Bài 1 · Bài 5.6★★★Trang 59— Chứng minh bốn điểm cùng thuộc đường tròn nhờ hai góc vuông cùng nhìn một đoạn; so sánh dây với đường kính
Bài 5.6 (trang 59). Cho tam giác nhọn ABC, hai đường cao BD và CE cắt nhau tại H. Chứng minh rằng: a) Bốn điểm A,E,H,D cùng thuộc một đường tròn. b) AH>DE.
Kiến thức cần nhớ
Nếu hai điểm cùng nhìn một đoạn thẳng dưới góc vuông thì cả hai điểm đó, cùng hai đầu đoạn thẳng, nằm trên đường tròn đường kính là đoạn thẳng ấy.
Trong một đường tròn, đường kính là dây cung lớn nhất.
🧠 Phân tích tư duy
Hai đường cao BD⊥AC và CE⊥AB cho ngay hai góc vuông AEH=ADH=90°, cả hai đều nhìn đoạn AH — đúng dấu hiệu của Ví dụ 1 (Bài 14): điểm nhìn một đoạn dưới góc vuông thì thuộc đường tròn đường kính đoạn đó. Khi đã có bốn điểm A,E,H,D cùng thuộc đường tròn đường kính AH, đoạn DE chỉ là một dây (không đi qua tâm vì D,E,H không thẳng hàng với A), nên DE<AH theo đúng định lí đường kính là dây lớn nhất. Bẫy là quên chứng minh DE không phải đường kính trước khi áp dụng định lí.
1Cách 1. Dùng đường tròn đường kính AH (như Ví dụ 1, Bài 14)
Định hướng. Nhận ra E,D cùng nhìn AH dưới góc vuông để đưa cả bốn điểm về một đường tròn đường kính AH, rồi so sánh dây DE với đường kính đó.
Vì CE⊥AB tại E nên AEH=90°; vì BD⊥AC tại D nên ADH=90°. Gọi I là trung điểm AH. Trong tam giác vuông AEH: IE=2AH; trong tam giác vuông ADH: ID=2AH. Do đó IA=IE=IH=ID=2AH, tức bốn điểm A,E,H,D cùng thuộc đường tròn tâm I đường kính AH. DE là một dây của đường tròn này; vì D,E,H không thẳng hàng với A (tam giác nhọn nên D=E và không suy biến) nên DE không đi qua I, tức DE không phải đường kính. Theo định lí đường kính là dây cung lớn nhất: DE<AH.
Vậy a) A,E,H,D cùng thuộc đường tròn đường kính AH; b) AH>DE.
2Cách 2. Dùng toạ độ
Định hướng. Kiểm tra bốn điểm cách đều trung điểm AH bằng công thức khoảng cách, không cần vẽ thêm đường tròn phụ.
Đặt hệ trục sao cho A(0;0), H(0;h) với h=AH>0 (chọn trục tung theo phương AH). Vì AEH=90° nên E nằm trên đường tròn đường kính AH: gọi I(0;2h) là trung điểm AH, ta có IE=2h (tam giác AEH vuông tại E có trung tuyến ứng cạnh huyền). Tương tự từ ADH=90° suy ra ID=2h. Vậy IA=IE=IH=ID=2h=2AH: bốn điểm cùng thuộc đường tròn tâm I bán kính 2AH. Vì DE không đi qua I (do D,E không đối xứng nhau qua I khi tam giác không cân) nên DE không là đường kính, suy ra DE<AH.
Vậy kết quả trùng khớp Cách 1: A,E,H,D đồng viên và AH>DE.
3Cách 3. Dùng lượng giác với bán kính đường tròn ngoại tiếp
Định hướng. Biểu diễn cả AH và DE theo bán kính R của đường tròn ngoại tiếp và góc A, rồi so sánh hai biểu thức.
