Bài 1 · Bài 5.1★Trang 56— Vận dụng định nghĩa đường tròn vào thực tế
Bài 5.1 (trang 56). Các bánh xe (xe đạp, ô tô, …) đều có dạng hình tròn (với tâm tại trục của bánh xe). Hãy giải thích lí do.
Kiến thức cần nhớ
Đường tròn tâm O bán kính R là hình gồm mọi điểm cách O một khoảng bằng R (không đổi).
Khi một hình tròn lăn trên mặt phẳng, khoảng cách từ tâm đến điểm tiếp xúc với mặt đường luôn bằng bán kính.
🧠 Phân tích tư duy
Đề không yêu cầu tính toán mà yêu cầu giải thích bằng lí thuyết đã học: định nghĩa đường tròn là tập hợp các điểm cách đều tâm. Dấu hiệu để chọn hướng làm là liên hệ giữa 'khoảng cách không đổi từ tâm' với việc bánh xe cần giữ trục ở một độ cao ổn định so với mặt đường khi lăn.
1Cách 1. Dùng định nghĩa đường tròn để giải thích
Định hướng. Định nghĩa đường tròn chính là công cụ trực tiếp: mọi điểm trên vành bánh xe cách đều tâm (trục), nên khoảng cách từ trục đến mặt đường không đổi khi bánh xe lăn.
Vành bánh xe có dạng đường tròn tâm O (trục bánh xe) bán kính R, nghĩa là mọi điểm trên vành đều cách O đúng R. Khi bánh xe lăn trên mặt đường phẳng, điểm tiếp xúc giữa vành và mặt đường luôn là một điểm trên đường tròn đó, nên khoảng cách từ O đến mặt đường luôn bằng đúng R, không đổi.
Vậy trục bánh xe luôn cách mặt đường một khoảng không đổi bằng bán kính R, giúp xe di chuyển êm, không bị xóc lên xuống — đó là lí do bánh xe có dạng hình tròn.
2Cách 2. Phản chứng bằng hình không phải hình tròn
Định hướng. Giả sử bánh xe có dạng khác (không phải đường tròn), khi đó khoảng cách từ tâm đến các điểm trên vành không còn bằng nhau, dẫn tới hệ quả vô lí (xe bị xóc).
Giả sử vành bánh xe có dạng một đa giác (chẳng hạn hình vuông) với tâm O. Với đa giác, khoảng cách từ O đến đỉnh khác với khoảng cách từ O đến trung điểm cạnh, tức khoảng cách từ O đến các điểm trên vành không bằng nhau. Khi lăn, điểm tiếp xúc với mặt đường thay đổi luân phiên giữa 'đỉnh' (xa O hơn) và 'cạnh' (gần O hơn), khiến O liên tục nhấp nhô lên xuống — xe bị xóc mạnh, không thể di chuyển êm.
Vậy chỉ có đường tròn (nơi mọi điểm trên vành cách đều tâm) mới giữ trục ở độ cao không đổi; đây chính là lí do bánh xe phải có dạng hình tròn.
3Cách 3. Liên hệ với nguyên lí compa vẽ đường tròn
Định hướng. Nhớ lại cách compa vẽ đường tròn (giữ khoảng cách không đổi từ đầu kim tới đầu chì) để thấy đó chính là nguyên lí cần cho một vật quay tròn êm.
Khi vẽ đường tròn bằng compa, đầu chì luôn cách đầu kim (tâm) một khoảng không đổi bằng độ mở compa — đó chính là định nghĩa đường tròn. Bánh xe khi quay quanh trục cũng cần mọi điểm trên vành cách trục một khoảng không đổi để giữ chuyển động đều, giống hệt nguyên lí compa.
Vậy dạng hình tròn của bánh xe là ứng dụng trực tiếp của tính chất 'cách đều tâm' — cùng nguyên lí với việc compa vẽ ra một đường tròn.
Nhận xét. Cả ba cách đều quy về đúng một tính chất cốt lõi: mọi điểm của đường tròn cách đều tâm.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Trình bày theo Cách 1: ngắn gọn, đi thẳng vào định nghĩa đường tròn — đúng trọng tâm câu hỏi 'giải thích lí do'.
