Bài 1 · Bài 4.7★★Trang 50— Tính độ dài cạnh nhờ đường trung bình thuận và đảo (hai tam giác liên tiếp)
Bài 4.7 (trang 50). Tìm độ dài x, y trong hình vẽ dưới đây. a) Tam giác ABC có M là trung điểm AB với MA=MB=3, N là trung điểm AC với NA=NC=4,5, BC=10, MN=x. b) Tam giác MNP có I là trung điểm PN với PI=IN=4, H thuộc PM, MNP=HIN=90∘ (tức HI⊥PN và MN⊥PN), HP=5, HM=y.
Kiến thức cần nhớ
Đường trung bình của tam giác song song với cạnh thứ ba và bằng nửa cạnh đó (Định lí 1).
Đường thẳng qua trung điểm một cạnh và song song với cạnh thứ hai thì đi qua trung điểm cạnh thứ ba (Chú ý).
🧠 Phân tích tư duy
Ở hình a), M, N là trung điểm hai cạnh AB, AC — dấu hiệu của đường trung bình thuận, cho ngay x=MN=21BC. Ở hình b), I là trung điểm PN và HI∥MN (cả hai cùng vuông góc PN) — dấu hiệu của đường trung bình ĐẢO: H phải là trung điểm PM, nên y=HM=HP. Bẫy của đề là ở hình b) dễ tưởng phải tính HM qua độ dài MN=x vừa tìm ở câu a), trong khi thực chất HM chỉ phụ thuộc HP đã cho sẵn (nhờ tính chất trung điểm).
1Cách 1. Đường trung bình thuận cho x, đường trung bình đảo cho y
Định hướng. Hình a) áp dụng thẳng Định lí 1; hình b) dùng Chú ý để chỉ ra H là trung điểm PM trước khi kết luận y.
Hình a): M, N là trung điểm AB, AC nên MN là đường trung bình của tam giác ABC x=MN=21BC=21⋅10=5 Hình b): MN⊥PN và HI⊥PN nên HI∥MN I là trung điểm PN và HI∥MN nên H là trung điểm PM (Chú ý) y=HM=HP=5
Vậyx=5 và y=5.
2Cách 2. Toạ độ hoá cả hai hình
Định hướng. Gắn hệ trục tại đỉnh góc vuông của mỗi hình để tính toạ độ các điểm rồi so sánh bằng công thức khoảng cách hoặc trung điểm.
Hình a): MN=21AC−21AB=21BC nên MN=21BC=5=x Hình b): chọn N(0;0), P(8;0) (vì PN=PI+IN=8), M(0;m) (vì MN⊥PN) I là trung điểm PN: I(4;0); H có cùng hoành độ với I (vì HI⊥PN): H(4;h) H thuộc đoạn PM: H=P+t(M−P)=(8−8t;tm), cho hoành độ bằng 4: 8−8t=4⇒t=21 Vậy H ứng với t=21 trên PM, tức H là trung điểm PM, nên HM=HP=5=y
Vậyx=5, y=5, khớp với Cách 1.
Nhận xét. Cách 2 cho thấy rõ vì sao t=21 (tức H là trung điểm) mà không cần vẽ hình để "nhìn thấy" điều đó.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: hình a) áp dụng thẳng Định lí 1, hình b) gọi tên Chú ý (đường trung bình đảo), không cần toạ độ hoá.
Đáp số.x=5; y=5.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp ở hình b) là tính y=HM bằng cách trừ HP cho một nửa MN (nhầm lẫn hai tam giác khác nhau); thực chất HM=HP đơn giản vì H là trung điểm của PM, không liên quan gì đến độ dài MN của tam giác ABC ở câu a).
🚀 Mở rộng.Nếu đổi HP thành một số khác (không phải 5) thì y vẫn luôn bằng đúng HP đó, vì bản chất bài toán chỉ là xác nhận H là trung điểm PM — số đo HP cho sẵn quyết định hoàn toàn đáp số y.
Bài 2 · Bài 4.8★★Trang 50— Chứng minh tứ giác tạo bởi ba trung điểm của tam giác là hình bình hành
Bài 4.8 (trang 50). Cho tam giác DEF. Gọi H, K, I lần lượt là các trung điểm của DE, DF và EF. Chứng minh rằng tứ giác HKIE là hình bình hành.
Kiến thức cần nhớ
Đường trung bình của tam giác song song với cạnh thứ ba và bằng nửa cạnh đó (Định lí 1).
