Chương III. Tứ giác

Bài tập cuối chương III

Sách bài tập Toán 8 — Kết nối tri thức, tập 1 · 9 bài tập, mỗi câu ít nhất 2 cách giải.

Bài 1 · Câu 1★★Trang 43— Nhận biết đúng/sai các mệnh đề về dấu hiệu hình thoi
Câu 1 (trang 43). Trong các câu sau, câu nào đúng?
A. Tứ giác có các góc đối bằng nhau là hình thoi.
B. Tứ giác có hai đường chéo vuông góc là hình thoi.
C. Hình thang có các đường chéo bằng nhau là hình thoi.
D. Hình bình hành có các đường chéo vuông góc là hình thoi.
Kiến thức cần nhớ
  • Dấu hiệu nhận biết hình thoi: hình bình hành có hai đường chéo vuông góc là hình thoi.
  • Dấu hiệu nhận biết hình thoi: hình bình hành có một đường chéo là phân giác của một góc là hình thoi.
  • Hình thang có các đường chéo bằng nhau là hình thang cân, không phải hình thoi.
🧠 Phân tích tư duy
Cả bốn phương án đều gán một điều kiện cho tứ giác rồi kết luận là hình thoi — dấu hiệu để so trực tiếp với bốn dấu hiệu nhận biết hình thoi đã học. Chỉ phương án khớp đúng dấu hiệu gốc (hình bình hành có hai đường chéo vuông góc) mới đúng; ba phương án còn lại thiếu điều kiện 'là hình bình hành' nên chỉ cần một phản ví dụ (hình thang cân, hình diều) là bác bỏ được.
1Cách 1. Đối chiếu trực tiếp với dấu hiệu nhận biết hình thoi

Định hướng. So từng phương án với đúng dấu hiệu nhận biết hình thoi; phương án thiếu điều kiện 'hình bình hành' thì tìm phản ví dụ bác bỏ.

A: tứ giác có các cặp góc đối bằng nhau chỉ là hình bình hành (dấu hiệu 4 của hình bình hành), chưa chắc có bốn cạnh bằng nhau — A sai
B: tứ giác có hai đường chéo vuông góc mà không phải hình bình hành (chẳng hạn hình diều với hai đường chéo vuông góc nhưng bốn cạnh không bằng nhau từng đôi) chưa chắc là hình thoi — B sai
C: hình thang có hai đường chéo bằng nhau là hình thang cân, không phải hình thoi (trừ trường hợp đặc biệt suy biến) — C sai
D: đúng dấu hiệu 4 của hình thoi (hình bình hành có hai đường chéo vuông góc là hình thoi) — D đúng

Vậy câu đúng là D.

2Cách 2. Dựng phản ví dụ toạ độ cho A, B, C

Định hướng. Thay vì chỉ gọi tên hình phản ví dụ, dựng toạ độ cụ thể để kiểm chứng bằng số cho A, B, C; còn D kiểm bằng chính định nghĩa hình thoi.

A: hình chữ nhật , , , có bốn góc bằng (các góc đối bằng nhau) nhưng , không phải hình thoi — A sai
B: hình diều , , , có hai đường chéo (trên trục tung) và (trên trục hoành) vuông góc, nhưng , không phải hình thoi — B sai
C: hình thang cân , , , có (hai đường chéo bằng nhau) nhưng chỉ là hình thang cân, không phải hình thoi — C sai
D: hình bình hành có hai đường chéo vuông góc luôn có bốn cạnh bằng nhau (vì đường chéo vừa là trung trực vừa là trục đối xứng của mỗi cạnh) nên đúng là hình thoi — D đúng

Vậy câu đúng là D.

3Cách 3. Loại trừ bằng cách đếm điều kiện còn thiếu

Định hướng. Nhận xét chung: muốn khẳng định một tứ giác là hình thoi, bắt buộc trước tiên nó phải là hình bình hành — kiểm tra xem mỗi phương án có đủ giả thiết này không.

A chỉ cho góc đối bằng nhau (mới đủ để là hình bình hành, chưa nói gì về cạnh) — thiếu điều kiện cạnh, sai
B chỉ cho hai đường chéo vuông góc mà không nói chúng có cắt nhau tại trung điểm mỗi đường hay không (tức chưa chắc là hình bình hành) — sai
C cho hình thang (chỉ một cặp cạnh song song) với đường chéo bằng nhau — đây là dấu hiệu của hình thang CÂN chứ không phải hình bình hành — sai
D cho sẵn 'hình bình hành' (đã đủ điều kiện nền) cộng thêm 'hai đường chéo vuông góc' — đúng nguyên văn dấu hiệu nhận biết hình thoi — đúng

Vậy câu đúng là D.

Nhận xét. Mẹo nhanh cho dạng bài này: kiểm tra trước xem giả thiết có nói tứ giác là hình bình hành hay không, ba phương án sai trong bài đều thiếu đúng điều kiện nền đó.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 3: chỉ cần một câu hỏi 'giả thiết có cho hình bình hành không?' là loại được ngay ba phương án sai mà không cần dựng phản ví dụ cụ thể như Cách 2.
Đáp số. Câu đúng là D.
Sai lầm thường gặp. Nhiều bạn nhầm 'hai đường chéo vuông góc' (phương án B) là đủ để kết luận hình thoi mà quên tứ giác đó phải là hình bình hành trước; hình diều là phản ví dụ kinh điển có đường chéo vuông góc nhưng không phải hình thoi.
🚀 Mở rộng. Nếu đổi phương án D thành 'hình chữ nhật có hai đường chéo vuông góc' thì kết luận sẽ là hình vuông (vì hình chữ nhật vốn đã có hai đường chéo bằng nhau, thêm vuông góc nữa thì vừa là hình chữ nhật vừa là hình thoi).
Bài 2 · Câu 2★Trang 43— Nhận biết đúng/sai tính chất đường chéo của hình thoi và hình thang
Câu 2 (trang 43). Trong các câu sau, câu nào đúng?
A. Trong hình thoi, hai đường chéo bằng nhau.
B. Trong hình thoi, hai đường chéo vuông góc.
C. Trong hình thang, hai đường chéo bằng nhau.
D. Trong hình thang, hai đường chéo song song.
Kiến thức cần nhớ
  • Tính chất hình thoi: hai đường chéo vuông góc với nhau và là các đường phân giác của các góc.
  • Tính chất hình chữ nhật: hai đường chéo bằng nhau.
  • Hình thang bất kì không có tính chất cố định về độ dài hay phương của hai đường chéo (trừ trường hợp cân).
🧠 Phân tích tư duy
Bài hỏi về TÍNH CHẤT (chiều ngược của dấu hiệu nhận biết) nên cần nhớ đúng tính chất đường chéo của hình thoi (vuông góc, là phân giác) và của hình thang (không có tính chất chung về đường chéo, trừ hình thang cân). Bẫy ở việc nhầm hình thoi với hình chữ nhật (đường chéo bằng nhau là của hình chữ nhật, không phải hình thoi).
1Cách 1. Nhắc lại đúng tính chất đã học

Định hướng. Đối chiếu trực tiếp bốn phương án với đúng bảng tính chất hình thoi, hình thang đã học ở Bài 11, Bài 14.