Đáp số.Vì mọi điểm trên vành bánh xe (đường tròn) cách đều tâm (trục) một khoảng bằng bán kính, nên khi lăn, trục luôn cách mặt đường một khoảng không đổi, giúp xe chuyển động êm.
Sai lầm thường gặp.Có bạn chỉ trả lời chung chung 'vì hình tròn lăn được' mà không nêu rõ tính chất 'cách đều tâm' — đây mới là lí do toán học chính xác, cần nêu rõ để giải thích được vì sao trục luôn ở độ cao không đổi.
🚀 Mở rộng.Nguyên lí này còn được dùng để giải thích vì sao nắp cống thường có dạng hình tròn (không thể lọt qua miệng cống dù xoay ở góc nào) — một ứng dụng khác của tính chất mọi đường kính của đường tròn đều bằng nhau.
Bài 2 · Bài 5.2★★Trang 56— Chứng minh điểm thuộc đường tròn nhờ tam giác vuông
Bài 5.2 (trang 56). Cho đường tròn (O) có bán kính bằng 2,5 cm và hai tia Ox, Oy vuông góc với nhau tại O. Lấy điểm A trên tia Ox với OA=3 cm, điểm B trên tia Oy với OB=4 cm. Gọi M là trung điểm của đoạn thẳng AB. Chứng minh rằng điểm M nằm trên đường tròn (O).
Kiến thức cần nhớ
Tam giác vuông tại O có OA,OB là hai cạnh góc vuông thì AB2=OA2+OB2 (Pythagore).
Trong tam giác vuông, trung tuyến ứng với cạnh huyền bằng nửa cạnh huyền.
Điểm M thuộc (O;R) khi và chỉ khi OM=R.
🧠 Phân tích tư duy
Hai tia Ox⊥Oy tại O là dấu hiệu tam giác OAB vuông tại O; đây chính là tình huống của Luyện tập 1 (SGK): trung điểm cạnh huyền của tam giác vuông cách đều ba đỉnh một khoảng bằng nửa cạnh huyền. Chỉ cần tính AB bằng Pythagore rồi so sánh nửa AB với bán kính đã cho 2,5 cm.
1Cách 1. Dùng tính chất trung tuyến ứng với cạnh huyền
Định hướng.Ox⊥Oy nên tam giác OAB vuông tại O; áp dụng ngay tính chất trung tuyến ứng với cạnh huyền cho M.
Vì Ox⊥Oy nên tam giác OAB vuông tại O. AB=OA2+OB2=32+42=25=5 (cm). Vì M là trung điểm cạnh huyền AB của tam giác vuông OAB nên OM=2AB=25=2,5 (cm).
VậyOM=2,5 cm đúng bằng bán kính đường tròn (O), nên M nằm trên (O).
2Cách 2. Dựng hình chữ nhật
Định hướng. Dựng thêm điểm D để có hình chữ nhật nhận OA, OB làm hai cạnh kề, rồi dùng tính chất hai đường chéo hình chữ nhật.
Dựng điểm D sao cho tứ giác OADB là hình chữ nhật (nhận OA, OB làm hai cạnh kề, vì AOB=90∘). Hình chữ nhật có hai đường chéo AB và OD bằng nhau và cắt nhau tại trung điểm chung — đúng là điểm M. AB=OA2+OB2=32+42=5 (cm) nên OD=AB=5 (cm); do đó OM=2OD=2,5 (cm).
VậyOM=2,5 cm bằng bán kính, nên M∈(O).
3Cách 3. Toạ độ hoá
Định hướng. Đặt O làm gốc, Ox, Oy làm hai trục toạ độ để tính trực tiếp toạ độ M và khoảng cách OM.
Đặt O(0;0), Ox là trục hoành, Oy là trục tung: A(3;0), B(0;4). M là trung điểm AB: M(1,5;2). OM=1,52+22=2,25+4=6,25=2,5.
VậyOM=2,5 cm bằng bán kính, nên M nằm trên đường tròn (O).
