông góc' không? Không — đã có kí hiệu vuông góc ⇒ đủ cả hai vế của Định lí 2b nên là hình thoi Hình b): có thiếu 'hình bình hành' không? Chỉ có một đường chéo LR được vẽ nên không thể kiểm tra trực tiếp hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm; chuyển sang kiểm tra bằng định nghĩa (bốn cạnh bằng nhau) qua tam giác bằng nhau như Cách 1 thì đủ — vậy vẫn là hình thoi nhưng phải đổi hướng chứng minh Hình c): có thiếu 'hình bình hành' không? Có — không có dấu hiệu nào cho hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường; có thiếu 'bốn cạnh bằng nhau' không? Có — chỉ mới suy ra LT=LB chứ chưa có LT=RT; cả hai con đường của Định lí 2 và định nghĩa đều thiếu dữ kiện
Vậy kết quả trùng khớp với Cách 1: a), b) là hình thoi; c) không đủ căn cứ kết luận.
Nhận xét. Hình c) là một bẫy thường gặp: có kí hiệu vuông góc và một góc chia đôi trông 'giống' hình thoi, nhưng thiếu đúng phần cốt lõi — đường chéo còn lại không được cho là bị chia đôi và góc ở đầu kia cũng không được cho là bằng nhau, nên không có cơ sở suy ra đối xứng qua cả hai phía.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: áp thẳng dấu hiệu của Định lí 2 (hoặc định nghĩa) theo đúng dữ kiện đã đánh dấu trên hình, nhanh và không phải liệt kê từng dấu hiệu để loại trừ.
Đáp số.Hình a) và hình b) là hình thoi. Hình c) không đủ dữ kiện để khẳng định là hình thoi.
Sai lầm thường gặp.Nhầm hình c) là hình thoi chỉ vì 'nhìn có vẻ đối xứng' và có kí hiệu vuông góc — cần nhớ dấu hiệu Định lí 2b đòi hỏi tứ giác PHẢI LÀ hình bình hành trước (hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm MỖI đường), một góc vuông tại giao điểm hai đường chéo không tự động cho điều đó.
🚀 Mở rộng.Nếu hình c) được cho thêm dữ kiện đường chéo còn lại cũng bị chia đôi tại đúng giao điểm đó, thì tứ giác trở thành hình bình hành có hai đường chéo vuông góc — lúc đó mới đủ điều kiện để khẳng định là hình thoi theo Định lí 2b.
Bài 6 · HĐ2★★Trang 70— Tính chất hai đường chéo của hình vuông
HĐ2 (trang 70). Hãy giải thích tại sao hai đường chéo của hình vuông bằng nhau và vuông góc với nhau.
Kiến thức cần nhớ
Hình chữ nhật có hai đường chéo bằng nhau (đã học ở Bài 13).
Trong hình thoi, hai đường chéo vuông góc với nhau và là các đường phân giác của các góc trong hình thoi (Định lí 1).
Hình vuông là tứ giác có bốn góc vuông và bốn cạnh bằng nhau (định nghĩa).
🧠 Phân tích tư duy
Hình vuông vừa là hình chữ nhật vừa là hình thoi (vì có đủ bốn góc vuông và bốn cạnh bằng nhau). Vì vậy, thay vì chứng minh lại từ đầu, chỉ cần ghép hai tính chất đường chéo đã biết: hình chữ nhật có hai đường chéo bằng nhau, hình thoi có hai đường chéo vuông góc.
1Cách 1. Ghép tính chất từ hình chữ nhật và hình thoi
Định hướng. Hình vuông ABCD vừa là hình chữ nhật vừa là hình thoi nên có ngay cả hai tính chất đường chéo tương ứng.
ABCD là hình vuông nên có bốn góc vuông, do đó ABCD cũng là một hình chữ nhật Hình chữ nhật có hai đường chéo bằng nhau nên AC=BD ABCD là hình vuông nên có bốn cạnh bằng nhau, do đó ABCD cũng là một hình thoi Hình thoi có hai đường chéo vuông góc với nhau (Định lí 1) nên AC⊥BD
Vậy hai đường chéo của hình vuông vừa bằng nhau (AC=BD) vừa vuông góc với nhau (AC⊥BD).
2Cách 2. Dùng hai tam giác bằng nhau trực tiếp từ định nghĩa hình vuông
Định hướng. Không đi qua trung gian hình chữ nhật/hình thoi mà chứng minh thẳng ΔABD=ΔBAC và ΔAOB=ΔAOD từ bốn cạnh bằng nhau và bốn góc vuông — khác bản chất vì dựng lại từ định nghĩa gốc.
ABCD là hình vuông nên AB=BC=CD=DA và A=B=C=D=90∘ Xét ΔABD và ΔBAC: AB chung, AD=BC, BAD=ABC=90∘ nên ΔABD=ΔBAC (c.g.c), suy ra BD=AC Gọi O=AC∩BD. Vì AB=AD nên ΔABD cân tại A, và vì ABCD là hình bình hành (có hai cặp cạnh đối bằng nhau) nên O là trung điểm BD, tức AO là trung tuyến của tam giác cân ABD Trung tuyến ứng với cạnh đáy của tam giác cân đồng thời là đường cao nên AO⊥BD, tức AC⊥BD
Vậy hai đường chéo của hình vuông bằng nhau và vuông góc với nhau.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: hình vuông đã được học là vừa hình chữ nhật vừa hình thoi nên chỉ cần trích thẳng hai tính chất đường chéo tương ứng, không cần chứng minh lại bằng tam giác.
Đáp số.Hai đường chéo của hình vuông bằng nhau (AC=BD) và vuông góc với nhau (AC⊥BD).
Sai lầm thường gặp.Có bạn chỉ nêu được một trong hai tính chất (thường quên phần 'bằng nhau' vì chỉ nhớ hình vuông là hình thoi mà quên nó cũng là hình chữ nhật) — cần nêu đủ cả hai vai trò của hình vuông để không bỏ sót tính chất nào.