A: hai đường chéo hình thoi vuông góc nhưng không bằng nhau (trừ hình vuông) — A sai
B: đúng tính chất hình thoi — B đúng
C: hình thang thường có hai đường chéo không bằng nhau (chỉ hình thang cân mới có) — C sai
D: hai đường chéo của hình thang luôn cắt nhau (không song song, vì chúng nối các đỉnh không kề của một tứ giác lồi) — D sai

Vậy câu đúng là B.

2Cách 2. Kiểm bằng hình vuông (trường hợp riêng của hình thoi)

Định hướng. Dùng hình vuông — một hình thoi đặc biệt — để kiểm nhanh xem tính chất nào ĐÚNG CHO MỌI hình thoi hay chỉ đúng cho hình vuông.

Hình vuông , , , có hai đường chéo (bằng nhau) và vuông góc (một đường nằm ngang, một đường thẳng đứng)
Đổi bán đường chéo cho lệch nhau: hình thoi , , , có bốn cạnh bằng nhau (, vì mỗi cạnh là cạnh huyền của tam giác vuông với hai cạnh góc vuông và ) nên vẫn là hình thoi
Hai đường chéo của hình thoi này là và , KHÔNG bằng nhau, nhưng vẫn vuông góc với nhau (một đường nằm ngang, một đường thẳng đứng)
Vậy 'vuông góc' đúng cho MỌI hình thoi, còn 'bằng nhau' chỉ đúng riêng cho hình vuông (trường hợp đặc biệt)

Vậy câu đúng là B.

3Cách 3. Suy từ tính chất đối xứng trục của hình thoi

Định hướng. Hình thoi có hai trục đối xứng là chính hai đường chéo của nó — từ tính chất đối xứng suy ra ngay quan hệ vuông góc mà không cần đo đạc.

Vì hình thoi có bốn cạnh bằng nhau nên mỗi đường chéo chia hình thoi thành hai tam giác cân bằng nhau, khiến đường chéo kia trở thành trục đối xứng
Trục đối xứng của một đoạn thẳng (ở đây là đường chéo kia) luôn vuông góc với đoạn thẳng đó tại trung điểm — suy ra hai đường chéo hình thoi vuông góc với nhau — B đúng
Tính đối xứng trục này không đòi hỏi hai đường chéo phải bằng nhau — A sai; hình thang không có tính chất đối xứng như vậy nên C, D đều sai

Vậy câu đúng là B.

Nhận xét. Cách 3 giải thích được TẠI SAO hai đường chéo hình thoi vuông góc (chứ không chỉ thừa nhận), sâu sắc hơn việc chỉ nhắc lại tính chất.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần thuộc đúng bảng tính chất hình thoi và hình thang, không cần dựng toạ độ kiểm chứng như Cách 2.
Đáp số. Câu đúng là B.
Sai lầm thường gặp. Nhiều bạn nhầm tính chất 'hai đường chéo bằng nhau' của hình chữ nhật sang cho hình thoi; hình thoi và hình chữ nhật là hai hình đặc biệt khác nhau của hình bình hành, chỉ hình vuông mới có cả hai tính chất.
🚀 Mở rộng. Một tứ giác vừa có hai đường chéo vuông góc VỪA bằng nhau (và là hình bình hành) thì chắc chắn là hình vuông — đây chính là giao của tính chất hình thoi (vuông góc) và hình chữ nhật (bằng nhau).
Bài 3 · Câu 3★★Trang 43— Nhận biết câu sai trong các dấu hiệu nhận biết hình vuông từ hình chữ nhật
Câu 3 (trang 43). Tìm câu sai trong các câu sau:
A. Hình chữ nhật có hai cạnh kề bằng nhau là hình vuông.
B. Hình chữ nhật có hai đường chéo vuông góc là hình vuông.
C. Hình chữ nhật có một đường chéo là đường phân giác của một góc là hình vuông.
D. Hình chữ nhật có bốn góc vuông là hình vuông.
Kiến thức cần nhớ
  • Hình chữ nhật có hai cạnh kề bằng nhau là hình vuông.
  • Hình chữ nhật có hai đường chéo vuông góc là hình vuông.
  • Hình chữ nhật có một đường chéo là đường phân giác của một góc là hình vuông.
  • Hình chữ nhật vốn đã được định nghĩa là tứ giác có bốn góc vuông — nói lại điều này không thêm thông tin gì mới.
🧠 Phân tích tư duy
Ba phương án A, B, C đều thêm ĐÚNG một điều kiện đặc trưng của hình thoi (cạnh kề bằng nhau, đường chéo vuông góc, đường chéo là phân giác) vào hình chữ nhật có sẵn — khớp hoàn toàn với dấu hiệu nhận biết hình vuông từ hình chữ nhật. Riêng D chỉ lặp lại đúng ĐỊNH NGHĨA hình chữ nhật (bốn góc vuông) mà không thêm điều kiện gì mới, nên không đủ để thành hình vuông — đây chính là câu sai cần tìm.
1Cách 1. Đối chiếu với dấu hiệu nhận biết hình vuông

Định hướng. So từng phương án với ba dấu hiệu nhận biết hình vuông từ hình chữ nhật đã học; phương án nào không thêm điều kiện gì mới thì đó là câu sai.

A: đúng dấu hiệu 1 (hình chữ nhật có hai cạnh kề bằng nhau là hình vuông)
B: đúng dấu hiệu 2 (hình chữ nhật có hai đường chéo vuông góc là hình vuông)
C: đúng dấu hiệu 3 (hình chữ nhật có một đường chéo là phân giác của một góc là hình vuông)
D: 'bốn góc vuông' chính là định nghĩa của hình chữ nhật, không phải điều kiện THÊM; một hình chữ nhật bất kì (không phải hình vuông) vẫn có đủ bốn góc vuông — D sai

Vậy câu sai là D.

2Cách 2. Phản ví dụ cụ thể cho D

Định hướng. Dựng một hình chữ nhật cụ thể không phải hình vuông để bác bỏ D bằng số liệu, đồng thời kiểm A, B, C bằng chính hình vuông mẫu.