Nhận xét. Cả ba cách đều cho cùng kết quả OM=2,5 cm, khớp đúng bán kính đề đã cho.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ hai dòng (Pythagore tính AB rồi chia đôi), tận dụng đúng tính chất trung tuyến ứng với cạnh huyền vừa học ở Luyện tập 1 SGK.
Đáp số.OM=2,5 cm, đúng bằng bán kính nên M nằm trên đường tròn (O).
Sai lầm thường gặp.Một số bạn quên chứng minh tam giác OAB vuông tại O (từ giả thiết Ox⊥Oy) trước khi áp dụng Pythagore — thiếu bước then chốt để dùng đúng công thức AB2=OA2+OB2.
🚀 Mở rộng.Đây là ví dụ số cụ thể của Luyện tập 1 (SGK): với bộ ba Pythagore (3;4;5), nửa cạnh huyền luôn bằng 2,5; thử đổi OA=6 cm, OB=8 cm xem bán kính cần thiết để M vẫn trên (O) là bao nhiêu.
Bài 3 · Bài 5.3★★Trang 56— Toạ độ điểm đối xứng qua gốc và vị trí với đường tròn
Bài 5.3 (trang 56). Trên mặt phẳng toạ độ Oxy, cho hai điểm A(0;−3) và B(2;0). Gọi C và D lần lượt là các điểm đối xứng với A và B qua O. a) Xác định toạ độ của các điểm C và D. b) Xác định vị trí của các điểm A, B, C, D đối với đường tròn (O;3).
Kiến thức cần nhớ
Điểm đối xứng với M(x;y) qua gốc toạ độ O là M′(−x;−y).
Khoảng cách từ O(0;0) đến (x;y) là x2+y2.
OM=R: điểm nằm trên; OM<R: nằm trong; OM>R: nằm ngoài đường tròn (O;R).
🧠 Phân tích tư duy
Câu a) là kĩ năng toạ độ cơ bản: đối xứng qua gốc O đổi dấu cả hai toạ độ. Câu b) quay lại đúng dạng bài đã gặp ở Vận dụng 1 (SGK): tính khoảng cách mỗi điểm đến O rồi so với bán kính 3.
1Cách 1. Dùng công thức đối xứng qua gốc toạ độ
Định hướng. Đổi dấu cả hai toạ độ để tìm C, D, rồi tính khoảng cách từng điểm đến O và so với R=3.
a) A(0;−3) đối xứng qua O cho C(0;3). B(2;0) đối xứng qua O cho D(−2;0). b) OA=02+(−3)2=3; OB=22+02=2; OC=02+32=3; OD=(−2)2+02=2. So với R=3: OA=OC=3=R; OB=OD=2<3=R.
VậyC(0;3), D(−2;0); A và C nằm trên, B và D nằm trong đường tròn (O;3).
2Cách 2. Dùng tính chất đối xứng tâm bảo toàn khoảng cách
Định hướng. Không cần tính lại khoảng cách cho C, D: phép đối xứng tâm O giữ nguyên khoảng cách đến O, nên chỉ cần xét A, B rồi suy ra ngay cho C, D.
a) Như Cách 1: C(0;3), D(−2;0). b) Vì phép đối xứng tâm O bảo toàn khoảng cách đến O (điểm O là điểm bất động), nên OC=OA và OD=OB mà không cần tính lại bằng công thức toạ độ. OA=02+(−3)2=3=R nên A nằm trên (O;3), suy ra OC=OA=3=R nên C cũng nằm trên (O;3). OB=22+02=2<3=R nên B nằm trong (O;3), suy ra OD=OB=2<3=R nên D cũng nằm trong (O;3).
VậyA,C nằm trên; B,D nằm trong đường tròn (O;3) — chỉ cần xét hai điểm A, B là suy ra ngay vị trí của C, D.
3Cách 3. Nhận xét nhanh nhờ điểm nằm trên trục toạ độ
Định hướng. Cả bốn điểm đều nằm trên một trong hai trục, nên khoảng cách đến O chính là trị tuyệt đối của toạ độ khác 0, không cần công thức căn bậc hai tổng quát.
a) Như Cách 1: C(0;3), D(−2;0). b) OA=∣−3∣=3, OC=∣3∣=3, OB=∣2∣=2, OD=∣−2∣=2. So với R=3: A,C có khoảng cách bằng R; B,D có khoảng cách nhỏ hơn R.