Gọi R là bán kính đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC. Theo một hệ thức quen thuộc, khoảng cách từ đỉnh A đến trực tâm H là AH=2RcosA. Xét tam giác ADE và tam giác ABC: vì A,E,H,D thuộc đường tròn đường kính AH (đã chứng minh ở câu a) nên ADE=ABC (hai góc nội tiếp cùng chắn cung AE trong đường tròn đó, và góc ngoài của tứ giác nội tiếp BDEC), dẫn tới tam giác ADE đồng dạng tam giác ABC theo tỉ số cosA, nên DE=BC⋅cosA. Theo định lí sin trong tam giác ABC: BC=2RsinA, suy ra DE=2RsinAcosA. So sánh: AHDE=2RcosA2RsinAcosA=sinA. Vì tam giác ABC nhọn nên 0°<A<90°, do đó 0<sinA<1, tức DE<AH.
VậyAH>DE, khớp hai cách trên.
Nhận xét. Cách 3 cho công thức tường minh DE=AH⋅sinA, mạnh hơn hẳn hai cách trên vì tính được đúng tỉ lệ giữa hai đoạn, không chỉ so sánh lớn bé.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần nhận ra ngay E,D cùng nhìn AH dưới góc vuông (đúng mẫu Ví dụ 1 của Bài 14) rồi áp dụng thẳng định lí đường kính là dây lớn nhất, không cần toạ độ hay đường tròn phụ thứ hai.
Đáp số.a) Bốn điểm A,E,H,D cùng thuộc đường tròn đường kính AH. b) AH>DE.
Sai lầm thường gặp.Nhiều học sinh chứng minh xong câu a rồi kết luận ngay AH>DE mà không giải thích vì sao DE không thể là đường kính — cần chỉ rõ D,E,H không thẳng hàng với A để khẳng định DE chỉ là dây thường.
🚀 Mở rộng.Đường tròn đường kính AH trong bài này (đi qua A,E,H,D) chính là một phần của "đường tròn Euler" (đường tròn chín điểm) quen thuộc ở chương trình nâng cao — nó còn đi qua trung điểm ba cạnh và trung điểm các đoạn nối trực tâm với đỉnh.
Bài 2 · Bài 5.7★★★Trang 59— Chứng minh ba điểm thẳng hàng nhờ trục đối xứng; so sánh ba đoạn thẳng bằng Pythagore và đường kính là dây lớn nhất
Bài 5.7 (trang 59). Cho tam giác cân ABC (AB=AC). Gọi (O) là đường tròn đi qua ba điểm A,B,C và E là điểm trên cung nhỏ BC sao cho cung BE bằng cung EC. a) Chứng minh rằng ba điểm A,O,E thẳng hàng. b) Gọi H là chân đường cao hạ từ A xuống BC. Chứng minh rằng AH<AB<AE.
Kiến thức cần nhớ
Tam giác cân có trục đối xứng là đường trung trực của cạnh đáy, đồng thời là đường phân giác, đường cao, đường trung tuyến từ đỉnh cân.
Cung bằng nhau thì dây căng cung tương ứng cũng bằng nhau, và ngược lại.
Trong tam giác vuông, cạnh góc vuông nhỏ hơn cạnh huyền; trong một đường tròn, đường kính là dây cung lớn nhất.
🧠 Phân tích tư duy
Tam giác cân tại A có AB=AC là dấu hiệu để đường thẳng AO (nối đỉnh cân với tâm đường tròn ngoại tiếp) chính là trục đối xứng của tam giác, tức trung trực của BC. Điểm E với cung BE= cung EC cũng nằm trên chính trục đối xứng đó (vì cung bằng nhau ứng với dây bằng nhau, E cách đều B,C), nên A,O,E cùng nằm trên một đường thẳng — trung trực của BC. Với câu b, H (chân đường cao từ A) cũng nằm trên trục này, nên bốn điểm A,H,O,E thẳng hàng, và việc so sánh AH,AB,AE quy về so sánh cạnh góc vuông với cạnh huyền (Pythagore) rồi dây với đường kính AE.