Hình chữ nhật , , , có đủ bốn góc vuông (các cạnh đều song song hai trục) nhưng , rõ ràng không phải hình vuông — D sai
Hình vuông , , , : hai cạnh kề (khớp A); hai đường chéo , vuông góc (khớp B, kiểm tích vô hướng ); đường chéo chia góc vuông tại thành hai góc bằng nhau, tức là phân giác (khớp C)

Vậy câu sai là D.

3Cách 3. Đếm số điều kiện độc lập cần để xác định hình vuông

Định hướng. Một hình chữ nhật có hai kích thước độc lập là chiều dài và chiều rộng; muốn thành hình vuông cần thêm ĐÚNG MỘT hệ thức ràng buộc hai kích thước đó bằng nhau — kiểm xem mỗi phương án có tạo ra hệ thức ràng buộc thật sự hay không.

A ràng buộc trực tiếp: chiều dài = chiều rộng — có hệ thức mới, đúng
B, C đều tương đương với việc chiều dài = chiều rộng (vì đường chéo vuông góc hoặc là phân giác chỉ xảy ra khi hai cạnh kề bằng nhau, có thể kiểm bằng lượng giác góc giữa đường chéo và cạnh) — đều có hệ thức mới, đúng
D không đưa ra hệ thức nào giữa chiều dài và chiều rộng (góc vuông là tính chất luôn có sẵn của mọi hình chữ nhật, không phụ thuộc kích thước) — không có hệ thức mới, sai

Vậy câu sai là D.

Nhận xét. Cách đếm 'số hệ thức ràng buộc' là một mẹo nhanh áp dụng được cho nhiều bài trắc nghiệm dạng 'hình X có thêm điều kiện gì thì thành hình Y'.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần nhận ra ngay D chỉ lặp lại định nghĩa hình chữ nhật chứ không thêm điều kiện gì, không cần dựng toạ độ kiểm chứng.
Đáp số. Câu sai là D.
Sai lầm thường gặp. Nhiều bạn đọc câu D thấy 'bốn góc vuông' liền nghĩ đó là điều kiện chặt để thành hình vuông, quên rằng đó vốn dĩ là định nghĩa của hình chữ nhật (hình đã cho sẵn trong đề bài) chứ không phải điều kiện bổ sung.
🚀 Mở rộng. Cùng lối suy luận, nếu đề đổi D thành 'hình bình hành có bốn góc vuông là hình vuông' thì câu đó lại ĐÚNG, vì 'bốn góc vuông' lúc này mới thực sự là điều kiện thêm (nâng hình bình hành lên hình chữ nhật, dù vẫn chưa đủ thành hình vuông nếu thiếu điều kiện cạnh).
Bài 4 · Câu 4★★★★Trang 43— Xác định số mệnh đề sai trong các mệnh đề tổng quát về góc kề cạnh của tứ giác
Câu 4 (trang 43). Cho các câu sau:
a) Tứ giác mà hai góc kề một cạnh tuỳ ý của nó là hai góc bù nhau là một hình bình hành.
b) Tứ giác mà hai góc kề một cạnh tuỳ ý của nó là hai góc bằng nhau là một hình chữ nhật.
c) Tứ giác có một cặp cạnh đối mà mỗi cạnh có hai góc kề nó bằng nhau là một hình thang cân.
Số các câu sai là
A. 0. B. 1. C. 2. D. 3.
Kiến thức cần nhớ
  • Tổng bốn góc của tứ giác bằng 360°.
  • Dấu hiệu nhận biết hình bình hành: các góc đối bằng nhau.
  • Hình chữ nhật là hình bình hành có một góc vuông (hay bốn góc bằng nhau, mỗi góc 90°).
  • Hình thang cân là hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Chữ 'tuỳ ý' ở a), b) có nghĩa là điều kiện phải đúng cho CẢ BỐN cạnh cùng lúc, chứ không phải chỉ một cạnh — dấu hiệu để viết ra bốn phương trình góc (một phương trình cho mỗi cạnh) rồi giải hệ. Ý c) chỉ cho điều kiện ở MỘT cặp cạnh đối, cần lập luận riêng bằng tổng góc trong tứ giác. Bẫy lớn nhất là tưởng chỉ cần đúng cho MỘT cạnh là đủ, trong khi đề yêu cầu đúng cho MỌI cạnh.
1Cách 1. Lập hệ phương trình góc cho từng cạnh

Định hướng. Gọi bốn góc của tứ giác là ; viết bốn phương trình ứng với bốn cạnh rồi giải để tìm quan hệ giữa các góc.

a) Với mọi cạnh, hai góc kề bù nhau: , , ,
Từ phương trình 1 và 2: ; từ phương trình 2 và 3: — các góc đối bằng nhau, đúng dấu hiệu hình bình hành — a) đúng
b) Với mọi cạnh, hai góc kề bằng nhau: (suy ra liên tiếp từ bốn phương trình); kết hợp tổng bốn góc được mỗi góc — tứ giác có bốn góc vuông là hình chữ nhật — b) đúng
c) Giả sử cặp cạnh đối là và : (hai góc kề bằng nhau) và (hai góc kề bằng nhau); đặt , , tổng góc cho , tức
: đây là cặp góc trong cùng phía của và cắt bởi cạnh , bằng nên (tứ giác là hình thang); thêm (hai góc kề đáy bằng nhau) nên hình thang đó là hình thang cân — c) đúng

Vậy cả ba câu a), b), c) đều đúng nên số câu sai là 0.

2Cách 2. Xét từng trường hợp cụ thể để kiểm chứng ngược

Định hướng. Với mỗi mệnh đề, thử một tứ giác cụ thể thoả mãn giả thiết rồi kiểm tra kết luận đúng hay sai bằng số đo góc thật — cách kiểm chứng ngược, khác lối suy luận đại số ở Cách 1.

a) Xét hình thang cân , : kiểm hai góc kề cạnh bên : (bù nhau) nhưng đây chỉ là hình thang cân, KHÔNG phải hình bình hành — vậy nếu chỉ đòi hỏi bù nhau ở MỘT cạnh thì mệnh đề sai, nhưng đề đòi hỏi đúng cho MỌI cạnh (kể cả , , ), mà hình thang cân này không thoả mãn ở cạnh () nên không phải phản ví dụ hợp lệ — thử tìm tứ giác thoả cả bốn cạnh thì luôn dẫn về hình bình hành như Cách 1 — a) đúng
b) Thử hình thang cân bất kì có bốn góc không bằng nhau (ví dụ ): không thoả 'mọi cạnh có hai góc kề bằng nhau' vì cạnh bên có và khác nhau — không phải phản ví dụ hợp lệ; tứ giác duy nhất thoả cả bốn cạnh là tứ giác có bốn góc bằng nhau, tức hình chữ nhật — b) đúng
c) Thử hình thang cân với cặp cạnh đối là hai đáy: đúng là mỗi đáy có hai góc kề bằng nhau ( và ), và kết quả đúng là hình thang cân — c) đúng

Vậy cả ba câu đều đúng, số câu sai là 0.