VậyA, C nằm trên; B, D nằm trong đường tròn (O;3).
Nhận xét. Cách 2 là nhanh nhất khi đã xác định vị trí của A, B: không cần tính toạ độ hay khoảng cách của C, D một lần nữa.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 2 cho câu b): tận dụng tính chất đối xứng tâm bảo toàn khoảng cách để suy luôn vị trí của C, D từ A, B, không phải tính lại từ đầu.
Đáp số.a) C(0;3), D(−2;0). b) A, C nằm trên; B, D nằm trong đường tròn (O;3).
Sai lầm thường gặp.Ở câu a), có bạn đổi dấu nhầm chỉ một toạ độ (ví dụ viết C(0;−3) thay vì (0;3)) — cần nhớ đối xứng qua gốc O phải đổi dấu cả hai toạ độ.
🚀 Mở rộng.Nhận xét rằng A và C đối xứng nhau qua O nhưng cùng nằm trên đường tròn — đây chính là tính chất tâm đối xứng của đường tròn: nếu một điểm thuộc (O) thì điểm đối xứng với nó qua O cũng thuộc (O) (đã học ở HĐ mục 2, SGK).
Bài 4 · Bài 5.4★★Trang 56— Toạ độ điểm đối xứng qua trục, qua gốc; đường tròn qua bốn điểm
Bài 5.4 (trang 56). Trên mặt phẳng toạ độ Oxy, cho điểm A(3;1). Gọi B, C và D lần lượt là các điểm đối xứng với A qua trục hoành, qua gốc O và qua trục tung. a) Xác định toạ độ của các điểm B, C và D. b) Có hay không một đường tròn đi qua bốn điểm A, B, C và D? Nếu có, hãy xác định tâm và bán kính của đường tròn đó.
Kiến thức cần nhớ
Đối xứng qua trục hoành: (x;y)→(x;−y); qua gốc O: (x;y)→(−x;−y); qua trục tung: (x;y)→(−x;y).
Phép đối xứng (tâm hoặc trục) qua điểm/đường thẳng đi qua O luôn giữ nguyên khoảng cách từ O đến ảnh.
Bốn điểm cách đều một điểm cố định thì cùng thuộc một đường tròn tâm là điểm cố định đó.
🧠 Phân tích tư duy
Đây là bài toán ngược của Bài 5.3: thay vì cho sẵn đường tròn, đề hỏi 'có đường tròn nào qua cả bốn điểm không'. Vì cả B,C,D đều là ảnh của A qua các phép đối xứng nhận O làm điểm bất động (trục hoành, gốc O, trục tung đều đi qua O), nên cả bốn điểm luôn cách đều O — dấu hiệu để khẳng định ngay có đường tròn tâm O đi qua cả bốn điểm.
1Cách 1. Tính toạ độ rồi tính khoảng cách
Định hướng. Áp dụng lần lượt ba công thức đối xứng để tìm toạ độ, rồi tính khoảng cách từng điểm đến O.
a) Đối xứng qua trục hoành: B(3;−1). Đối xứng qua O: C(−3;−1). Đối xứng qua trục tung: D(−3;1). b) OA=32+12=10; OB=32+(−1)2=10; OC=(−3)2+(−1)2=10; OD=(−3)2+12=10.
VậyOA=OB=OC=OD=10 nên có đường tròn tâm O bán kính 10 đi qua cả bốn điểm A,B,C,D.
2Cách 2. Dùng tính chất đối xứng bảo toàn khoảng cách đến O
Định hướng. Không cần tính lại từng khoảng cách: mọi phép đối xứng dùng ở đề đều nhận O làm điểm bất động nên giữ nguyên khoảng cách đến O.
a) Như Cách 1: B(3;−1), C(−3;−1), D(−3;1). b) Trục hoành, gốc O, trục tung đều đi qua O, nên các phép đối xứng qua chúng đều giữ nguyên khoảng cách đến O: OB=OA, OC=OA, OD=OA. Do đó chỉ cần tính một khoảng cách: OA=32+12=10, suy ra ngay OB=OC=OD=10.