1Cách 1. Dùng trục đối xứng của tam giác cân
Định hướng. Chỉ ra AO và AE cùng là trung trực của BC do tính đối xứng, rồi so sánh các đoạn bằng Pythagore và định lí đường kính là dây lớn nhất.
a) Vì AB=AC nên A nằm trên trung trực của BC. Vì OB=OC (bán kính) nên O cũng nằm trên trung trực của BC. Vì cung BE= cung EC nên dây EB=EC, do đó E cũng nằm trên trung trực của BC. Vậy A,O,E cùng nằm trên trung trực của BC, tức ba điểm thẳng hàng. b) Vì H là chân đường cao từ A xuống BC và tam giác cân tại A nên AH cũng chính là trung trực của BC, tức H cũng nằm trên đường thẳng AOE. Trong tam giác vuông ABH (vuông tại H): AH<AB (cạnh góc vuông nhỏ hơn cạnh huyền). Vì A,O,E thẳng hàng và O là tâm nên AE đi qua tâm, tức AE là một đường kính của (O); mà AB chỉ là dây không đi qua tâm (do B=E), nên theo định lí đường kính là dây lớn nhất: AB<AE.
Vậy a) A,O,E thẳng hàng; b) AH<AB<AE.
2Cách 2. Dùng góc nội tiếp và góc ở tâm bằng nhau
Định hướng. Dùng số đo cung để chỉ ra BAE=CAE, tức AE là phân giác góc A, mà tam giác cân thì phân giác góc đỉnh trùng đường trung trực cạnh đáy.
a) Vì cung BE= cung EC nên góc nội tiếp chắn hai cung đó bằng nhau: BAE=CAE (góc nội tiếp cùng chắn cung bằng nhau thì bằng nhau). Do đó AE là tia phân giác của BAC. Vì tam giác ABC cân tại A nên tia phân giác của BAC cũng chính là đường trung trực của BC, mà O (tâm đường tròn ngoại tiếp, cách đều B,C) cũng nằm trên trung trực này. Vậy A, O, E cùng nằm trên trung trực của BC: ba điểm thẳng hàng. b) Lập luận như Cách 1: H cũng nằm trên đường thẳng đó; Pythagore cho AH<AB; AE là đường kính (qua tâm) nên AB<AE.
Vậy kết quả trùng khớp Cách 1: AH<AB<AE.
3Cách 3. Dùng toạ độ
Định hướng. Vì AB=AC, chọn trung trực của BC làm trục tung; các điểm O, E, H đều tự động có hoành độ 0 nhờ tính chất riêng của từng điểm, không cần giả định trước.
Vì AB=AC nên A nằm trên trung trực của BC; chọn trung trực đó làm trục tung, gốc I là trung điểm BC: B(−p;0), C(p;0) (p>0), A(0;yA) với yA>0. Tâm O cách đều B,C nên O cũng nằm trên trục tung: O(0;yO), bán kính R=OA=OB. Vì cung BE= cung EC nên dây EB=EC, tức E cách đều B,C, nên E cũng nằm trên trục tung: E(0;yE); vậy A(0;yA), O(0;yO), E(0;yE) cùng hoành độ 0 — ba điểm thẳng hàng trên trục tung. H là chân đường vuông góc từ A xuống BC (trục hoành), nên H(0;0)≡I, cũng có hoành độ 0. Trong tam giác vuông ABH (AH dọc trục tung, BH=p nằm ngang): AB=p2+AH2>AH. E là giao điểm thứ hai của tia AO với đường tròn nên AE là đường kính, AE=2R; AB là dây không qua tâm (vì B=E) nên AB<2R=AE.
VậyAH<AB<AE, khớp hai cách trên.