Tứ giác có một cặp cạnh đối song song và bằng nhau là hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho H, K là trung điểm DE, DF — dấu hiệu để có HK là đường trung bình song song và bằng nửa cạnh EF; còn I là trung điểm chính EF nên đoạn EI cũng bằng nửa EF và nằm ngay trên đường thẳng EF. Hai đoạn HK, EI cùng bằng nửa EF và cùng phương với EF chính là chìa khoá để ghép thành một cặp cạnh đối song song và bằng nhau của tứ giác HKIE.
1Cách 1. Dùng đường trung bình HK rồi so sánh với EI
Định hướng. Chứng minh HK∥EF và HK=21EF, rồi so sánh với EI=21EF đã có sẵn từ giả thiết I là trung điểm EF.
H, K là trung điểm DE, DF nên HK là đường trung bình của tam giác DEF HK∥EF, mà I∈EF nên HK∥EI HK=21EF (Định lí 1) I là trung điểm EF nên EI=21EF HK=EI
Vậy tứ giác HKIE có HK∥EI và HK=EI nên HKIE là hình bình hành.
2Cách 2. Toạ độ hoá bằng vectơ
Định hướng. Biểu diễn H, K, I theo D, E, F bằng vectơ trung điểm rồi so sánh trực tiếp HK và EI.
HK=21DF−21DE=21EF EI=21EF (I là trung điểm EF) HK=EI
VậyHK=EI (cùng hướng, cùng độ dài) nên tứ giác HKIE là hình bình hành.
3Cách 3. Dùng hai đường trung bình HK và KI cùng lúc (không cần điểm E làm mốc)
Định hướng. Ngoài HK, đoạn KI (nối trung điểm DF và trung điểm EF) cũng là một đường trung bình của tam giác DEF, song song với cạnh DE; kết hợp cả hai đường trung bình để suy ra hai cặp cạnh đối song song.
K, I là trung điểm DF, EF nên KI là đường trung bình của tam giác DEF KI∥DE, mà H∈DE nên KI∥HE Theo Cách 1: HK∥EI
Vậy tứ giác HKIE có hai cặp cạnh đối song song (HK∥EI và KI∥HE) nên là hình bình hành (dấu hiệu hai cặp cạnh đối song song).
Nhận xét. Cách 3 dùng dấu hiệu "hai cặp cạnh đối song song" thay vì "một cặp cạnh đối song song và bằng nhau" ở Cách 1, không cần so sánh độ dài.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần một đường trung bình HK rồi so sánh với EI đã có sẵn từ giả thiết, ngắn hơn Cách 3 (phải dựng thêm đường trung bình KI).
Đáp số.HKIE là hình bình hành.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là quên thứ tự đỉnh của tứ giác, xét nhầm cặp cạnh "đối" của HKIE: cạnh đối của HK trong tứ giác H,K,I,E (đi theo đúng thứ tự) là EI chứ không phải KI; nếu ghép nhầm cặp cạnh sẽ so sánh sai và không ra kết luận đúng.
🚀 Mở rộng.Với cùng tam giác DEF, tứ giác HFIK (ghép H với đỉnh F thay vì I) và các hoán vị tương tự cũng đều là hình bình hành — đây chính là kết quả tổng quát: ba đường trung bình luôn chia tam giác thành bốn tam giác bằng nhau, và mọi tứ giác ghép từ hai trung điểm kề với một đỉnh gốc đều là hình bình hành.
Bài 3 · Bài 4.9★★★Trang 50— Dùng đường trung bình của tam giác gốc và tam giác tạo bởi trọng tâm để chứng minh hai đoạn thẳng bằng nhau
Bài 4.9 (trang 50). Cho tam giác ABC, các đường trung tuyến BD, CE cắt nhau tại G. Gọi I, K theo thứ tự là trung điểm của GB, GC. Chứng minh rằng EI=DK.
Kiến thức cần nhớ
Đường trung bình của tam giác song song với cạnh thứ ba và bằng nửa cạnh đó (Định lí 1).
Tứ giác có một cặp cạnh đối song song và bằng nhau là hình bình hành; trong hình bình hành các cặp cạnh đối bằng nhau.
Trọng tâm chia mỗi đường trung tuyến theo tỉ số 2:1 tính từ đỉnh.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho D, E là trung điểm AC, AB (do BD, CE là trung tuyến) — dấu hiệu để có DE là đường trung bình của tam giác ABC, song song và bằng nửa BC. Đề còn cho I, K là trung điểm GB, GC với G là giao điểm hai trung tuyến (trọng tâm) — dấu hiệu để nhận ra IK cũng là một đường trung bình, nhưng của tam giác NHỎ HƠN GBC, cũng song song và bằng nửa BC. Hai đường trung bình DE, IK cùng song song và bằng nhau với BC chính là chìa khoá để ghép thành hình bình hành.
