Chương III. Tứ giác

Bài 12. Hình bình hành

SGK Toán 8 — Kết nối tri thức, tập 1 · 19 bài tập, mỗi câu ít nhất 2 cách giải.

Bài 1 · Mở đầu★★★Trang 57— Dựng đường thẳng qua một điểm cho trước sao cho giao điểm với hai đường thẳng cắt nhau cách đều điểm đó
Mở đầu (trang 57). Hai con đường lớn và cắt nhau tạo thành một góc. Bên trong góc đó có một điểm dân cư . Phải mở một con đường thẳng đi qua như thế nào để theo con đường đó, hai đoạn đường từ điểm đến hai con đường và bằng nhau (các con đường đều là đường thẳng) (H.3.27)?
abO
Kiến thức cần nhớ
  • Tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường là một hình bình hành (Định lí 3b).
  • Hai đường chéo của một hình bình hành cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường (Định lí 1c).
  • Phép đối xứng tâm biến một đoạn thẳng thành đoạn thẳng bằng nó.
🧠 Phân tích tư duy
Đề không cho số đo nào, chỉ cho một điểm và hai đường thẳng cắt nhau — dấu hiệu của bài toán DỰNG HÌNH, phải tìm cách vẽ chứ không tính toán. Gọi là giao điểm của , ; nếu đường cần mở cắt , lần lượt tại , thì yêu cầu nghĩa là là trung điểm — đây chính là dấu hiệu nhận biết hình bình hành bằng đường chéo sẽ học ở mục 2. Bẫy của đề là dễ nghĩ phải là một đỉnh, trong khi thực chất là tâm (giao điểm hai đường chéo) của một hình bình hành có hai cạnh nằm trên và .
1Cách 1. Dựng bằng phép đối xứng tâm qua O

Định hướng. Muốn là trung điểm của đoạn nối hai giao điểm trên , , ta dựng hình bình hành nhận làm tâm và hai cạnh nằm trên , .

Gọi là giao điểm của và ; lấy đối xứng với qua (tức là trung điểm )
Qua kẻ đường thẳng song song với , cắt tại
Qua kẻ đường thẳng song song với , cắt tại
Tứ giác có và nên là hình bình hành
Trong hình bình hành , hai đường chéo và cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường (Định lí 1c), mà là trung điểm , nên cũng là trung điểm , tức

Vậy đường thẳng đi qua , cắt tại , cắt tại , chính là con đường cần mở, vì .

2Cách 2. Dựng bằng toạ độ (vectơ)

Định hướng. Đặt toạ độ với gốc tại giao điểm của , , biểu diễn , theo một ẩn rồi dùng điều kiện là trung điểm để tìm chúng.

Chọn làm gốc, gọi , lần lượt là vectơ chỉ phương của , ; đặt trên , trên
Điều kiện là trung điểm :
Vì , không cùng phương nên hệ này có nghiệm , duy nhất (toạ độ trong cơ sở , )
Với , tìm được, xác định trên , trên tương ứng

Vậy luôn tồn tại duy nhất một đường thẳng qua thoả mãn yêu cầu, đó là đường thẳng .

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi trình bày Cách 1: chỉ dùng compa – thước, dựng được ngay bằng các định lí vừa học trong bài, không cần lập hệ toạ độ.
Đáp số. Con đường cần mở là đường thẳng đi qua , với , là hai đỉnh còn lại của hình bình hành dựng như Cách 1 ( đối xứng với qua ).
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là vẽ đại một đường thẳng qua rồi đo bằng mắt cho "trông cân" — cách này không dựng được chính xác bằng thước, compa. Ví dụ nếu chọn bừa một đường qua không theo hướng đã dựng, hai đoạn tới và nói chung không bằng nhau.
🚀 Mở rộng. Bài toán mở rộng: cho ba đường thẳng đôi một cắt nhau và một điểm không nằm trên đường nào, có luôn dựng được một đường thẳng qua cắt cả ba đường tại các điểm cách đều không? Đáp án là không, vì điều kiện cách đều với ba đường lại thêm một ràng buộc.
Bài 2 · HĐ1★Trang 57— Nhận biết hình bình hành trên lưới ô vuông bằng định nghĩa
HĐ1 (trang 57). Trong Hình 3.28, có một hình bình hành. Đó là hình nào? Em có thể giải thích tại sao không?
ABCD
Kiến thức cần nhớ
  • Hình bình hành là tứ giác có các cạnh đối song song.
  • Trên lưới ô vuông, hai đoạn thẳng có cùng độ dời ngang và độ dời dọc thì song song và bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Ba tứ giác cho trên cùng một lưới ô vuông, nên dấu hiệu để nhận ra ngay là ĐẾM Ô: cạnh nào cùng số ô ngang, cùng số ô dọc với cạnh đối diện thì hai cạnh đó song song và bằng nhau. Bẫy của đề là hình a) và b) trông cũng cân đối nhưng cạnh đối không cùng "độ dời" trên lưới nên không song song.
1Cách 1. Đếm độ dời ngang – dọc trên lưới (vectơ)

Định hướng. So sánh độ dời của mỗi cạnh với cạnh đối diện; độ dời bằng nhau thì hai cạnh song song và bằng nhau.