Nhận xét. Cách 3 cho thấy rõ: AH,AB,AE là ba đoạn trên cùng một đường thẳng đi qua tâm, độ dài tăng dần từ chân đường cao tới điểm đối tâm.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: nhận ra ngay AH, AO, AE đều nằm trên trục đối xứng của tam giác cân, rồi chỉ cần một câu Pythagore và một câu định lí đường kính là dây lớn nhất, không cần toạ độ hay góc nội tiếp.
Đáp số.a) A,O,E thẳng hàng (cùng nằm trên trung trực của BC). b) AH<AB<AE.
Sai lầm thường gặp.Hay quên chứng minh AE đi qua tâm (tức là đường kính) trước khi so sánh AB<AE — nếu không chỉ ra O nằm giữa A và E thì không thể áp dụng định lí đường kính là dây lớn nhất.
🚀 Mở rộng.Điểm E (cung BE= cung EC) chính là điểm chính giữa cung nhỏ BC — đây là vị trí đặc biệt xuất hiện lại ở các bài về tâm đường tròn nội tiếp và bàng tiếp tam giác ở chương trình nâng cao.
Bài 3 · Bài 5.8★★Trang 59— Chứng minh đường nối tâm với trung điểm dây vuông góc với dây; tính khoảng cách tâm — dây
Bài 5.8 (trang 59). Gọi H là trung điểm của dây AB không đi qua tâm của đường tròn (O). a) Chứng minh rằng OH⊥AB. b) Tính khoảng cách từ O đến AB, biết rằng AB=8 cm và bán kính của (O) bằng 5 cm.
Kiến thức cần nhớ
Tam giác cân có đường trung tuyến ứng với cạnh đáy đồng thời là đường cao.
Định lí Pythagore trong tam giác vuông.
🧠 Phân tích tư duy
H là trung điểm AB và OA=OB=R là dấu hiệu để nhận ra tam giác OAB cân tại O, nên trung tuyến OH của tam giác này đồng thời là đường cao, cho ngay OH⊥AB. Câu b tận dụng luôn tam giác vuông OHA vừa dựng: biết cạnh huyền OA=R và cạnh góc vuông AH=2AB, dùng Pythagore ra OH. Bẫy là quên giả thiết "AB không đi qua tâm" — nếu AB là đường kính thì H≡O, không có tam giác để xét.
1Cách 1. Dùng tính chất tam giác cân
Định hướng. Nhận ra tam giác OAB cân tại O để suy ra trung tuyến OH cũng là đường cao.
a) Vì OA=OB=R (bán kính) nên tam giác OAB cân tại O. H là trung điểm AB nên OH là đường trung tuyến ứng với cạnh đáy AB của tam giác cân đó. Trong tam giác cân, trung tuyến ứng với cạnh đáy đồng thời là đường cao, nên OH⊥AB. b) Trong tam giác vuông OHA: AH=2AB=4 cm, OA=R=5 cm. OH=OA2−AH2=52−42=9=3 cm.
Vậy a) OH⊥AB; b) khoảng cách từ O đến AB bằng 3 cm.
2Cách 2. Phản chứng
Định hướng. Giả sử OH không vuông góc AB, kẻ đường vuông góc thật sự rồi chỉ ra mâu thuẫn với giả thiết H là trung điểm.
a) Giả sử OH không vuông góc với AB. Kẻ OK⊥AB tại K (K=H). Vì đường kính đi qua K vuông góc với dây AB nên K là trung điểm của AB (tính chất đã học ở mục 1, Bài 14). Nhưng theo giả thiết, H cũng là trung điểm của AB, mà trung điểm của một đoạn thẳng là duy nhất, nên K≡H — mâu thuẫn với K=H đã giả sử. Vậy OH⊥AB. b) Tính như Cách 1: OH=OA2−AH2=25−16=3 cm.
Vậy kết quả trùng khớp Cách 1.