1Cách 1. Dùng đường trung bình của tam giác ABC và của tam giác GBC
Định hướng. Cả DE (của tam giác ABC) và IK (của tam giác GBC) đều là đường trung bình ứng với CÙNG cạnh BC, nên song song và bằng nhau; từ đó DEIK (hoặc DEKI đúng thứ tự) là hình bình hành.
D, E lần lượt là trung điểm AC, AB (BD, CE là trung tuyến) DE là đường trung bình của tam giác ABC: DE∥BC, DE=21BC I, K lần lượt là trung điểm GB, GC IK là đường trung bình của tam giác GBC: IK∥BC, IK=21BC DE∥BC và IK∥BC nên DE∥IK; lại có DE=IK(=21BC) Tứ giác DEIK có cặp cạnh đối DE, IK song song và bằng nhau nên là hình bình hành
VậyDEIK là hình bình hành, suy ra cặp cạnh đối còn lại bằng nhau: EI=DK.
2Cách 2. Dùng tỉ số trọng tâm để chỉ ra G là trung điểm chung của ID và KE
Định hướng.G chia trung tuyến theo tỉ số 2:1; tính toán tỉ số đó cho thấy G vừa là trung điểm của ID vừa là trung điểm của KE, nên hai đường chéo ID, KE của tứ giác IDKE (hay IEDK tuỳ thứ tự) bằng nhau chung một trung điểm.
G là trọng tâm nên BG=2GD và CG=2GE (tỉ số 2:1 từ đỉnh) I là trung điểm GB nên GI=21GB=21⋅2GD=GD K là trung điểm GC nên GK=21GC=21⋅2GE=GE I, G, D thẳng hàng (cùng trên trung tuyến BD) và GI=GD nên G là trung điểm ID K, G, E thẳng hàng (cùng trên trung tuyến CE) và GK=GE nên G là trung điểm KE Hai đoạn ID và KE có chung trung điểm G nên tứ giác IEDK (lấy ID, KE làm hai đường chéo) là hình bình hành
VậyIEDK là hình bình hành, suy ra cặp cạnh đối EI và DK bằng nhau.
Nhận xét. Cách 2 không cần dùng tới đường trung bình của tam giác GBC như Cách 1, mà đi thẳng vào tỉ số trọng tâm.
3Cách 3. Toạ độ hoá bằng vectơ
Định hướng. Đặt A làm gốc, biểu diễn mọi điểm theo AB, AC rồi tính trực tiếp độ dài EI, DK.
VậyEI=DK nên EI=DK (và hai đoạn còn song song với nhau).
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: dùng hai đường trung bình song song cùng một cạnh BC, không cần nhớ tỉ số trọng tâm 2:1 như Cách 2.
Đáp số.EI=DK.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là chỉ ra DE=IK rồi kết luận ngay EI=DK mà không lập luận qua bước trung gian "DEIK là hình bình hành" — hai cạnh DE, IK bằng nhau chỉ là MỘT CẶP cạnh đối, còn EI, DK là CẶP CẠNH ĐỐI CÒN LẠI, phải qua tính chất hình bình hành mới suy ra được, không được suy trực tiếp.
🚀 Mở rộng.Cùng lập luận này cho thấy DK và EI không chỉ bằng nhau mà còn song song với nhau (vì là hai cạnh đối của cùng một hình bình hành) — mở rộng tự nhiên là chứng minh luôn DK∥EI∥ với đường trung bình thứ ba nối trung điểm DE và trung điểm IK.
Bài 4 · Bài 4.10★★★Trang 50— Nhận biết hình thoi tạo bởi trung điểm bốn cạnh của một hình chữ nhật
Bài 4.10 (trang 50). Cho hình chữ nhật ABCD. Gọi D′, E, F, G lần lượt là trung điểm các cạnh AB, BC, CD, DA. Tứ giác D′EFG là hình gì? Vì sao?
Kiến thức cần nhớ
Đường trung bình của tam giác song song với cạnh thứ ba và bằng nửa cạnh đó (Định lí 1).
Hai đường chéo của hình chữ nhật bằng nhau.