🚀 Mở rộng.Vì hình vuông còn có thêm tính chất bốn góc vuông, có thể chứng minh thêm rằng hai đường chéo của hình vuông chia hình vuông thành bốn tam giác vuông cân bằng nhau — tính chất này sẽ được dùng nhiều khi tính diện tích hình vuông theo đường chéo ở các bài sau.
Bài 7 · Câu hỏi (trang 70)★Trang 70— Viết giả thiết – kết luận của một định lí đã cho
Câu hỏi (trang 70). Hãy viết giả thiết, kết luận của câu a trong Định lí 4.
Kiến thức cần nhớ
Hình chữ nhật có hai cạnh kề bằng nhau là hình vuông (Định lí 4a).
🧠 Phân tích tư duy
Câu a của Định lí 4 phát biểu 'hình chữ nhật có hai cạnh kề bằng nhau là hình vuông'. Tách phần điều kiện cho trước (đã là hình chữ nhật, cộng thêm hai cạnh kề bằng nhau) và phần cần khẳng định (là hình vuông), rồi gọi tên hai cạnh kề cụ thể để viết bằng kí hiệu.
1Cách 1. Chọn cặp cạnh kề AB, BC
Định hướng. Gọi hình chữ nhật là ABCD, hai cạnh kề tại đỉnh B là AB và BC.
ABCD là hình chữ nhật AB=BC (hai cạnh kề bằng nhau)
Vậy Giả thiết: ABCD là hình chữ nhật, AB=BC. Kết luận: ABCD là hình vuông.
2Cách 2. Chọn cặp cạnh kề AD, DC
Định hướng. Dùng cặp cạnh kề tại đỉnh D thay vì tại đỉnh B — một lựa chọn đỉnh khác của cùng một nội dung, để thấy giả thiết không phụ thuộc vào việc chọn đỉnh nào.
ABCD là hình chữ nhật AD=DC (hai cạnh kề bằng nhau tại đỉnh D)
Vậy Giả thiết: ABCD là hình chữ nhật, AD=DC. Kết luận: ABCD là hình vuông.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Cách 1 (cặp AB, BC) quen thuộc và ngắn gọn nhất khi trình bày bài kiểm tra.
Đáp số.Giả thiết: ABCD là hình chữ nhật, AB=BC (hai cạnh kề bằng nhau). Kết luận: ABCD là hình vuông.
Sai lầm thường gặp.Có bạn viết giả thiết chỉ là 'tứ giác có hai cạnh kề bằng nhau' mà bỏ mất điều kiện ABCD đã là hình chữ nhật — thiếu điều kiện nền này thì kết luận sai, vì một tứ giác bất kì có hai cạnh kề bằng nhau chưa chắc đã là hình vuông (có thể chỉ là hình thoi hoặc tứ giác bất kì).
🚀 Mở rộng.Có thể viết tương tự cho các cặp cạnh kề còn lại (BC=CD hay CD=DA) — vì hình chữ nhật đã có các cặp cạnh đối bằng nhau (AB=CD, BC=DA), chỉ cần MỘT cặp cạnh kề bằng nhau là đủ để suy ra cả bốn cạnh bằng nhau.
Bài 8 · Luyện tập 2★★Trang 71— Xác định đúng dấu hiệu trong Định lí 4 ứng với từng hình
Luyện tập 2 (trang 71). Với mỗi hình dưới đây, ta dùng dấu hiệu nhận biết nào để khẳng định đó là hình vuông?
Kiến thức cần nhớ
Hình bình hành có hai đường chéo bằng nhau là hình chữ nhật (đã học ở Bài 13).
Hình chữ nhật có hai cạnh kề bằng nhau là hình vuông (Định lí 4a).
Hình chữ nhật có hai đường chéo vuông góc là hình vuông (Định lí 4b).
Hình chữ nhật có một đường chéo là đường phân giác của một góc là hình vuông (Định lí 4c).
🧠 Phân tích tư duy
Cả ba hình đều là hình vuông nhưng mỗi hình chỉ đánh dấu MỘT bộ dữ kiện khác nhau về đường chéo, ứng đúng với một trong ba câu a, b, c của Định lí 4. Việc cần làm là nhận ra hình đã là hình bình hành có hai đường chéo bằng nhau (nên là hình chữ nhật), rồi soi tiếp dữ kiện còn lại (cạnh kề bằng nhau / góc bị chia đôi / hai đường chéo vuông góc) để chọn đúng câu a, c hay b tương ứng.
1Cách 1. Suy luận trực tiếp theo đúng thứ tự a) → b) → c)
Định hướng. Với mỗi hình, xác định trước hình chữ nhật (từ hai đường chéo bằng nhau và cắt nhau tại trung điểm mỗi đường) rồi soi dữ kiện còn lại để chọn đúng câu của Định lí 4.
Hình a): hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường và bằng nhau (bốn nửa đường chéo cùng kí hiệu) nên tứ giác là hình bình hành có hai đường chéo bằng nhau, tức là hình chữ nhật; lại có thêm một cặp cạnh kề bằng nhau (kí hiệu hai gạch) nên theo Định lí 4a, đó là hình vuông Hình b): hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường nên là hình bình hành; đỉnh trên cho 45∘+45∘=90∘ tức tứ giác có một góc vuông nên là hình chữ nhật; đường chéo đi qua đỉnh đó lại chia đúng góc vuông thành hai góc 45∘ bằng nhau, tức là đường phân giác của góc, nên theo Định lí 4c, đó là hình vuông Hình c): hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường và bằng nhau nên là hình chữ nhật (như hình a); hai đường chéo lại vuông góc với nhau (kí hiệu vuông tại giao điểm) nên theo Định lí 4b, đó là hình vuông
Vậy hình a) dùng Định lí 4a (hcn có hai cạnh kề bằng nhau); hình b) dùng Định lí 4c (hcn có một đường chéo là phân giác một góc); hình c) dùng Định lí 4b (hcn có hai đường chéo vuông góc).
2Cách 2. Loại trừ dần hai dấu hiệu không khớp trước khi chọn dấu hiệu còn lại
Định hướng. Với mỗi hình, kiểm tra lần lượt xem dữ kiện có khớp câu b (vuông góc) hay câu c (phân giác) hay không, dấu hiệu nào không khớp thì loại, còn lại đúng một câu — khác bản chất vì đi từ loại trừ thay vì nhận diện trực tiếp.