3Cách 3. Dùng toạ độ
Định hướng. Đặt hệ trục với H là gốc, AB nằm trên trục hoành, rồi kiểm tra vectơ OH vuông góc AB bằng toạ độ.
Đặt H(0;0), A(−4;0), B(4;0) (vì AH=HB=4 cm). Gọi O(x0;y0). Vì OA=OB=5: (x0+4)2+y02=(x0−4)2+y02=25. Từ hai phương trình đầu suy ra x0=0 (khai triển và rút gọn triệt tiêu 8x0=−8x0). Vậy O(0;y0) nằm trên trục tung, tức đường thẳng OH (nối O(0;y0) và H(0;0)) chính là trục tung, vuông góc với trục hoành AB. Thay x0=0 vào 16+y02=25: y02=9, y0=±3, nên OH=∣y0∣=3 cm.
Vậy a) OH⊥AB; b) OH=3 cm, khớp hai cách trên.
Nhận xét. Cách 3 chứng minh vuông góc và tính khoảng cách trong cùng một hệ phương trình, không cần tách hai bước.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: một câu 'tam giác cân, trung tuyến đồng thời đường cao' cho ngay OH⊥AB, rồi Pythagore một dòng ra khoảng cách — nhanh hơn hẳn phản chứng hay toạ độ.
Đáp số.a) OH⊥AB. b) Khoảng cách từ O đến AB bằng 3 cm.
Sai lầm thường gặp.Có bạn áp dụng luôn 'đường kính vuông góc dây thì qua trung điểm' (chiều thuận) mà không nhận ra đề bài yêu cầu chứng minh chiều ngược lại ('qua trung điểm thì vuông góc') — hai chiều của tính chất này cần hai cách lập luận khác nhau (tam giác cân hoặc phản chứng), không thể suy ra chiều này từ chiều kia một cách hiển nhiên.
🚀 Mở rộng.Tổng quát: với bán kính R và dây AB=2a bất kì, khoảng cách từ tâm đến dây luôn là R2−a2 — công thức này lặp lại xuyên suốt các bài 5.6–5.7 của Bài 14.
Bài 4 · Bài 5.9★Trang 59— Tính góc ở tâm giữa hai kim đồng hồ tại các thời điểm tròn giờ
Bài 5.9 (trang 59). Kim giờ và kim phút của một chiếc đồng hồ tạo thành góc ở tâm có số đo là bao nhiêu độ vào mỗi thời điểm sau: a) 3 giờ? b) 6 giờ? c) 8 giờ? d) 11 giờ?
Kiến thức cần nhớ
Mặt đồng hồ chia thành 12 khoảng bằng nhau, mỗi khoảng ứng với góc ở tâm 12360°=30°.
Ở đúng mỗi giờ (không có phút lẻ), kim phút luôn chỉ đúng vạch số 12.
🧠 Phân tích tư duy
Ở đúng mỗi giờ, kim phút luôn ở vị trí số 12, nên góc giữa hai kim chính là góc giữa vạch số 12 và vạch chỉ giờ tương ứng — chỉ cần đếm số khoảng (30° mỗi khoảng) giữa hai vạch đó. Bẫy của đề là ở câu c), d): khi số khoảng đếm được vượt quá 6 (tức góc thô vượt 180°), phải lấy 360° trừ đi để ra góc thực tế giữa hai kim (góc ở tâm nhỏ hơn hoặc bằng 180°).
1Cách 1. Đếm số khoảng chia rồi nhân với 30°
Định hướng. Ở đúng giờ, kim phút chỉ số 12; đếm số khoảng từ vạch 12 đến vạch chỉ giờ rồi nhân với 30°, lấy phần bù nếu vượt 180°.
a) 3 giờ: kim giờ cách kim phút 3 khoảng ⇒ góc =3×30°=90°. b) 6 giờ: kim giờ cách kim phút 6 khoảng ⇒ góc =6×30°=180°. c) 8 giờ: kim giờ cách kim phút 8 khoảng theo chiều thuận, tương ứng góc thô 8×30°=240°; vì 240°>180°, góc ở tâm thực tế là 360°−240°=120°. d) 11 giờ: kim giờ cách kim phút 11 khoảng, góc thô 11×30°=330°; góc ở tâm thực tế 360°−330°=30°.