3Cách 3. Liên hệ với các dấu hiệu đã học

Định hướng. Nhận ra a), b) chính là hai cách phát biểu khác của các dấu hiệu nhận biết hình bình hành và hình chữ nhật đã học trong chương, còn c) liên hệ trực tiếp tới Bài 3.42 (hình thang cân) — dùng lại kết quả đã có thay vì chứng minh từ đầu.

a) Mệnh đề 'hai góc kề mọi cạnh bù nhau' tương đương với 'các góc đối bằng nhau' — đúng là dấu hiệu 4 nhận biết hình bình hành đã học — a) đúng
b) Mệnh đề 'hai góc kề mọi cạnh bằng nhau' buộc cả bốn góc bằng nhau — cùng với tổng cho ngay bốn góc vuông — đúng là dấu hiệu nhận biết hình chữ nhật (ba góc vuông, ở đây còn mạnh hơn với cả bốn góc vuông) — b) đúng
c) Đây đúng là dấu hiệu thứ hai của hình thang cân đã học ở Bài 11 (hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau là hình thang cân), chỉ cần chỉ ra tứ giác đã cho là hình thang trước (qua tổng góc, như Cách 1) — c) đúng

Vậy cả ba câu đều đúng, số câu sai là 0.

Nhận xét. Bài này thực chất kiểm tra xem học sinh có nhận ra ba mệnh đề chỉ là ba cách phát biểu khác của các dấu hiệu đã học hay không.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 3: nhận diện nhanh mỗi mệnh đề trùng với đúng dấu hiệu nào đã học, không cần lập hệ phương trình góc như Cách 1.
Đáp số. Số các câu sai là 0 (chọn phương án A) — cả ba câu a), b), c) đều đúng.
Sai lầm thường gặp. Nhiều bạn chỉ kiểm tra điều kiện ở MỘT cạnh (bỏ qua chữ 'tuỳ ý') rồi tìm được phản ví dụ như hình thang cân, kết luận nhầm mệnh đề sai; thực ra đề đòi hỏi điều kiện đúng cho CẢ BỐN cạnh, và khi đó phản ví dụ hình thang cân không còn thoả mãn giả thiết.
🚀 Mở rộng. Nếu chỉ đòi hỏi điều kiện đúng cho MỘT cạnh (bỏ chữ 'tuỳ ý') thì cả ba mệnh đề đều trở thành sai — chỉ một chữ 'tuỳ ý' đã đổi hẳn ý nghĩa và đáp số của bài toán.
Bài 5 · Bài 3.28★★★★Trang 44— Nhận biết hình bình hành đặc biệt từ hai đường thẳng song song hai cạnh của tam giác
Bài 3.28 (trang 44). Cho tam giác . Với mỗi điểm nằm giữa và , lấy điểm thuộc cạnh , điểm thuộc cạnh sao cho , .
a) Hỏi tứ giác là hình gì?
b) Hỏi ở vị trí nào để tứ giác là một hình thoi?
c) Tam giác phải thoả mãn điều kiện gì để tứ giác là một hình chữ nhật?
d) Khi tam giác thoả mãn điều kiện nói trong câu c, tìm vị trí của để ngắn nhất.
e) Tam giác thoả mãn điều kiện gì và ở vị trí nào trên cạnh để tứ giác là một hình vuông?
ABCMNP
Kiến thức cần nhớ
  • Tứ giác có hai cặp cạnh đối song song là hình bình hành.
  • Hình bình hành có hai cạnh kề bằng nhau là hình thoi; có một góc vuông là hình chữ nhật.
  • Định lí Thalès: đường thẳng song song một cạnh của tam giác định ra trên hai cạnh còn lại các đoạn thẳng tương ứng tỉ lệ.
  • Tính chất đường phân giác: đường phân giác trong của một góc chia cạnh đối diện thành hai đoạn tỉ lệ với hai cạnh kề.
🧠 Phân tích tư duy
và là dấu hiệu để nhận ngay là hình bình hành (một cặp cạnh đối song song, cặp kia cũng song song). Các câu b, c, e hỏi 'khi nào thành hình đặc biệt hơn' nên cần dùng đúng dấu hiệu nâng cấp: hai cạnh kề bằng nhau (thoi), một góc vuông (chữ nhật), cả hai (vuông) — và liên hệ các điều kiện đó với vị trí của qua định lí Thalès.
1Cách 1. Định lí Thalès và tỉ số đoạn thẳng

Định hướng. Từ hai đường song song suy ra là hình bình hành; dùng định lí Thalès tính , theo tỉ số , để tìm điều kiện (hình thoi).

a) (tức ) và (tức ) nên tứ giác có hai cặp cạnh đối song song — là hình bình hành
b) Vì , theo Thalès trong : , suy ra
Vì , theo Thalès: , suy ra
Hình bình hành là hình thoi khi hai cạnh kề , tức , hay — đúng tính chất đường phân giác, nên phải là chân đường phân giác trong của góc trên , tức là tia phân giác của
c) Hình bình hành là hình chữ nhật khi có một góc vuông; góc của tại chính là (vì , ), nên cần , tức tam giác vuông tại
d) Khi , là hình chữ nhật nên hai đường chéo bằng nhau: ; ngắn nhất khi ngắn nhất, mà khoảng cách ngắn nhất từ đến đường thẳng là đường vuông góc, nên phải là chân đường cao hạ từ xuống
e) là hình vuông khi vừa là hình chữ nhật vừa là hình thoi, tức tam giác vuông tại (câu c) và là chân đường phân giác của góc vuông đó (câu b)

Vậy a) hình bình hành; b) là chân đường phân giác của trên ; c) tam giác vuông tại ; d) là chân đường cao từ ; e) tam giác vuông tại và là chân đường phân giác của góc vuông đó.