Hình a): có kí hiệu góc vuông ở giao điểm hai đường chéo không? Không — chỉ có kí hiệu các đoạn bằng nhau, nên loại câu b; có kí hiệu một góc bị chia đôi bởi đường chéo không? Không, nên loại câu c; còn lại đúng câu a (hai cạnh kề bằng nhau) — khớp với kí hiệu hai gạch trên hình Hình b): có kí hiệu vuông góc ở giao điểm không? Không, nên loại câu b; có kí hiệu hai cạnh kề bằng nhau không? Không, nên loại câu a; còn lại đúng câu c (đường chéo là phân giác) — khớp với hai góc 45∘ bằng nhau Hình c): có kí hiệu hai cạnh kề bằng nhau không? Không, nên loại câu a; có kí hiệu góc bị chia đôi bằng số đo cụ thể không? Không, nên loại câu c; còn lại đúng câu b (hai đường chéo vuông góc) — khớp với kí hiệu vuông tại giao điểm
Vậy kết quả trùng khớp với Cách 1: a) dùng câu a, b) dùng câu c, c) dùng câu b của Định lí 4.
Nhận xét. Cả ba hình đều thực sự là hình vuông (đường chéo bằng nhau và cắt nhau tại trung điểm mỗi đường luôn có sẵn ở cả ba hình); điều khác nhau chỉ là dữ kiện PHỤ nào được thêm vào để hoàn tất chứng minh, ứng đúng với một trong ba câu a, b, c của Định lí 4.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: xác định hình chữ nhật trước (đường chéo bằng nhau, cắt nhau tại trung điểm mỗi đường) rồi soi thẳng dữ kiện phụ để chọn đúng câu a, b hay c, không cần liệt kê loại trừ từng câu.
Đáp số.Hình a): Định lí 4a (hình chữ nhật có hai cạnh kề bằng nhau). Hình b): Định lí 4c (hình chữ nhật có một đường chéo là phân giác của một góc). Hình c): Định lí 4b (hình chữ nhật có hai đường chéo vuông góc).
Sai lầm thường gặp.Nhầm lẫn hay gặp: thấy hình có vẽ như 'hình thoi' (dạng cánh diều) liền áp Định lí 2 (dấu hiệu hình thoi) thay vì Định lí 4 (dấu hiệu hình vuông) — cần đọc kĩ hình đã cho sẵn là 'đủ để khẳng định là hình vuông', tức phải dùng dấu hiệu xuất phát từ hình chữ nhật (Định lí 4), không phải chỉ dừng ở hình thoi (Định lí 2).
🚀 Mở rộng.Có thể kết hợp cả ba dữ kiện (cạnh kề bằng nhau, đường chéo vuông góc, đường chéo là phân giác) trên cùng một hình để có một bài toán 'thừa giả thiết' — khi đó chỉ cần chọn MỘT trong ba câu của Định lí 4 để trình bày ngắn gọn nhất, các dữ kiện còn lại trở thành hệ quả.
Bài 9 · Vận dụng★★Trang 71— Giải thích kết quả hoạt động gấp giấy bằng các định lí đã học trong bài
Vận dụng (trang 71). Trở lại tình huống mở đầu. Hãy giải thích tại sao: – Trường hợp a, ta được hình thoi. – Trường hợp b, ta được hình vuông.
Kiến thức cần nhớ
Tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường là hình bình hành.
Hình bình hành có hai đường chéo vuông góc là hình thoi (Định lí 2b).
Hình thoi có một góc vuông là hình vuông; hình thoi có hai đường chéo bằng nhau là hình vuông (Chú ý).
🧠 Phân tích tư duy
Đây chính là tình huống mở đầu nhưng nay đã có đủ Định lí 1, 2, 3 và Chú ý để giải thích chặt chẽ thay vì chỉ quan sát bằng trực giác. Chìa khoá vẫn là hai đường chéo của tứ giác MNPQ (chính là hai nếp gấp) luôn cắt nhau tại trung điểm mỗi đường và luôn vuông góc, còn OM=OQ chỉ thêm ở trường hợp b) mới là điều kiện nâng cấp hình thoi thành hình vuông.
1Cách 1. Dùng Định lí 2b rồi Chú ý (hình thoi có 2 đường chéo bằng nhau là hình vuông)
Định hướng. Cả hai trường hợp đều xuất phát từ cùng một hình bình hành có hai đường chéo vuông góc; trường hợp b) chỉ khác ở việc hai đường chéo còn bằng nhau.
Ở cả hai trường hợp, hai nếp gấp vuông góc cắt nhau tại O; khi mở giấy, mỗi điểm đánh dấu (M trên nếp dọc, N trên nếp ngang) đều cho thêm ảnh đối xứng qua O nên O là trung điểm của cả hai đường chéo MP, NQ của tứ giác MNPQ Tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường là hình bình hành, nên MNPQ luôn là hình bình hành ở cả hai trường hợp Hai đường chéo MP, NQ nằm đúng trên hai nếp gấp vuông góc với nhau nên MP⊥NQ Hình bình hành có hai đường chéo vuông góc là hình thoi (Định lí 2b) ⇒ trường hợp a) ta được hình thoi Ở trường hợp b), thêm điều kiện OM=OQ (khoảng cách gấp bằng nhau ở hai cạnh góc vuông) nên MP=2⋅OM=2⋅OQ=NQ, tức hai đường chéo còn bằng nhau Hình thoi có hai đường chéo bằng nhau là hình vuông (Chú ý, trang 70) ⇒ trường hợp b) ta được hình vuông
Vậy trường hợp a) (chỉ có vuông góc, chưa bằng nhau) cho hình thoi; trường hợp b) (vuông góc và bằng nhau) cho hình vuông.