Vậy a) 90°; b) 180°; c) 120°; d) 30°.
2Cách 2. Đếm theo chiều ngắn hơn ngay từ đầu
Định hướng. Với mỗi thời điểm, chọn ngay chiều đếm có số khoảng nhỏ hơn (tối đa 6 khoảng) để khỏi phải trừ lại.
a) 3 giờ: từ số 12 đến số 3 có 3 khoảng (chiều thuận đã là ngắn nhất) ⇒3×30°=90°. b) 6 giờ: từ số 12 đến số 6, hai chiều đều 6 khoảng ⇒6×30°=180°. c) 8 giờ: từ số 12 đến số 8 theo chiều ngược (qua số 11,10,9) chỉ có 12−8=4 khoảng ⇒4×30°=120°. d) 11 giờ: từ số 12 đến số 11 theo chiều ngược chỉ có 12−11=1 khoảng ⇒1×30°=30°.
Vậy a) 90°; b) 180°; c) 120°; d) 30°, khớp Cách 1.
3Cách 3. Dùng công thức tổng quát
Định hướng. Lập công thức tổng quát cho góc giữa hai kim ở đúng n giờ (n=1,…,12), rồi thay số.
Ở đúng n giờ, góc thô giữa kim giờ và kim phút (chỉ số 12) là 30n độ; góc ở tâm thực tế là g(n)=min(30n;360−30n). a) n=3: g(3)=min(90;270)=90°. b) n=6: g(6)=min(180;180)=180°. c) n=8: g(8)=min(240;120)=120°. d) n=11: g(11)=min(330;30)=30°.
Vậy a) 90°; b) 180°; c) 120°; d) 30°, khớp hai cách trên.
Nhận xét. Công thức g(n)=min(30n;360−30n) dùng được ngay cho mọi giờ tròn khác mà không cần đếm lại từng lần.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 2: chọn ngay chiều đếm ngắn hơn (không quá 6 khoảng) để khỏi phải tính rồi trừ lại từ 360°, giảm một bước tính so với Cách 1.
Đáp số.a) 90°. b) 180°. c) 120°. d) 30°.
Sai lầm thường gặp.Ở câu c), d), nhiều bạn quên rằng góc ở tâm giữa hai kim luôn được hiểu là góc không vượt quá 180°, nên dừng lại ở kết quả thô 240° hoặc 330° mà quên lấy 360° trừ đi.
🚀 Mở rộng.Nếu đề cho thời điểm có cả phút lẻ (ví dụ 8 giờ 24 phút), kim giờ không còn đứng đúng vạch số nữa mà lệch thêm 0,5° mỗi phút — khi đó phải cộng thêm lượng lệch này trước khi tính góc, đúng như cách tính vận tốc góc ở Bài 5.8 (SGK, trang 90).
Bài 5 · Bài 5.10★★Trang 59— Tính số đo cung bằng cách cộng, trừ các góc ở tâm liền kề
Bài 5.10 (trang 59). Cho ba điểm A, B và C nằm trên đường tròn (O) sao cho AOB=110° và sđAC=50° (với C nằm trên cung nhỏ AB). Tính số đo của cung lớn BC.
Kiến thức cần nhớ
Số đo cung nhỏ bằng số đo góc ở tâm chắn cung đó; số đo cung lớn bằng 360° trừ số đo cung nhỏ chung hai mút.
Nếu điểm C nằm trên cung AB thì sđ cung AB = sđ cung AC + sđ cung CB (tính chất cộng cung, giống Nhận xét ở Ví dụ 2–3, Bài 14).