Hình bình hành có hai cạnh kề bằng nhau (hoặc hai đường chéo vuông góc) là hình thoi.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho D′, E là trung điểm AB, BC và F, G là trung điểm CD, DA — dấu hiệu để nhận ra D′E, GF đều là đường trung bình của hai tam giác ABC, ADC cùng song song và bằng nửa đường chéo AC; tương tự D′G, EF đều song song và bằng nửa đường chéo BD. Vì ABCD là hình chữ nhật nên hai đường chéo AC, BD BẰNG NHAU — đúng dấu hiệu để bốn cạnh của tứ giác D′EFG bằng nhau, tức là một hình thoi chứ không chỉ dừng ở hình bình hành.
1Cách 1. Dùng bốn đường trung bình của hai tam giác ứng với hai đường chéo bằng nhau
Định hướng. Ghép D′E, GF thành một cặp cạnh đối song song và bằng nửa AC; ghép D′G, EF thành cặp cạnh đối kia song song và bằng nửa BD; rồi dùng AC=BD để suy ra hình thoi.
Xét tam giác ABC có D′, E là trung điểm AB, BC: D′E là đường trung bình, D′E∥AC, D′E=21AC Xét tam giác ACD có G, F là trung điểm AD, CD: GF là đường trung bình, GF∥AC, GF=21AC D′E∥GF và D′E=GF nên tứ giác D′EFG là hình bình hành Xét tam giác ABD có D′, G là trung điểm AB, AD: D′G là đường trung bình, D′G=21BD ABCD là hình chữ nhật nên AC=BD (hai đường chéo bằng nhau) D′E=21AC=21BD=D′G
VậyD′EFG là hình bình hành có hai cạnh kề D′E=D′G bằng nhau nên D′EFG là hình thoi.
2Cách 2. Toạ độ hoá, tính bốn cạnh bằng công thức khoảng cách
Định hướng. Đặt hệ trục tại A theo hai cạnh hình chữ nhật rồi tính toạ độ bốn trung điểm, so sánh trực tiếp bốn cạnh bằng công thức khoảng cách.
Đặt A(0;0), B(2a;0), C(2a;2b), D(0;2b) D′ là trung điểm AB: D′(a;0); E là trung điểm BC: E(2a;b) F là trung điểm CD: F(a;2b); G là trung điểm DA: G(0;b) D′E=a2+b2; EF=a2+b2; FG=a2+b2; GD′=a2+b2
Vậy cả bốn cạnh D′E=EF=FG=GD′=a2+b2 nên D′EFG là hình thoi.
Nhận xét. Cách 2 tính thẳng ra công thức cạnh hình thoi theo hai kích thước a, b của hình chữ nhật, trực quan hơn để kiểm tra số.
3Cách 3. Dùng tính chất trục đối xứng của hình chữ nhật
Định hướng. Hình chữ nhật có hai trục đối xứng là hai đường trung trực của các cặp cạnh đối; bốn trung điểm D′, E, F, G chính là chân của hai trục đó, nên D′EFG nhận cả hai trục này làm trục đối xứng.
Đường thẳng D′F (nối trung điểm AB, CD) là trục đối xứng của hình chữ nhật ABCD, vuông góc với AB, CD và đi qua trung điểm BC, AD... nên đối xứng qua D′F biến E thành G Tương tự, đường thẳng EG (nối trung điểm BC, AD) là trục đối xứng còn lại, đối xứng qua EG biến D′ thành F Tứ giác nhận cả hai đường chéo làm trục đối xứng và các đường chéo đó vuông góc với nhau (vì D′F∥AD, EG∥AB, mà AD⊥AB)
VậyD′EFG là hình bình hành có hai đường chéo vuông góc nên là hình thoi.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần bốn đường trung bình quen thuộc và tính chất "hai đường chéo hình chữ nhật bằng nhau" đã học ở Bài 13, không cần toạ độ hoá.
Đáp số.Tứ giác D′EFG là hình thoi.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là dừng lại ở kết luận "D′EFG là hình bình hành" mà quên khai thác thêm giả thiết ABCD là HÌNH CHỮ NHẬT (tức AC=BD) để nâng cấp lên hình thoi; nếu ABCD chỉ là hình bình hành bất kì (không phải hình chữ nhật) thì D′EFG nói chung chỉ dừng ở hình bình hành, không chắc là hình thoi.
🚀 Mở rộng.Nếu ABCD là hình vuông (vừa có bốn cạnh bằng nhau vừa có bốn góc vuông, hai đường chéo vừa bằng nhau vừa vuông góc) thì tứ giác trung điểm D′EFG sẽ trở thành một hình vuông nhỏ hơn — đây là mở rộng tự nhiên của bài toán này.