2Cách 2. Dùng Định lí 3 ngược cho trường hợp b) thay vì đi qua Chú ý
Định hướng. Ở trường hợp b), kiểm tra trực tiếp cả bốn tính chất của Định lí 3 (đường chéo bằng nhau, vuông góc, cắt nhau tại trung điểm) rồi suy ngược ra hình vuông — khác bản chất vì không dùng Chú ý mà quay lại đúng bốn điều kiện đặc trưng của đường chéo hình vuông.
Như Cách 1, trường hợp a) đã có MNPQ là hình bình hành với hai đường chéo vuông góc nên là hình thoi theo Định lí 2b Ở trường hợp b), OM=OQ=ON=OP (vì OM=OP, ON=OQ do đối xứng, và thêm OM=OQ theo giả thiết) nên hai đường chéo MP=NQ vừa bằng nhau, vừa vuông góc, vừa cắt nhau tại trung điểm mỗi đường — đúng bốn tính chất đặc trưng của đường chéo hình vuông trong Định lí 3 Vì MNPQ đã là hình thoi (từ trường hợp a) mà lại có thêm hai đường chéo bằng nhau, đối chiếu Định lí 3 chỉ hình vuông mới có đủ cả bốn tính chất đường chéo này
Vậy trường hợp b) cho hình vuông vì hội đủ cả bốn tính chất đường chéo đặc trưng của Định lí 3.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần một câu trích Chú ý (hình thoi có 2 đường chéo bằng nhau là hình vuông), không cần liệt kê lại cả bốn tính chất của Định lí 3.
Đáp số.Trường hợp a: MNPQ là hình bình hành (hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường) có hai đường chéo vuông góc nên là hình thoi. Trường hợp b: thêm OM=OQ nên hai đường chéo bằng nhau, hình thoi có hai đường chéo bằng nhau nên là hình vuông.
Sai lầm thường gặp.Nhầm rằng chỉ cần 'vuông góc' là đủ để có hình vuông ngay — thực chất vuông góc (cộng bình hành) chỉ cho hình thoi; phải có thêm điều kiện hai đường chéo bằng nhau (OM=OQ) mới nâng cấp lên hình vuông, đúng như phân biệt giữa trường hợp a) và b) của đề bài.
🚀 Mở rộng.Nếu chỉ gấp đôi một lần (không gấp tư) rồi cắt chéo, hai 'đường chéo' không còn vuông góc với nhau nữa nói chung, tứ giác nhận được chỉ là một hình bình hành thông thường — điều này cho thấy chính bước gấp THỨ HAI (tạo nếp gấp vuông góc với nếp đầu) mới là điều kiện quyết định để có hình thoi.
Bài 10 · Bài 3.29★★Trang 71— Phân loại tứ giác qua dấu hiệu hình bình hành, hình thoi, hình vuông
Bài 3.29 (trang 71). Tìm các hình thoi và hình vuông trong Hình 3.55.
Kiến thức cần nhớ
Tứ giác có các cặp cạnh đối bằng nhau là hình bình hành (đã học ở Bài 12).
Hình thoi là tứ giác có bốn cạnh bằng nhau (định nghĩa).
Hình bình hành có hai đường chéo vuông góc là hình thoi (Định lí 2b).
Hình thoi có một góc vuông là hình vuông; hình thoi có hai đường chéo bằng nhau là hình vuông (Chú ý).
Tứ giác chỉ có hai cặp cạnh KỀ bằng nhau (không phải cạnh đối) là một hình cánh diều, không phải hình thoi.
🧠 Phân tích tư duy
Bốn hình được xây trên cùng một dạng 'cánh diều' nhưng mức độ dữ kiện tăng dần: a) chỉ có các cặp cạnh đối bằng nhau (dừng ở hình bình hành); b) có thêm hai đường chéo vuông góc (lên hình thoi); c) có thêm góc 45∘ ở hai đỉnh đối (lên hẳn hình vuông); d) chỉ có hai cặp cạnh KỀ bằng nhau chứ không phải cạnh đối, nên chỉ là một hình cánh diều chứ không phải hình thoi. Phải phân biệt rất kĩ 'cạnh kề' và 'cạnh đối' bằng nhau.
1Cách 1. Suy luận trực tiếp theo đúng thứ tự a) → b) → c) → d)
Định hướng. Với mỗi hình, đối chiếu đúng dữ kiện đã cho với định nghĩa/dấu hiệu của hình bình hành, hình thoi, hình vuông.
Hình a) ABCD: có AB=CD và AD=BC (hai cặp cạnh đối bằng nhau, theo kí hiệu) nên là hình bình hành; nhưng AB=AD (hai cạnh kề không cùng kí hiệu) nên KHÔNG phải hình thoi Hình b) EFGH: hai đường chéo EG, FH cắt nhau tại trung điểm mỗi đường (các nửa đường chéo cùng kí hiệu từng cặp) nên là hình bình hành; hai đường chéo lại vuông góc (kí hiệu vuông tại giao điểm) nên theo Định lí 2b, EFGH là hình thoi; vì EG=FH (hai đường chéo không cùng kí hiệu) nên KHÔNG phải hình vuông Hình c) MNPQ: hai đường chéo MP, NQ cắt nhau tại trung điểm mỗi đường và vuông góc nên MNPQ là hình thoi (như hình b); góc tại M bằng 45∘+45∘=90∘ (đường chéo MP chia đôi góc M thành hai phần 45∘) nên hình thoi này có một góc vuông; hình thoi có một góc vuông là hình vuông (Chú ý) nên MNPQ là hình vuông Hình d) RSTU: chỉ có RS=RT và SU=TU (hai cặp cạnh KỀ bằng nhau tại R và tại U) chứ không phải cạnh đối; vì RS=SU (khác kí hiệu) nên bốn cạnh không bằng nhau, RSTU CHỈ là một hình cánh diều, không phải hình thoi và cũng không phải hình vuông
Vậy hình thoi là b) và c); trong đó c) còn là hình vuông; hình a) chỉ là hình bình hành, hình d) chỉ là cánh diều.
2Cách 2. Kiểm tra bằng phản ví dụ số đo cụ thể cho từng hình
Định hướng. Gán số đo cụ thể phù hợp với từng kí hiệu trên hình rồi tính toán trực tiếp bốn cạnh, so sánh bằng số — khác bản chất vì dùng phép đo đạc bằng số thay cho suy luận từ định lí.