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho góc ở tâm AOB=110° (tức sđ cung nhỏ AB=110°) và sđ cung nhỏ AC=50°, với C nằm trên cung nhỏ AB — dấu hiệu để dùng tính chất cộng cung: cung nhỏ AB được chia thành hai cung liền kề AC và CB bởi điểm C ở giữa. Từ đó suy ra ngay cung nhỏ CB bằng hiệu hai cung đã biết, rồi lấy 360° trừ đi để ra cung lớn BC theo đúng công thức đã học. Bẫy của đề là nhầm lẫn giữa 'cung nhỏ BC' (hiệu hai cung) với 'cung lớn BC' (phần bù của cung nhỏ) — đề hỏi đúng cung lớn.
1Cách 1. Cộng cung rồi lấy phần bù với 360°
Định hướng. Dùng tính chất cộng cung để tìm cung nhỏ BC trước, rồi suy ra cung lớn.
Vì AOB=110° nên sđ cung nhỏ AB=110°. Vì C nằm trên cung nhỏ AB nên sđ cung AB = sđ cung AC + sđ cung CB: 110°=50°+ sđ cung CB. Suy ra sđ cung nhỏ CB=110°−50°=60°. Cung lớn BC là phần còn lại của đường tròn: sđ cung lớn BC=360°−60°=300°.
Vậy số đo cung lớn BC bằng 300°.
2Cách 2. Dùng góc ở tâm trực tiếp
Định hướng. Tính trực tiếp góc ở tâm BOC bằng hiệu hai góc ở tâm đã biết, rồi suy ra cung lớn.
Vì C nằm trên cung nhỏ AB nên tia OC nằm giữa hai tia OA, OB, do đó AOB=AOC+COB. Mà AOC= sđ cung nhỏ AC=50° và AOB=110°, nên COB=110°−50°=60°. Góc ở tâm COB=60° chắn cung nhỏ BC, tức sđ cung nhỏ BC=60°. Sđ cung lớn BC=360°−60°=300°.
Vậy số đo cung lớn BC bằng 300°, khớp Cách 1.
3Cách 3. Tính trực tiếp cung lớn bằng tổng hai cung lớn thành phần trừ đi cả vòng
Định hướng. Biểu diễn cung lớn BC trực tiếp qua cung lớn AB và cung nhỏ AC, không cần tính cung nhỏ BC trước.
Vì C nằm trên cung nhỏ AB nên cung lớn AB (đi từ B vòng qua phía đối diện tới A) không chứa C: sđ cung lớn AB=360°−110°=250°. Cung lớn BC chính là cung lớn AB nối tiếp thêm cung nhỏ AC: sđ cung lớn BC= sđ cung lớn AB+ sđ cung nhỏ AC=250°+50°=300°.
Vậy số đo cung lớn BC bằng 300°, khớp hai cách trên.
Nhận xét. Ba cách đều quy về phép cộng — trừ cung liền kề, chỉ khác thứ tự nhóm các cung, giúp kiểm tra chéo kết quả khi làm bài thi.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: cộng cung để ra cung nhỏ BC trước rồi lấy 360° trừ đi là thao tác ngắn nhất, ít bước tính nhất trong ba cách.
Đáp số.Số đo cung lớn BC bằng 300°.
Sai lầm thường gặp.Hay nhầm lẫn dừng lại ở kết quả cung NHỎ BC=60° rồi ghi luôn là đáp số, quên đề hỏi cung LỚN BC (phải lấy 360° trừ đi mới đúng).
🚀 Mở rộng.Nếu đổi vị trí C sang cung lớn AB (không còn nằm giữa A,B trên cung nhỏ) thì công thức cộng cung sẽ đổi dạng khác — cách 3 (cộng cung lớn với cung nhỏ liền kề) là kĩ thuật tổng quát dùng được cho mọi cách sắp xếp ba điểm trên đường tròn.