Ở Hình 3.28c: từ đến dời ô (2 ô sang phải, 3 ô lên), từ đến cũng dời ô (2 ô sang phải, 3 ô lên), suy ra và
Từ đến dời ô, từ đến cũng dời ô, suy ra và
Ở Hình 3.28a và 3.28b, cặp cạnh đối không cùng độ dời nên không song song

Vậy tứ giác ở Hình 3.28c là hình bình hành vì có hai cặp cạnh đối song song; Hình 3.28a, 3.28b không phải hình bình hành.

2Cách 2. So sánh hệ số góc (độ dốc) của mỗi cạnh

Định hướng. Hai đường thẳng trên lưới song song khi và chỉ khi có cùng hệ số góc (cùng tỉ số dọc : ngang).

Hệ số góc của là , hệ số góc của cũng là , hai cạnh cùng hệ số góc nên
Hệ số góc của là (nằm ngang), hệ số góc của cũng là , nên
Độ dài mỗi cặp cạnh bằng nhau vì cùng số ô dời

Vậy tứ giác ở Hình 3.28c có hai cặp cạnh đối song song và bằng nhau nên là hình bình hành.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: đếm ô trực tiếp, ít khả năng nhầm hơn tính hệ số góc.
Đáp số. Tứ giác ở Hình 3.28c) là hình bình hành vì có , (hai cặp cạnh đối song song).
Sai lầm thường gặp. Nhiều em nhìn hình a) thấy "gần giống" hình bình hành rồi kết luận bừa; kiểm bằng đếm ô sẽ thấy cạnh và ở hình a) không cùng độ dời nên không song song — đây không phải hình bình hành dù trông khá cân đối.
🚀 Mở rộng. Với tứ giác bất kỳ trên lưới ô vuông có toạ độ nguyên, có thể kiểm tra nhanh là hình bình hành hay không bằng cách so sánh với : bằng nhau thì chắc chắn là hình bình hành, không cần đếm từng cặp cạnh.
Bài 3 · Thực hành 1★★Trang 58— Dựng hình bình hành khi biết hai cạnh liên tiếp và góc xen giữa
Thực hành 1 (trang 58). Vẽ hình bình hành, biết hai cạnh liên tiếp bằng cm, cm và góc xen giữa hai cạnh đó bằng . Hãy mô tả cách vẽ và giải thích tại sao hình vẽ được là hình bình hành.
60°DABC4 cm3 cm
Kiến thức cần nhớ
  • Hình bình hành có các cạnh đối song song và bằng nhau.
  • Dựng góc cho trước bằng thước đo góc; dựng đoạn thẳng cho trước độ dài bằng compa hoặc thước có chia khoảng.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho đúng ba dữ kiện của một tam giác (hai cạnh và góc xen giữa) — dấu hiệu là dựng tam giác trước bằng thước đo góc và compa, rồi hoàn thiện đỉnh còn lại. Điểm mấu chốt là đỉnh thứ tư không tự do mà bị buộc bởi điều kiện các cạnh đối song song và bằng nhau.
1Cách 1. Dựng bằng thước đo góc và compa (dựng hình cổ điển)

Định hướng. Dựng trước góc tại một đỉnh với hai cạnh cm, cm, rồi dựng đỉnh thứ tư sao cho các cạnh đối song song và bằng nhau.

Vẽ đoạn cm
Tại , dùng thước đo góc vẽ tia sao cho ; trên tia đó lấy cm
Qua vẽ đường thẳng song song với ; qua vẽ đường thẳng song song với ; hai đường thẳng đó cắt nhau tại
Tứ giác có (theo cách dựng) và (theo cách dựng) nên là hình bình hành

Vậy dựng như trên là hình bình hành có cm, cm, , đúng yêu cầu đề bài.

2Cách 2. Dựng bằng compa, lấy B đối xứng qua trung điểm DC-DA (dùng đường chéo)

Định hướng. Thay vì kẻ hai đường song song, xác định thẳng đỉnh bằng compa dựa vào tính chất cạnh đối bằng nhau.