Hình a): chọn AB=CD=5, AD=BC=3 (đúng kí hiệu, hai giá trị khác nhau) — bốn cạnh không bằng nhau nên không phải hình thoi, chỉ là hình bình hành Hình b): chọn nửa đường chéo EO=OG=4, FO=OH=3, vuông góc tại O — mỗi cạnh EF=42+32=5 bằng nhau ở cả bốn cạnh (theo Pythagore) nên là hình thoi; nhưng EG=8=FH=6 nên không phải hình vuông Hình c): chọn MP=NQ=2⋅5=10 với MX=XP=NX=XQ=5 (bằng nhau và vuông góc tại X) — mỗi cạnh MN=52+52=52 bằng nhau ở cả bốn cạnh và góc tại M tính được đúng 45∘+45∘=90∘, khớp dữ kiện — vậy MNPQ vừa là hình thoi vừa có một góc vuông nên là hình vuông Hình d): chọn RS=RT=5, SU=TU=7 (đúng kí hiệu hai cặp cạnh kề) — bốn cạnh không bằng nhau (5=7) nên không phải hình thoi
Vậy kết quả trùng khớp với Cách 1: b) và c) là hình thoi, c) còn là hình vuông; a) chỉ là hình bình hành, d) chỉ là cánh diều.
Nhận xét. Bài này cho thấy bốn cấp độ liên tiếp của tứ giác đặc biệt: cạnh đối bằng nhau (hình bình hành) → thêm vuông góc đường chéo (hình thoi) → thêm một góc vuông (hình vuông); còn cạnh KỀ bằng nhau (hình d) là một tính chất khác hẳn, không nằm trong chuỗi này.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: đối chiếu trực tiếp dữ kiện hình với định nghĩa/dấu hiệu, không cần gán số đo cụ thể rồi tính lại bằng Pythagore như Cách 2.
Đáp số.Hình thoi: hình b) và hình c) (hình c) còn là hình vuông). Hình a) chỉ là hình bình hành. Hình d) chỉ là một hình cánh diều, không phải hình thoi.
Sai lầm thường gặp.Nhầm hình d) là hình thoi vì thấy 'có hai cặp cạnh bằng nhau' — nhưng đó là hai cặp cạnh KỀ (RS=RT, SU=TU) chứ không phải cạnh ĐỐI hay cả bốn cạnh bằng nhau; hình thoi đòi hỏi CẢ BỐN cạnh bằng nhau, không phải chỉ từng cặp kề.
🚀 Mở rộng.Nếu hình d) được cho thêm RS=SU (tức bốn cạnh bằng nhau), nó sẽ trở thành hình thoi ngay; đây là minh hoạ cho việc hình cánh diều tổng quát hơn hình thoi — hình thoi chỉ là trường hợp đặc biệt khi hai cặp cạnh kề đó bằng nhau chéo lẫn nhau.
Bài 11 · Bài 3.30★★★Trang 72— Tứ giác dựng từ đường thẳng song song với hai cạnh của tam giác
Bài 3.30 (trang 72). Cho tam giác ABC, D là một điểm nằm giữa B và C. Qua D kẻ các đường thẳng song song với AB, AC, chúng cắt các cạnh AC, AB lần lượt tại E, F. a) Tứ giác AEDF là hình gì? Vì sao? b) Nếu tam giác ABC cân tại A thì điểm D ở vị trí nào trên cạnh BC để tứ giác AEDF là hình thoi? c) Nếu tam giác ABC vuông tại A thì tứ giác AEDF là hình gì? d) Nếu tam giác ABC vuông cân tại A thì điểm D ở vị trí nào trên cạnh BC để AEDF là hình vuông?
Kiến thức cần nhớ
Tứ giác có các cặp cạnh đối bằng nhau là hình bình hành (đã học ở Bài 12).
Hình bình hành có hai cạnh kề bằng nhau là hình thoi (Định lí 2a).
Hình bình hành có một góc vuông là hình chữ nhật.
Hình chữ nhật có hai cạnh kề bằng nhau là hình vuông (Định lí 4a).
🧠 Phân tích tư duy
Hai đường kẻ qua D song song với AB, AC ngay lập tức cho AEDF là hình bình hành (hai cặp cạnh đối song song) với mọi vị trí của D — đây là nền chung cho cả bốn câu. Từ đó, việc 'thêm điều kiện gì để lên hình thoi/hình chữ nhật/hình vuông' chỉ còn là áp đúng Định lí 2 và Định lí 4 lên chính hình bình hành AEDF đó, với EAF=BAC luôn không đổi bất kể D ở đâu.
1Cách 1. Dùng tam giác đồng dạng (định lí Thalès) để định vị D
Định hướng. Tách AF, AE theo tỉ số BD/BC, DC/BC nhờ các cặp tam giác đồng dạng sinh ra từ hai đường song song, rồi giải điều kiện AF=AE.
a) DF\parallelAC và DE\parallelAB (giả thiết) nên tứ giác AFDE có AF\parallelDE, AE\parallelDF, tức AEDF là hình bình hành (hai cặp cạnh đối song song) Vì DF\parallelAC, xét ΔBDF và ΔBCA đồng dạng (Thalès) nên ABAF=BCBD, suy ra AF=AB⋅BCBD; tương tự DE\parallelAB cho AE=AC⋅BCDC b) Hình bình hành AEDF là hình thoi khi hai cạnh kề bằng nhau: AF=AE, tức AB⋅BCBD=AC⋅BCDC, hay AB⋅BD=AC⋅DC Vì tam giác cân tại A nên AB=AC, điều kiện trên rút gọn thành BD=DC, tức D là trung điểm của BC c) Vì ABC vuông tại A nên BAC=90∘; mà EAF=BAC (cùng là góc tại đỉnh A của hình bình hành AEDF, với F trên tia AB, E trên tia AC) nên EAF=90∘; hình bình hành có một góc vuông là hình chữ nhật, nên AEDF là hình chữ nhật với MỌI vị trí của D trên BC d) ABC vuông cân tại A nghĩa là vừa vuông tại A (câu c cho AEDF luôn là hình chữ nhật) vừa cân tại A (câu b cho AEDF là hình thoi khi D là trung điểm BC); một tứ giác vừa là hình chữ nhật vừa là hình thoi chính là hình vuông, nên AEDF là hình vuông đúng khi D là trung điểm của BC
Vậy a) AEDF luôn là hình bình hành; b) D là trung điểm BC thì AEDF là hình thoi; c) AEDF luôn là hình chữ nhật; d) D là trung điểm BC thì AEDF là hình vuông.