2Cách 2. Tổng hợp bằng tam giác cân, không dùng tỉ số

Định hướng. Dùng trực tiếp tính chất đường chéo của hình bình hành : hình bình hành là hình thoi khi và chỉ khi một đường chéo là phân giác của góc ở đỉnh — áp dụng ngay cho góc mà không cần tính tỉ số Thalès.

a) Như Cách 1, là hình bình hành (hai cặp cạnh đối song song)
b) Trong hình bình hành, đường chéo chia thành hai tam giác và có chung cạnh ; vì , (cạnh đối hình bình hành), tam giác và bằng nhau (c.c.c) với mọi vị trí , nên khi và chỉ khi tức khi là hình thoi; ngược lại, hình bình hành có một đường chéo là phân giác của góc ở đỉnh thì hai cạnh kề đỉnh đó bằng nhau (đúng dấu hiệu nhận biết hình thoi) — vậy là hình thoi khi và chỉ khi là tia phân giác của , tức là chân đường phân giác trong góc
c) Góc tại đỉnh của hình bình hành chính là của tam giác (vì cạnh nằm trên , cạnh nằm trên ); hình bình hành có một góc vuông là hình chữ nhật, nên cần
d), e) suy luận như Cách 1: đường chéo hình chữ nhật bằng nhau nên ngắn nhất khi là đường cao; hình vuông cần cả hai điều kiện trên

Vậy kết quả khớp hoàn toàn với Cách 1.

3Cách 3. Toạ độ hoá

Định hướng. Đặt toạ độ tổng quát cho tam giác , tham số hoá trên , tính trực tiếp , rồi lập điều kiện đại số cho từng câu — thay lập luận hình học bằng tính toán.

Đặt , , ; với
Vì và nên với sao cho cùng phương ; giải được nên , tức
Vì và nên tương tự , tức
là hình bình hành với , ; là hình thoi khi , tức , ứng với — đúng tính chất phân giác, khớp Cách 1
Góc tại giữa (dọc ) và (dọc ) đúng bằng với mọi , nên điều kiện hình chữ nhật () không phụ thuộc — khớp Cách 1

Vậy kết quả khớp hoàn toàn với hai cách trên.

Nhận xét. Toạ độ hoá cho thấy rõ , luôn xác định bởi cùng một tham số , giải thích trực quan vì sao luôn là hình bình hành với mọi vị trí .

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 2: dùng ngay tính chất đường chéo AM là phân giác góc A, không cần thiết lập tỉ số Thalès như Cách 1 hay toạ độ như Cách 3.
Đáp số. a) Hình bình hành. b) M là chân đường phân giác của góc A trên BC. c) Tam giác ABC vuông tại A. d) M là chân đường cao hạ từ A xuống BC. e) Tam giác ABC vuông tại A và M là chân đường phân giác của góc vuông đó (đường phân giác của góc vuông cũng là đường cao ứng với cạnh huyền khi tam giác vuông cân).
Sai lầm thường gặp. Nhiều bạn nhầm điều kiện hình thoi ở câu b) là 'M là trung điểm BC' (giống điều kiện đường trung bình) thay vì đúng là 'M là chân đường phân giác góc A' — chỉ khi tam giác ABC cân tại A thì hai vị trí này mới trùng nhau.
🚀 Mở rộng. Nếu tam giác ABC đã vuông cân tại A (điều kiện câu c và b cùng thoả mãn khi AM vừa là đường cao vừa là phân giác), thì M chính là trung điểm BC — khi đó ANMP là hình vuông với cạnh bằng nửa cạnh góc vuông.
Bài 6 · Bài 3.29★★★★Trang 44— Chứng minh hệ thức tỉ số đoạn thẳng liên quan trực tâm bằng công thức diện tích tam giác
Bài 3.29 (trang 44). Gọi là giao của ba đường cao , , của tam giác nhọn . Dùng công thức tính diện tích tam giác để chứng minh:
.
Hỏi khi góc của tam giác là góc tù thì công thức đó thay đổi thế nào?
ABCHIJK
Kiến thức cần nhớ
  • Diện tích tam giác bằng nửa tích một cạnh với chiều cao tương ứng.
  • Hai tam giác chung đáy thì tỉ số diện tích bằng tỉ số hai chiều cao tương ứng.
  • Trực tâm của tam giác nhọn nằm trong tam giác; trực tâm của tam giác có một góc tù nằm ngoài tam giác.
🧠 Phân tích tư duy
Cụm 'dùng công thức tính diện tích' là dấu hiệu trực tiếp: vì là chân đường cao từ nên chính là tỉ số chiều cao, cũng chính là tỉ số diện tích hai tam giác và (cùng đáy ). Ba tỉ số trong đề tương ứng với ba tam giác , , chia nhỏ từ — với tam giác nhọn thì nằm trong nên ba diện tích cộng lại vừa đúng bằng diện tích , cho tổng bằng . Khi góc tù, ra ngoài tam giác nên phải cẩn thận dấu khi cộng diện tích.
1Cách 1. Diện tích tổng hợp (đúng theo gợi ý của đề)

Định hướng. Viết mỗi tỉ số dưới dạng tỉ số diện tích hai tam giác chung đáy, rồi cộng ba tỉ số lại bằng cách gộp diện tích.

và có chung đáy , chiều cao tương ứng là và nên
Tương tự, (chung đáy ) và (chung đáy )
Vì tam giác nhọn nên trực tâm nằm TRONG tam giác, do đó ba tam giác , , không chồng lấn và ghép khít lại đúng bằng :
Chia hai vế cho :
Khi góc tù, nằm ngoài tam giác , cụ thể ở phía đối diện với qua ; lúc đó (diện tích lớn nhất trừ đi hai phần kia), nên công thức trở thành

Vậy với tam giác nhọn: ; khi góc tù: .

2Cách 2. Toạ độ hoá tổng quát

Định hướng. Đặt toạ độ với trên trục hoành, tính trực tiếp , , , theo toạ độ đỉnh rồi cộng ba tỉ số bằng đại số — một phép kiểm tra độc lập không dùng diện tích.

Đặt , , với ; vì là chân đường cao từ xuống (trục hoành) nên
Trực tâm có hoành độ bằng (vì nên thẳng đứng qua ); tung độ tính từ điều kiện , giải ra
Với tam giác , , (nhọn): tính được , , và toạ độ , bằng hình chiếu vuông góc; thay số trực tiếp được , và tổng ba tỉ số đúng bằng (kiểm bằng máy tính/sympy)
Với tam giác có góc tù, ví dụ : tính lại toàn bộ theo cùng công thức thì tổng KHÔNG còn bằng mà , khớp Cách 1

Vậy kết quả khớp Cách 1 cho cả hai trường hợp nhọn và tù.

3Cách 3. Toạ độ tỉ cự (liên hệ tang các góc)

Định hướng. Dùng kết quả đã biết: trực tâm có toạ độ tỉ cự (không chuẩn hoá) là đối với tam giác — toạ độ tỉ cự thành phần ứng với đỉnh chính là tỉ số (tỉ số diện tích ).