Vẽ đoạn cm và đoạn cm với như Cách 1
Dùng compa: vẽ cung tâm bán kính cm (bằng ) và cung tâm bán kính cm (bằng ); hai cung cắt nhau tại
Tứ giác có cm, cm, tức các cạnh đối bằng nhau, nên theo Định lí 2a, là hình bình hành

Vậy điểm dựng bằng hai cung tròn cho đúng một hình bình hành thoả mãn đề bài.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1 (hai đường song song): đây đúng định nghĩa hình bình hành nên giải thích gọn nhất, không cần viện tới Định lí 2 chưa học tới lúc này trong bài.
Đáp số. Hình bình hành với cm, cm, , dựng theo một trong hai cách trên.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là dựng góc ở sai đỉnh (chẳng hạn tại thay vì tại ) khiến hình vẽ ra tuy vẫn là hình bình hành nhưng có góc chứ không phải như đề cho — cần đọc kỹ góc xen giữa là góc tại đỉnh chung của hai cạnh đã cho.
🚀 Mở rộng. Nếu đổi góc xen giữa từ thành một góc bất kỳ (), cách dựng không đổi; khi hình bình hành dựng được trở thành hình chữ nhật.
Bài 4 · HĐ2★Trang 58— Ôn lại tính chất hình bình hành đã học ở Tiểu học/THCS trước bài mới
HĐ2 (trang 58). Hãy nêu các tính chất của hình bình hành mà em đã biết.
Kiến thức cần nhớ
  • Hình bình hành là tứ giác có các cạnh đối song song.
🧠 Phân tích tư duy
Đây là câu hỏi ôn lại kiến thức cũ trước khi vào Định lí 1, không có phép tính hay chứng minh nào để "giải nhiều cách" — chỉ cần liệt kê đúng và đủ các tính chất đã biết. Dấu hiệu nhận ra đây là câu hỏi tái hiện kiến thức là đề không cho số liệu, không yêu cầu chứng minh gì cả.
1Cách 1. Liệt kê các tính chất đã biết

Định hướng. Nhớ lại từ chương trình Tiểu học và các bài trước về tứ giác.

Trong hình bình hành, các cạnh đối song song và bằng nhau
Các góc đối bằng nhau
Hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường

Vậy đó là ba tính chất cơ bản của hình bình hành, sẽ được chứng minh chặt chẽ ở Định lí 1 ngay sau đây.

2Cách 2. Kiểm chứng lại bằng đo đạc trên một hình vẽ cụ thể

Định hướng. Thay vì chỉ nhớ lại, vẽ một hình bình hành cụ thể trên giấy kẻ ô rồi đo đạc trực tiếp để kiểm chứng từng tính chất.

Vẽ hình bình hành bất kì trên giấy kẻ ô
Dùng thước đo chiều dài: , (cạnh đối bằng nhau)
Dùng thước đo góc: , (góc đối bằng nhau)
Dùng thước đo khoảng cách từ giao điểm hai đường chéo tới bốn đỉnh: các khoảng cách bằng nhau từng đôi (đường chéo cắt nhau tại trung điểm)

Vậy phép đo trực tiếp cũng xác nhận đúng ba tính chất đã nêu ở Cách 1.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi (hoặc trả lời miệng) dùng Cách 1: nhớ lại trực tiếp ba tính chất, nhanh hơn nhiều so với việc vẽ hình rồi đo đạc như Cách 2.
Đáp số. Hình bình hành có: các cạnh đối bằng nhau; các góc đối bằng nhau; hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.
Sai lầm thường gặp. Dễ nhầm hình bình hành với hình thang cân (cũng có tính chất riêng nhưng khác): hình thang cân có hai cạnh bên bằng nhau và hai đường chéo bằng nhau, còn hình bình hành có các cạnh ĐỐI bằng nhau (không phải cạnh bên) và hai đường chéo không nhất thiết bằng nhau.
🚀 Mở rộng. Ba tính chất nêu ở đây sẽ được chứng minh đầy đủ bằng lập luận suy luận ở Định lí 1 của chính bài học này.
Bài 5 · HĐ3★★Trang 58— Chứng minh tính chất hình bình hành (Định lí 1) bằng tam giác bằng nhau
HĐ3 (trang 58). Cho hình bình hành (H.3.30).
a) Chứng minh . Từ đó suy ra , và .
b) Chứng minh . Từ đó suy ra .
c) Gọi giao điểm của hai đường chéo , là . Chứng minh . Từ đó suy ra , .
ABCDO
Kiến thức cần nhớ
  • Hai đường thẳng song song bị cắt bởi một cát tuyến tạo ra các cặp góc so le trong bằng nhau.
  • Trường hợp bằng nhau cạnh-góc-cạnh (c.g.c) và góc-cạnh-góc (g.c.g) của tam giác.
🧠 Phân tích tư duy
Cả ba câu đều xoay quanh việc kẻ một đường chéo (hoặc dùng cả hai) để tách hình bình hành thành các tam giác, rồi chứng minh chúng bằng nhau bằng trường hợp cạnh-góc-cạnh nhờ hai cặp cạnh song song cho ra các cặp góc so le trong bằng nhau. Bẫy của bài là ở câu c: phải dùng KẾT QUẢ của câu a () làm dữ kiện cạnh bằng nhau cho tam giác và , không thể chứng minh độc lập nếu bỏ qua câu a.
1Cách 1. Tam giác bằng nhau nhờ đường chéo (theo đúng gợi ý SGK)