2Cách 2. Dùng tính chất đường trung bình cho vị trí D đặc biệt (trung điểm)
Định hướng. Thay vì lập tỉ số Thalès tổng quát rồi giải phương trình, xét thẳng trường hợp D là trung điểm BC và dùng tính chất đường trung bình của tam giác — khác bản chất vì đi từ một điểm đặc biệt suy ngược, thích hợp để kiểm tra nhanh câu b, d.
a) Như Cách 1, hai cặp cạnh đối song song nên AEDF luôn là hình bình hành Xét riêng D là trung điểm của BC: vì DF\parallelAC nên F là trung điểm của AB (đường thẳng qua trung điểm một cạnh, song song cạnh thứ hai, đi qua trung điểm cạnh còn lại); tương tự E là trung điểm của AC Khi đó DF là đường trung bình của ΔABC ứng với cạnh AC nên DF=21AC; tương tự DE=21AB Vì tam giác cân tại A (AB=AC) nên DF=DE(=21AB), tức hình bình hành AEDF có hai cạnh kề AF=DE và AE=DF bằng nhau, nên là hình thoi — khớp đúng vị trí D là trung điểm BC Với tam giác vuông cân tại A: theo Cách 1 câu c, AEDF luôn là hình chữ nhật; kết hợp thêm D là trung điểm BC như trên cho AEDF là hình thoi, nên AEDF vừa là hình chữ nhật vừa là hình thoi, tức là hình vuông
Vậy cùng kết luận: D là trung điểm của BC thì AEDF là hình thoi (tam giác cân) hoặc hình vuông (tam giác vuông cân).
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: lập tỉ số Thalès một lần rồi dùng chung cho cả bốn câu, tránh phải xét riêng trường hợp đặc biệt như Cách 2.
Đáp số.a) AEDF luôn là hình bình hành. b) D là trung điểm của BC. c) AEDF luôn là hình chữ nhật (với mọi D). d) D là trung điểm của BC.
Sai lầm thường gặp.Ở câu c, nhiều bạn quên rằng kết luận 'hình chữ nhật' đúng với MỌI vị trí của D trên BC (không cần thêm điều kiện gì), rồi vẫn cố tìm một vị trí D đặc biệt như ở câu b — cần phân biệt rõ câu b/d hỏi 'vị trí nào' (có điều kiện ràng buộc) còn câu c chỉ hỏi 'là hình gì' (luôn đúng).
🚀 Mở rộng.Nếu D chạy khắp cạnh BC (không cố định tam giác cân/vuông), hình bình hành AEDF luôn đồng dạng với nhau ở mọi vị trí D theo đúng tỉ lệ BD:DC — đây là ý tưởng dùng để dựng 'họ hình bình hành nội tiếp' một tam giác cho trước, một chủ đề mở rộng thú vị ở bậc THPT.
Bài 12 · Bài 3.31★★★Trang 72— Tứ giác trung điểm của hình chữ nhật
Bài 3.31 (trang 72). Chứng minh rằng các trung điểm của bốn cạnh trong một hình chữ nhật là các đỉnh của một hình thoi.
Kiến thức cần nhớ
Đường trung bình của tam giác song song với cạnh thứ ba và bằng nửa cạnh đó.
Hình chữ nhật có hai đường chéo bằng nhau.
Hình thoi là tứ giác có bốn cạnh bằng nhau (định nghĩa).
🧠 Phân tích tư duy
Mỗi cạnh của tứ giác trung điểm chính là một đường trung bình của một tam giác được tạo bởi đường chéo hình chữ nhật, nên tự động có độ dài bằng nửa đường chéo đó. Vì hình chữ nhật chỉ có MỘT độ dài đường chéo (hai đường chéo bằng nhau) nên cả bốn đường trung bình này đều bằng nhau, cho ngay hình thoi mà không cần đo đạc riêng lẻ.
1Cách 1. Dùng đường trung bình của bốn tam giác tạo bởi một đường chéo
Định hướng. Mỗi cạnh của tứ giác trung điểm là đường trung bình của một trong hai tam giác được đường chéo AC (hoặc BD) chia ra, nên bằng đúng một nửa đường chéo.
Gọi hình chữ nhật là ABCD, gọi M,N,P,Q lần lượt là trung điểm của AB,BC,CD,DA Trong ΔABC: M là trung điểm AB, N là trung điểm BC nên MN là đường trung bình, suy ra MN\parallelAC và MN=21AC Trong ΔACD: P là trung điểm CD, Q là trung điểm DA nên PQ là đường trung bình, suy ra PQ\parallelAC và PQ=21AC Trong ΔBCD: N là trung điểm BC, P là trung điểm CD nên NP là đường trung bình ứng với BD, suy ra NP\parallelBD và NP=21BD Trong ΔABD: Q là trung điểm DA, M là trung điểm AB nên QM là đường trung bình ứng với BD, suy ra QM\parallelBD và QM=21BD Vì ABCD là hình chữ nhật nên AC=BD (hai đường chéo bằng nhau), kết hợp bốn kết quả trên: MN=PQ=21AC và NP=QM=21BD=21AC, suy ra MN=NP=PQ=QM
Vậy tứ giác MNPQ có bốn cạnh bằng nhau nên là hình thoi (định nghĩa).
2Cách 2. Dùng vectơ, đặt A làm gốc
Định hướng. Biểu diễn bốn trung điểm bằng vectơ theo hai cạnh AB, AD rồi tính trực tiếp độ dài bốn cạnh của tứ giác trung điểm — khác bản chất vì dùng đại số vectơ thay cho định lí đường trung bình.