Với tam giác nhọn, cả đều dương; toạ độ tỉ cự chuẩn hoá của là với
Theo đúng định nghĩa toạ độ tỉ cự, thành phần ứng với đỉnh bằng , tương tự cho ,
Vì ba thành phần toạ độ tỉ cự CHUẨN HOÁ luôn có tổng bằng (theo định nghĩa), nên
Khi góc tù, (vì ) trong khi ; thành phần tỉ cự ứng với trở thành ÂM về mặt đại số, tương ứng với việc nằm khác phía với so với , khiến dấu của số hạng đổi thành trừ trong hệ thức độ dài (không âm)

Vậy và tính chất toạ độ tỉ cự cho một cách giải thích khác vì sao tổng luôn chuẩn hoá về , khớp hai cách trên.

Nhận xét. Cách 3 cho một cái nhìn đại số sâu hơn (qua công thức lượng giác của tam giác) nhưng đòi hỏi biết trước toạ độ tỉ cự của trực tâm.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: đúng theo gợi ý của đề, chỉ cần đổi mỗi tỉ số đoạn thẳng thành tỉ số diện tích hai tam giác chung đáy rồi cộng lại — ngắn gọn và trực quan nhất.
Đáp số. Với tam giác nhọn: HI/AI + HJ/BJ + HK/CK = 1. Khi góc A tù: HI/AI − HJ/BJ − HK/CK = 1 (hai số hạng ứng với hai góc nhọn B, C đổi dấu trừ).
Sai lầm thường gặp. Nhiều bạn khi xét trường hợp góc A tù vẫn giữ nguyên dấu cộng cho cả ba số hạng, quên rằng trực tâm H lúc này nằm NGOÀI tam giác nên tổng diện tích phải trừ chứ không cộng; cần vẽ hình cẩn thận để xác định đúng vị trí H trước khi viết đẳng thức diện tích.
🚀 Mở rộng. Hệ thức này tổng quát hoá thành công thức toạ độ tỉ cự của trực tâm — với tam giác vuông tại A thì không xác định (tiệm cận vô cùng), tương ứng với việc trực tâm trùng đỉnh A, khi đó AI=0 và tỉ số đầu tiên không còn nghĩa.
Bài 7 · Bài 3.30★★★Trang 44— Đếm số đường chéo của đa giác bằng lí luận tổ hợp
Bài 3.30 (trang 44). Khái niệm tam giác, tứ giác có thể mở rộng thành khái niệm -giác ( là số tự nhiên lớn hơn ) như sau: -giác là hình tạo bởi đoạn thẳng (gọi là cạnh của -giác) , , …, , (các điểm gọi là đỉnh của -giác), trong đó không có ba đỉnh nào cùng nằm trên một đường thẳng và hình nằm về một phía đối với mỗi đường thẳng chứa một cạnh. Khi , -giác còn được gọi lần lượt là tam giác, tứ giác, ngũ giác, lục giác, thất giác, bát giác. Hai đỉnh của -giác gọi là kề nhau nếu chúng là hai đỉnh của một cạnh của -giác. Đoạn thẳng nối hai đỉnh không kề nhau của -giác gọi là một đường chéo của -giác.
a) Chứng minh qua mỗi đỉnh của -giác, có đường chéo của -giác. Từ đó suy ra -giác có đường chéo.
b) Hãy vẽ tất cả các đường chéo của một ngũ giác ().
A0A1A2A3A4
Kiến thức cần nhớ
  • Từ một đỉnh của n-giác có thể nối được n−1 đoạn thẳng tới n−1 đỉnh còn lại.
  • Mỗi đường chéo có hai đầu mút nên bị đếm hai lần nếu đếm riêng theo từng đỉnh.
  • Số cách chọn 2 phần tử từ n phần tử là tổ hợp chập 2 của n.
🧠 Phân tích tư duy
Đề định nghĩa đường chéo là đoạn nối hai đỉnh KHÔNG kề nhau — dấu hiệu để đếm bằng phép LOẠI TRỪ: từ một đỉnh có thể nối tới đỉnh còn lại, trừ đi đỉnh kề (hai đầu của hai cạnh chung đỉnh đó) là ra số đường chéo qua đỉnh đó. Nhân với đỉnh rồi chia (vì mỗi đường chéo bị đếm từ cả hai đầu) là kĩ thuật đếm đôi kinh điển.
1Cách 1. Đếm trực tiếp qua mỗi đỉnh

Định hướng. Từ một đỉnh, loại bỏ chính nó và hai đỉnh kề để đếm số đường chéo xuất phát từ đỉnh đó; nhân với đỉnh rồi chia đôi vì mỗi đường chéo có hai đầu.

Xét đỉnh : có thể nối với đỉnh còn lại ()
Trong đó, và là hai đỉnh KỀ với (vì và là hai cạnh của -giác), nên hai đoạn , là CẠNH chứ không phải đường chéo
Số đường chéo xuất phát từ là ; vì mọi đỉnh đều có vai trò như nhau nên qua MỖI đỉnh có đúng đường chéo
Có đỉnh, mỗi đỉnh cho đường chéo, nhưng mỗi đường chéo có đầu mút nên bị đếm đúng lần trong tổng
Vậy số đường chéo thực sự là

Vậy -giác có đường chéo.

2Cách 2. Dùng tổ hợp chọn 2 đỉnh rồi trừ cạnh

Định hướng. Đếm tổng số đoạn thẳng nối hai đỉnh bất kì (không phân biệt cạnh hay đường chéo) bằng tổ hợp chập 2, rồi trừ đi đúng cạnh — một hướng đếm hoàn toàn khác Cách 1 (đếm gộp rồi trừ, thay vì đếm riêng từng đỉnh).

Số cách chọn 2 đỉnh bất kì trong đỉnh để nối thành một đoạn thẳng là
Trong số các đoạn thẳng này, có đúng đoạn là CẠNH của -giác (vì -giác có cạnh: )
Các đoạn còn lại đều là đường chéo (nối hai đỉnh không kề nhau), nên số đường chéo là

Vậy số đường chéo là , khớp kết quả Cách 1.

3Cách 3. Quy nạp toán học theo n

Định hướng. Kiểm chứng công thức đúng với (tam giác không có đường chéo), rồi chứng minh khi thêm một đỉnh (từ -giác thành -giác) thì số đường chéo tăng thêm đúng , khớp với hiệu của công thức tại và tại .