Vậy cả bốn điểm cách đều O một khoảng 10, nên có đường tròn tâm O bán kính 10 đi qua cả bốn điểm.
3Cách 3. Vẽ hình rồi nhận ra hình chữ nhật
Định hướng. Bốn điểm A,B,C,D tạo thành một hình chữ nhật nhận hai trục toạ độ làm trục đối xứng; tâm hình chữ nhật đó chính là O.
a) Như Cách 1: B(3;−1), C(−3;−1), D(−3;1). b) Vẽ bốn điểm lên hệ trục, nhận thấy ABCD là một hình chữ nhật nhận các trục toạ độ làm hai trục đối xứng; tâm là giao điểm hai đường chéo AC, BD — chính là gốc O (vì C đối xứng A, D đối xứng B đều qua O). Theo tính chất hình chữ nhật, O cách đều bốn đỉnh: OA=OB=OC=OD.
Vậy có đường tròn tâm O đi qua bốn đỉnh của hình chữ nhật ABCD, bán kính R=OA=32+12=10.
Nhận xét. Cách 3 cho một cách nhìn hình học trực quan, giải thích vì sao cả bốn điểm cách đều O mà không cần tính riêng từng khoảng cách.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 2: chỉ cần tính một khoảng cách OA rồi suy ra ba khoảng cách còn lại nhờ tính chất bảo toàn khoảng cách của phép đối xứng qua điểm/trục đi qua O, nhanh hơn hẳn tính lại từng công thức.
Đáp số.a) B(3;−1), C(−3;−1), D(−3;1). b) Có đường tròn tâm O bán kính R=10 đi qua cả bốn điểm A,B,C,D.
Sai lầm thường gặp.Có bạn tính toạ độ đúng nhưng khi tính khoảng cách lại hiểu nhầm dấu trừ ở toạ độ mang cả vào trong phép bình phương, ví dụ viết OC=(−3)2+(−1)2=−9−1 — cần nhớ (−3)2=9, không phải −9.
🚀 Mở rộng.Nếu đổi điểm ban đầu thành A(a;b) bất kì (không nằm trên trục toạ độ), kết quả vẫn đúng: bốn điểm đối xứng qua trục hoành, gốc O, trục tung của A luôn cùng thuộc đường tròn tâm O bán kính a2+b2.
Bài 5 · Bài 5.5★★★Trang 56— Chứng minh một điểm là trung điểm bằng tam giác bằng nhau hoặc phép đối xứng tâm
Bài 5.5 (trang 56). Cho đường tròn (O), đường kính AB và điểm M thuộc (O) (M không trùng với điểm nào trong hai điểm A và B). Trên (O) lấy điểm N nằm khác phía của M đối với đường thẳng AB sao cho AM=BN. Chứng minh rằng O là trung điểm của đoạn thẳng MN.
Kiến thức cần nhớ
OA=OB=OM=ON=R (đều là bán kính của (O)).
Hai tam giác có ba cặp cạnh tương ứng bằng nhau thì bằng nhau (trường hợp cạnh - cạnh - cạnh) và có các góc tương ứng bằng nhau.
Nếu A,O,B thẳng hàng thì với mọi điểm M, AOM+MOB=180∘ (hai góc kề bù).
🧠 Phân tích tư duy
Dấu hiệu OA=OB=OM=ON (đều là bán kính) cùng với giả thiết AM=BN gợi ý xét hai tam giác OAM và OBN — có đủ ba cặp cạnh bằng nhau (c.c.c). Từ đó suy ra hai góc ở tâm bằng nhau, rồi dùng tính chất A,O,B thẳng hàng (vì AB là đường kính) để cộng góc, chỉ ra M,O,N thẳng hàng — đúng điều cần chứng minh vì đã có sẵn OM=ON=R.
1Cách 1. Dùng tam giác bằng nhau (c.c.c) và góc kề bù
Định hướng. Bốn đoạn OA,OB,OM,ON đều là bán kính nên bằng nhau; cùng với AM=BN, hai tam giác OAM và OBN có đủ ba cặp cạnh bằng nhau — từ đó suy ra hai góc ở đỉnh O bằng nhau, rồi ghép với tính chất A,O,B thẳng hàng để chứng minh M,O,N thẳng hàng.