Đặt A làm gốc, AB=u, AD=v với u⊥v (hình chữ nhật), khi đó B=u, C=u+v, D=v M=2A+B=2u, N=2B+C=u+2v, P=2C+D=2u+v, Q=2D+A=2v MN=N−M=2u+2v, QP=P−Q=2u+2v, MQ=Q−M=2v−2u, NP=P−N=2v−2u MN2=2u+v2=41(∣u∣2+∣v∣2) (vì u⋅v=0); tương tự MQ2=41(∣u∣2+∣v∣2), nên MN=MQ Tương tự NP=2v−u=21∣u∣2+∣v∣2=MN, và QP=MN
Vậy cả bốn cạnh MN=NP=PQ=QM=21AB2+AD2 bằng nhau nên MNPQ là hình thoi.
Nhận xét. Cả hai cách đều lộ ra cùng một công thức đẹp: cạnh của hình thoi trung điểm luôn bằng nửa đường chéo của hình chữ nhật gốc, không phụ thuộc tỉ lệ hai cạnh AB, AD.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1 (đường trung bình): không cần dựng hệ vectơ, chỉ áp bốn lần tính chất đường trung bình rồi so sánh với AC=BD, lời giải ngắn và trực quan hơn.
Đáp số.MNPQ (trung điểm các cạnh AB,BC,CD,DA của hình chữ nhật ABCD) là hình thoi, với MN=NP=PQ=QM=21AC=21BD.
Sai lầm thường gặp.Có bạn chỉ chứng minh MN=PQ và NP=QM (tức mới dừng ở hình bình hành, vì đó là tính chất đúng với MỌI tứ giác, không riêng hình chữ nhật) mà quên bước dùng AC=BD để có thêm MN=NP — thiếu bước này thì chỉ chứng minh được hình bình hành, chưa đủ để kết luận hình thoi.
🚀 Mở rộng.Tổng quát hơn (định lí Varignon): trung điểm bốn cạnh của MỘT TỨ GIÁC BẤT KÌ luôn tạo thành một hình bình hành với hai cạnh song song và bằng nửa hai đường chéo của tứ giác gốc; hình bình hành đó trở thành hình thoi đúng khi tứ giác gốc có hai đường chéo bằng nhau — hình chữ nhật chỉ là một trường hợp riêng thoả điều kiện này.
Bài 13 · Bài 3.32★★★Trang 72— Tứ giác trung điểm của hình thoi
Bài 3.32 (trang 72). Chứng minh rằng các trung điểm của bốn cạnh trong một hình thoi là các đỉnh của một hình chữ nhật.
Kiến thức cần nhớ
Đường trung bình của tam giác song song với cạnh thứ ba và bằng nửa cạnh đó.
Trong hình thoi, hai đường chéo vuông góc với nhau và là các đường phân giác của các góc trong hình thoi (Định lí 1).
Hình bình hành có một góc vuông là hình chữ nhật.
🧠 Phân tích tư duy
Đây là bài đối ngẫu của Bài 3.31: mỗi cạnh của tứ giác trung điểm vẫn là đường trung bình song song với một đường chéo của hình thoi, nhưng lần này hai đường chéo hình thoi VUÔNG GÓC với nhau (thay vì bằng nhau như hình chữ nhật), nên hai cạnh kề của tứ giác trung điểm thừa hưởng ngay tính vuông góc đó. Cho một góc vuông, đủ để kết luận hình chữ nhật.
1Cách 1. Dùng đường trung bình rồi suy góc vuông từ tính vuông góc của hai đường chéo
Định hướng. Bốn đường trung bình cho ngay hình bình hành (như Bài 3.31); điểm khác biệt duy nhất là hai cạnh kề của nó song song với hai đường chéo VUÔNG GÓC của hình thoi nên cũng vuông góc với nhau.
Gọi hình thoi là ABCD, gọi M,N,P,Q lần lượt là trung điểm của AB,BC,CD,DA Trong ΔABC: MN là đường trung bình nên MN\parallelAC; trong ΔACD: PQ là đường trung bình nên PQ\parallelAC, suy ra MN\parallelPQ Trong ΔBCD: NP là đường trung bình nên NP\parallelBD; trong ΔABD: QM là đường trung bình nên QM\parallelBD, suy ra NP\parallelQM Tứ giác MNPQ có hai cặp cạnh đối song song (MN\parallelPQ, NP\parallelQM) nên là hình bình hành ABCD là hình thoi nên AC⊥BD (Định lí 1); vì MN\parallelAC và NP\parallelBD nên góc giữa MN và NP bằng góc giữa AC và BD, tức MNP=90∘
Vậy hình bình hành MNPQ có một góc vuông (MNP=90∘) nên là hình chữ nhật.
2Cách 2. Dùng vectơ, đặt tâm hình thoi làm gốc và trục theo hai đường chéo
Định hướng. Đặt hai đường chéo vuông góc của hình thoi làm hai trục toạ độ ngay từ đầu để việc kiểm tra góc vuông của tứ giác trung điểm quy về một phép tính tích vô hướng đơn giản — khác bản chất vì dùng toạ độ thay vì định lí đường trung bình cộng dồn góc.
ABCD là hình thoi có hai đường chéo AC⊥BD cắt nhau tại O; đặt O làm gốc, AC nằm trên trục hoành, BD nằm trên trục tung A(−a;0), C(a;0), B(0;b), D(0;−b) (vì O là trung điểm của cả hai đường chéo) M=2A+B=(−2a;2b), N=2B+C=(2a;2b), P=2C+D=(2a;−2b), Q=2D+A=(−2a;−2b) NM=(−a;0), NP=(0;−b), NM⋅NP=(−a)⋅0+0⋅(−b)=0 nên NM⊥NP MN=a, NP=b, PQ=a=MN, QM=b=NP (tính trực tiếp từ toạ độ) nên MNPQ là hình bình hành (cạnh đối bằng nhau) có một góc vuông tại N
VậyMNPQ là hình chữ nhật với hai cạnh MN=PQ=a=21AC và NP=QM=b=21BD.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: tận dụng ngay AC⊥BD đã có sẵn trong hình thoi, không cần dựng lại hệ trục toạ độ như Cách 2.