Với : công thức cho đường chéo — đúng vì tam giác không có hai đỉnh nào không kề nhau
Giả sử -giác có đúng đường chéo; chèn thêm một đỉnh mới vào giữa hai đỉnh kề nhau bất kì (chẳng hạn giữa và ) để thành -giác: đỉnh mới nối đường chéo được tới đỉnh cũ (mọi đỉnh cũ trừ hai đỉnh kề mới là , )
Đồng thời, cạnh cũ nay không còn là cạnh (vì đã chen vào giữa) mà trở thành một đường chéo MỚI của -giác (do , không còn kề nhau)
Vậy số đường chéo tăng thêm là ; số đường chéo của -giác là , đúng bằng công thức thay bởi

Vậy quy nạp cũng xác nhận công thức .

Nhận xét. Cách 2 (tổ hợp) là cách gọn và chắc chắn nhất; quy nạp tuy đúng nhưng dễ sai sót khi đếm số đường chéo mới sinh ra, nên chỉ dùng để kiểm chứng chéo.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 2: chỉ một dòng C(n,2) − n là ra công thức, ít khả năng sai sót hơn Cách 1 (phải nhân rồi chia đôi) hay Cách 3 (quy nạp dễ đếm nhầm).
Đáp số. Qua mỗi đỉnh có n−3 đường chéo; toàn bộ n-giác có n(n−3)/2 đường chéo. Với ngũ giác (n=5): mỗi đỉnh có 2 đường chéo, tổng cộng 5 đường chéo, tạo thành hình ngôi sao năm cánh bên trong.
Sai lầm thường gặp. Nhiều bạn quên chia ở bước cuối, ghi nhầm đáp số là thay vì , vì quên rằng mỗi đường chéo có hai đầu mút nên đã bị đếm hai lần khi đếm theo từng đỉnh.
🚀 Mở rộng. Với (tứ giác), công thức cho đường chéo — đúng là hai đường chéo quen thuộc , đã học; với thì số đường chéo lên tới , cho thấy số đường chéo tăng rất nhanh theo bậc hai của .
Bài 8 · Bài 3.31★★★Trang 44— Tính tổng các góc trong và tổng các góc ngoài của một đa giác n cạnh
Bài 3.31 (trang 44). Hai cạnh kề nhau của một -giác là hai cạnh có cùng chung một đỉnh của -giác đó; chúng xác định hai tia của một góc gọi là góc tại đỉnh đó của -giác. Mỗi -giác có góc.
a) Kẻ đường chéo của -giác cùng đi qua đỉnh , thì -giác được chia thành bao nhiêu tam giác, từ đó suy ra tổng các góc của -giác bằng .
b) Góc kề bù với một góc tại một đỉnh của -giác gọi là một góc ngoài tại đỉnh đó của -giác. Với mỗi đỉnh của một -giác, xét một góc ngoài tại đỉnh đó của -giác thì hỏi tổng góc ngoài đó bằng bao nhiêu?
Kiến thức cần nhớ
  • Tổng ba góc trong một tam giác bằng 180°.
  • n−3 đường chéo qua một đỉnh chia n-giác thành n−2 tam giác không chồng lấn.
  • Hai góc kề bù có tổng số đo bằng 180°.
🧠 Phân tích tư duy
Ý a) gợi ý sẵn cách làm: đường chéo qua một đỉnh chia -giác thành các tam giác — chỉ cần đếm đúng số tam giác rồi nhân với . Ý b) cho 'góc ngoài' là góc kề bù với góc trong, dấu hiệu để nghĩ tới việc cộng tất cả góc trong và góc ngoài tại mỗi đỉnh rồi trừ đi tổng góc trong đã có ở ý a).
1Cách 1. Chia tam giác từ một đỉnh (theo đúng gợi ý của đề)

Định hướng. Đếm số tam giác tạo ra khi kẻ đường chéo qua , nhân với được tổng góc trong; với góc ngoài, cộng tổng ( mỗi đỉnh) rồi trừ tổng góc trong.

đường chéo qua chia -giác thành đúng tam giác liên tiếp: , , …, (mỗi tam giác có hai cạnh là đường chéo hoặc cạnh của -giác, cạnh còn lại là một cạnh của -giác; số tam giác bằng số đường chéo cộng , tức )
Tổng góc của tam giác này đúng bằng tổng các góc trong của -giác (vì các tam giác ghép khít, không chồng lấn, phủ kín -giác, và các đường chéo chung không tạo thêm góc thừa): tổng góc trong
b) Tại mỗi đỉnh, góc trong và góc ngoài kề bù nên góc trong + góc ngoài ; cộng cho đỉnh: tổng góc trong + tổng góc ngoài
Suy ra tổng góc ngoài

Vậy a) -giác chia thành tam giác, tổng góc trong ; b) tổng góc ngoài luôn bằng .

2Cách 2. Quy nạp toán học theo n

Định hướng. Kiểm chứng công thức đúng khi rồi chứng minh khi thêm một đỉnh (từ -giác lên -giác), tổng góc trong tăng thêm đúng .

Với : tổng góc trong tam giác — đúng định lí tổng ba góc tam giác
Giả sử -giác có tổng góc trong ; chèn thêm đỉnh vào giữa hai đỉnh kề , để được -giác: điều này tương đương với việc "cắt" góc tại đỉnh chung cũ thành phần bởi một tam giác mới gắn thêm vào cạnh cũ
Tam giác mới góp thêm đúng vào tổng góc, đồng thời không làm mất góc nào của -giác cũ (góc tại và chỉ tách thành hai phần cộng lại vẫn giữ nguyên tổng): tổng góc trong của -giác , đúng công thức thay bởi
b) Với tổng góc trong đã có ở mọi , tổng góc ngoài với mọi — không đổi khi tăng

Vậy quy nạp xác nhận tổng góc trong và tổng góc ngoài luôn bằng , khớp Cách 1.

3Cách 3. Đếm 'độ quay' khi đi một vòng quanh đa giác

Định hướng. Hình dung một người đi bộ dọc theo các cạnh của -giác lồi, tại mỗi đỉnh người đó quay một góc đúng bằng góc ngoài của đỉnh ấy; đi hết một vòng thì hướng đi quay đủ đúng một vòng tròn — từ đó suy ra tổng góc ngoài trước, rồi suy ngược ra tổng góc trong.

b) Khi đi dọc cạnh rồi rẽ sang cạnh , hướng đi quay đi đúng một góc bằng góc ngoài tại (góc kề bù với góc trong )
Đi hết cạnh và quay đủ lần (tại đỉnh) thì người đó trở lại đúng vị trí và hướng ban đầu, tức tổng các góc quay đúng bằng một vòng tròn đầy đủ: tổng góc ngoài
a) Tại mỗi đỉnh, góc trong góc ngoài; cộng cho đỉnh: tổng góc trong tổng góc ngoài

Vậy tổng góc ngoài luôn bằng (suy ra trước), từ đó tổng góc trong , khớp Cách 1.