Xét tam giác OAM và tam giác OBN có: OA=OB (bán kính); OM=ON (bán kính); AM=BN (giả thiết). Do đó △OAM=△OBN (c.c.c), suy ra AOM=BON. Vì A,O,B thẳng hàng (AB là đường kính) nên AOM+MOB=180∘. Thay AOM=BON vào: BON+MOB=180∘. Vì M, N nằm khác phía đối với AB nên tia OB nằm giữa hai tia OM, ON, do đó MON=MOB+BON=180∘.
VậyMON=180∘ nên M, O, N thẳng hàng; mà OM=ON=R nên O là trung điểm của đoạn thẳng MN.
2Cách 2. Dùng phép đối xứng tâm O
Định hướng. Xét ảnh của A và M qua phép đối xứng tâm O: vì O là trung điểm AB nên ảnh của A chính là B; gọi M′ là ảnh của M, ta sẽ chỉ ra M′ chính là N.
Vì O là trung điểm AB nên phép đối xứng tâm O biến A thành B. Gọi M′ là điểm đối xứng với M qua O. Vì (O) nhận O làm tâm đối xứng nên M′∈(O). Phép đối xứng tâm O là một phép dời hình nên biến đoạn AM thành đoạn BM′, do đó BM′=AM. Mặt khác, vì O nằm trên đường thẳng AB, phép đối xứng tâm O đưa mỗi điểm sang phía đối diện của đường thẳng AB; vì M và M′ đối xứng qua O nên M′ nằm khác phía AB so với M. Vậy M′∈(O), M′ khác phía M đối với AB, và BM′=AM=BN (giả thiết) — đúng ba điều kiện xác định N, nên M′=N.
VậyN chính là điểm đối xứng với M qua O, tức O là trung điểm của đoạn thẳng MN.
3Cách 3. Toạ độ hoá (lượng giác)
Định hướng. Đặt hệ trục với O là gốc, AB trùng trục hoành, biểu diễn M, N theo góc ở tâm để tính trực tiếp AM, BN và kiểm tra N đối diện M qua O.
Đặt O(0;0), bán kính R, A(−R;0), B(R;0). Với M(Rcosα;Rsinα) (sinα=0), tính được AM2=(Rcosα+R)2+(Rsinα)2=2R2(1+cosα), tức AM=2Rcos2α. Tương tự với N(Rcosβ;Rsinβ), tính được BN=2Rsin2β. Xét N′(−Rcosα;−Rsinα) — điểm đối xứng của M qua O — ứng với β=α+180∘: sin2β=sin(2α+90∘)=cos2α, nên BN′=2Rcos2α=AM: đúng bằng điều kiện đề bài, đồng thời N′ nằm khác phía M (vì sinβ=−sinα).
VậyN=N′ là điểm đối xứng của M qua O, tức O là trung điểm MN.
Nhận xét. Cách 3 xác nhận bằng công thức lượng giác đúng kết quả đã có ở hai cách hình học.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ dùng tam giác bằng nhau (c.c.c) và góc kề bù — kiến thức nền tảng từ lớp 7, lập luận ngắn gọn và chặt chẽ, không cần phép biến hình hay lượng giác.
Đáp số.O là trung điểm của đoạn thẳng MN (chứng minh được MON=180∘ và OM=ON=R).
Sai lầm thường gặp.Nhiều bạn chỉ chứng minh OM=ON=R (hiển nhiên vì cùng là bán kính) rồi vội kết luận O là trung điểm MN — thiếu bước bắt buộc là chứng minh M, O, N thẳng hàng (tức MON=180∘); có OM=ON mà chưa thẳng hàng thì O mới chỉ là một điểm cách đều M,N, chưa chắc là trung điểm của đoạn MN.
🚀 Mở rộng.Kết quả bài này còn có chiều đảo thú vị: nếu biết O là trung điểm MN thì suy ngược lại được AM=BN — hãy thử chứng minh chiều ngược này như một bài tập tự luyện.