Đáp số.MNPQ (trung điểm các cạnh của hình thoi ABCD) là hình chữ nhật, với MN=PQ=21AC và NP=QM=21BD.
Sai lầm thường gặp.Có bạn dừng lại ở bước chứng minh MNPQ là hình bình hành rồi kết luận luôn là hình chữ nhật — thiếu hẳn bước mấu chốt dùng AC⊥BD để chỉ ra một góc của MNPQ bằng 90∘; hình bình hành nói chung KHÔNG phải lúc nào cũng là hình chữ nhật.
🚀 Mở rộng.Ghép Bài 3.31 và Bài 3.32: nếu hình gốc VỪA là hình chữ nhật VỪA là hình thoi (tức là hình vuông), tứ giác trung điểm của nó vừa là hình thoi (theo 3.31) vừa là hình chữ nhật (theo 3.32), tức bản thân nó cũng là một hình vuông — có cạnh bằng 22 lần cạnh hình vuông gốc.
Bài 14 · Bài 3.33★★★Trang 72— Tính cạnh hình chữ nhật từ điều kiện vuông góc tại trung điểm một cạnh
Bài 3.33 (trang 72). Cho hình chữ nhật ABCD có chu vi bằng 36 cm. Gọi M là trung điểm của cạnh BC. Biết rằng MA⊥MD. Tính độ dài các cạnh của hình chữ nhật ABCD (H.3.56).
Kiến thức cần nhớ
Trong tam giác vuông, đường trung tuyến ứng với cạnh huyền bằng nửa cạnh huyền (và ngược lại).
Định lí Pythagore.
Chu vi hình chữ nhật bằng hai lần tổng hai cạnh kề.
🧠 Phân tích tư duy
MA⊥MD tại trung điểm M của BC là dấu hiệu để nghĩ tới đường trung tuyến ứng với cạnh huyền của một tam giác vuông (đường trung tuyến bằng nửa cạnh huyền). Ở đây đường trung tuyến đó chính là cạnh AB (hay DC) của hình chữ nhật, nối liền hai đại lượng AB và BC bằng một phương trình, kết hợp với chu vi 36 cm sẽ ra hệ hai phương trình hai ẩn.
1Cách 1. Dùng tam giác vuông và đường trung tuyến ứng với cạnh huyền
Định hướng. Ghép ΔABM và ΔDCM vuông tại B, C để nhận ra AM, DM là hai cạnh huyền; điều kiện MA⊥MD tại trung điểm gợi ngay đường trung tuyến ứng với cạnh huyền của một tam giác vuông thứ ba ẩn bên trong.
Đặt AB=DC=x (cm), BC=AD=2m (cm) với m=BM=MC (vì M là trung điểm BC) Gọi chu vi hình chữ nhật là 36 cm nên 2(x+2m)=36, tức x+2m=18 (1) ΔABM vuông tại B (góc của hình chữ nhật) nên AM2=AB2+BM2=x2+m2; tương tự ΔDCM vuông tại C nên DM2=DC2+CM2=x2+m2 Xét ΔAMD vuông tại M (giả thiết MA⊥MD): theo Pythagore, AD2=AM2+DM2=2(x2+m2) Mà AD=2m nên (2m)2=2(x2+m2), tức 4m2=2x2+2m2, suy ra 2m2=2x2, hay m=x (vì m,x đều dương) (2) Thay (2) vào (1): x+2x=18, tức 3x=18, suy ra x=6; khi đó m=6 nên BC=2m=12
VậyAB=DC=6 cm và BC=AD=12 cm.
2Cách 2. Dùng toạ độ, đặt B làm gốc
Định hướng. Đặt hệ trục tại B với hai cạnh hình chữ nhật làm hai trục, biến điều kiện MA⊥MD thành một phương trình tích vô hướng — khác bản chất vì dùng đại số toạ độ thay cho tam giác vuông và Pythagore tổng hợp.
Đặt B(0;0), C(b;0), A(0;a), D(b;a) với a=AB=DC, b=BC=AD; khi đó M là trung điểm BC nên M(2b;0) Chu vi 36 cm cho 2(a+b)=36, tức a+b=18 (1) MA=(−2b;a), MD=(2b;a) MA⊥MD⇔MA⋅MD=0⇔−4b2+a2=0⇔a2=4b2⇔a=2b (vì a,b đều dương) (2) Thay (2) vào (1): 2b+b=18, tức 23b=18, suy ra b=12; khi đó a=212=6
VậyAB=DC=a=6 cm và BC=AD=b=12 cm.
Nhận xét. Cả hai cách đều dẫn tới cùng hệ thức mấu chốt AB=21BC — nghĩa là hình chữ nhật ABCD có chiều dài gấp đôi chiều rộng; Cách 2 cho thấy điều này nhanh hơn qua một phép tích vô hướng duy nhất, còn Cách 1 làm rõ bản chất hình học bằng tam giác vuông và cạnh huyền.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần một tam giác vuông AMD tại M và Pythagore, không cần thiết lập hệ trục toạ độ như Cách 2, phù hợp trình bày tự luận hình học lớp 8.
Đáp số.AB=DC=6 cm; BC=AD=12 cm.
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn viết nhầm AD2=AM2+DM2 thành AM=DM=21AD (nhầm với tính chất trung tuyến ứng với cạnh huyền của chính ΔAMD) trong khi M không phải trung điểm của AD — cần phân biệt rõ M là trung điểm của BC, còn tam giác vuông tại M là ΔAMD với AD mới là cạnh huyền.
🚀 Mở rộng.Kết quả AB=21BC (tỉ lệ 1:2) chính là điều kiện để hai tam giác vuông cân ABM và DCM có góc ở đáy đúng 45∘; nếu đổi giả thiết 'chu vi 36 cm' thành 'diện tích S cho trước', bài toán vẫn giữ nguyên tỉ lệ AB:BC=1:2 và chỉ cần giải lại phương trình diện tích ab=S với a=2b.