Nhận xét. Cách 3 đi theo chiều ngược với đề (suy tổng góc ngoài trước) nhưng cho một cách hiểu trực quan bằng hình ảnh 'đi một vòng quay đủ 360°', không cần chia tam giác.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: bám sát đúng gợi ý chia tam giác của đề, trình bày ngắn gọn và chắc chắn không sai sót, không cần quy nạp hay hình dung trực quan như hai cách kia.
Đáp số. a) n-giác chia thành n−2 tam giác; tổng các góc trong bằng (n−2)·180°. b) Tổng n góc ngoài (mỗi đỉnh một góc) luôn bằng 360°, không phụ thuộc n.
Sai lầm thường gặp. Nhiều bạn đếm nhầm số tam giác khi kẻ n−3 đường chéo qua một đỉnh, tưởng có n−3 tam giác (nhầm số đường chéo với số tam giác) thay vì đúng n−2 tam giác — cần nhớ n−3 đường chéo CỘNG với 2 cạnh kề đỉnh đó mới đủ chia thành n−2 tam giác liên tiếp.
🚀 Mở rộng. Kết quả 'tổng góc ngoài luôn bằng 360° với mọi n' chính là trường hợp riêng (2 chiều) của định lí Gauss-Bonnet — tổng độ cong khi đi một vòng khép kín quanh biên luôn là một hằng số không phụ thuộc hình dạng cụ thể.
Bài 9 · Bài 3.32★★Trang 44— Tính số đo góc của đa giác đều và nhận diện tứ giác đều
Bài 3.32 (trang 44). -giác gọi là -giác đều nếu tất cả các cạnh của nó bằng nhau và tất cả các góc của nó bằng nhau.
a) Tính số đo mỗi góc của một -giác đều.
b) Tứ giác đều là hình gì?
Kiến thức cần nhớ
  • Tổng các góc trong của n-giác bằng (n−2)·180° (kết quả Bài 3.31).
  • Tứ giác có bốn cạnh bằng nhau là hình thoi; tứ giác có bốn góc bằng nhau (đều vuông) là hình chữ nhật.
  • Hình vừa là hình thoi vừa là hình chữ nhật là hình vuông.
🧠 Phân tích tư duy
Kết quả Bài 3.31 (tổng góc trong bằng ) là dấu hiệu trực tiếp: -giác đều có góc bằng nhau nên chỉ cần chia đều tổng đó cho . Với ý b), thay vào rồi đối chiếu với các dấu hiệu nhận biết tứ giác đặc biệt đã học (bốn cạnh bằng nhau là hình thoi, bốn góc bằng nhau là hình chữ nhật) để nhận ra hình vừa có cả hai tính chất.
1Cách 1. Chia đều tổng góc trong

Định hướng. Dùng ngay kết quả tổng góc trong từ Bài 3.31, chia đều cho góc bằng nhau; với ý b), thay trực tiếp rồi đối chiếu dấu hiệu.

a) Theo kết quả câu a) Bài 3.31, tổng các góc của -giác bằng
Vì -giác đều có góc bằng nhau nên số đo mỗi góc là
b) Với (tứ giác đều): mỗi góc bằng , tức tứ giác đều có bốn góc đều bằng (tứ giác có bốn góc bằng nhau là hình chữ nhật); đồng thời theo định nghĩa, tứ giác đều còn có bốn cạnh bằng nhau (tứ giác có bốn cạnh bằng nhau là hình thoi)
Tứ giác vừa là hình chữ nhật (bốn góc vuông) vừa là hình thoi (bốn cạnh bằng nhau) chính là hình vuông

Vậy a) mỗi góc của n-giác đều bằng ; b) tứ giác đều là hình vuông.

2Cách 2. Dùng góc ngoài đều nhau

Định hướng. Dùng kết quả tổng góc ngoài luôn bằng (Bài 3.31b) thay vì tổng góc trong; vì -giác đều có góc ngoài bằng nhau nên chia đều rồi suy ngược ra góc trong.

a) Vì -giác đều có góc trong bằng nhau nên góc ngoài tương ứng (kề bù với góc trong) cũng bằng nhau; theo Bài 3.31b, tổng góc ngoài luôn bằng , nên mỗi góc ngoài bằng
Mỗi góc trong bù với góc ngoài tương ứng: góc trong , khớp Cách 1
b) Với : góc ngoài , góc trong ; tứ giác đều bốn góc vuông và bốn cạnh bằng nhau — là hình vuông

Vậy kết quả khớp hoàn toàn Cách 1.

3Cách 3. Kiểm bằng các trường hợp riêng rồi tổng quát hoá

Định hướng. Tính trực tiếp góc của tam giác đều () và lục giác đều () bằng kiến thức đã biết, so sánh với công thức để kiểm tra tính đúng đắn trước khi áp dụng cho tứ giác đều ở ý b).

Với (tam giác đều): mỗi góc đã biết bằng ; công thức cho — khớp
Với (lục giác đều, ghép từ 6 tam giác đều quanh tâm): mỗi góc đã biết bằng ; công thức cho — khớp, xác nhận công thức đúng
Áp dụng cho : mỗi góc ; tứ giác bốn góc vuông, bốn cạnh bằng nhau chính là hình vuông

Vậy công thức đã được kiểm chứng qua hai trường hợp riêng, và tứ giác đều là hình vuông.

Nhận xét. Việc kiểm qua tam giác đều và lục giác đều (hai đa giác đều quen thuộc) là cách tự kiểm tra công thức trước khi tin dùng cho trường hợp cần tính (tứ giác đều).

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: áp dụng thẳng công thức tổng góc trong đã chứng minh ở Bài 3.31a, không cần vòng qua góc ngoài như Cách 2 hay kiểm nhiều trường hợp riêng như Cách 3.
Đáp số. a) Mỗi góc của n-giác đều bằng (n−2)·180°/n. b) Tứ giác đều là hình vuông (và ngược lại, hình vuông cũng là một tứ giác đều).
Sai lầm thường gặp. Nhiều bạn tưởng chỉ cần 'bốn cạnh bằng nhau' (tức hình thoi) hoặc chỉ cần 'bốn góc bằng nhau' (tức hình chữ nhật) là đủ để gọi là tứ giác đều; định nghĩa tứ giác đều đòi hỏi ĐỒNG THỜI cả hai điều kiện, nên tứ giác đều phải là hình vuông chứ không phải chỉ hình thoi hay chỉ hình chữ nhật.
🚀 Mở rộng. Ngũ giác đều có mỗi góc bằng — số đo này xuất hiện trong hình ngôi sao năm cánh (Bài 3.30b), vì các góc của ngôi sao liên quan trực tiếp tới góc này của ngũ giác đều bên ngoài.