Định hướng. Đường chéo tạo ra hai cặp góc so le trong bằng nhau vì , ; ghép với cạnh chung cho hai tam giác bằng nhau kiểu g.c.g.

nên (so le trong); nên (so le trong)
Xét và có , chung, , suy ra (g.c.g)
Do đó , (cạnh tương ứng) và (góc tương ứng) — đây là câu a)
Xét và có (vừa chứng minh), chung, (vừa chứng minh), suy ra (c.c.c), do đó — đây là câu b)
Vì nên , (so le trong); xét và có , (câu a), , suy ra (g.c.g), do đó , — đây là câu c)

Vậy cả ba câu a, b, c đều được chứng minh: cạnh đối bằng nhau, góc đối bằng nhau, hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.

2Cách 2. Toạ độ hoá bằng vectơ

Định hướng. Vì và nên có thể viết ; từ một đẳng thức vectơ duy nhất suy ra cả ba kết quả.

Đặt là gốc, , ; vì là hình bình hành nên
, suy ra và ; tương tự , suy ra — đây là câu a) và cũng cho vì , bằng nhau (hai cạnh và góc xen giữa bằng nhau theo vectơ đối)
Từ , , cạnh chung, suy ra (c.c.c), cho — câu b)
Trung điểm có toạ độ ; trung điểm có toạ độ , hai trung điểm trùng nhau nên là trung điểm chung, do đó , — câu c)

Vậy bằng vectơ cũng suy ra đầy đủ ba kết quả của câu a, b, c.

3Cách 3. Dùng phép đối xứng tâm O

Định hướng. Nếu chứng minh được (giao điểm hai đường chéo) là trung điểm của , phép đối xứng tâm sẽ biến , và mang lại mọi kết quả còn lại.

, (giả thiết hình bình hành) nên (g.c.g, như Cách 1), suy ra , , — câu a)
Từ , , cạnh chung, (c.c.c), suy ra — câu b)
Xét phép đối xứng tâm : vì và nên là ảnh của qua một phép đối xứng tâm nào đó cùng lúc với là ảnh của , và tâm đối xứng chính là giao điểm hai đường chéo
Do đó là trung điểm chung của và , tức , — câu c)

Vậy cách nhìn bằng đối xứng tâm cũng khẳng định lại đầy đủ Định lí 1.

Nhận xét. Cách 1 là cách chuẩn mực nhất để trình bày trong bài kiểm tra vì chỉ dùng tam giác bằng nhau, không cần khái niệm vectơ hay phép biến hình.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần hai lần tam giác bằng nhau liên tiếp, đúng theo gợi ý SGK và không đòi hỏi kiến thức vectơ chưa chắc mọi lớp đã học.
Đáp số. a) , , . b) . c) , .
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp ở câu c) là chứng minh mà không dùng lại kết quả của câu a), rồi lấy bừa "cạnh , bằng nhau" làm giả thiết — trong khi chính là điều CẦN chứng minh, không được dùng làm giả thiết trước.
🚀 Mở rộng. Từ ba kết quả này suy ra ngay Nhận xét của SGK: trong một hình bình hành, hai góc kề một cạnh bất kì luôn bù nhau (vì do , hai góc trong cùng phía).
Bài 6 · Câu hỏi (trang 59)★Trang 59— Viết giả thiết – kết luận của một định lí hình học
Câu hỏi (trang 59). Hãy viết giả thiết, kết luận của Định lí 2.
Kiến thức cần nhớ
  • Định lí 2: a) Tứ giác có các cạnh đối bằng nhau là một hình bình hành. b) Tứ giác có một cặp cạnh đối song song và bằng nhau là một hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
Định lí 2 có hai ý a), b) với giả thiết khác nhau (cạnh đối bằng nhau; hoặc một cặp cạnh đối song song và bằng nhau), nên khi viết GT – KL cần tách rõ hai trường hợp, không gộp chung. Dấu hiệu để tách đúng là đọc kỹ từng ý a), b) của định lí rồi mới gọi tên các cạnh liên quan.
1Cách 1. Viết GT – KL bằng lời và ký hiệu

Định hướng. Giả thiết là điều đã cho (về cạnh), kết luận là điều cần chỉ ra ( là hình bình hành).

Ý a): : Tứ giác có , — : là hình bình hành
Ý b): : Tứ giác có và — : là hình bình hành

Vậy đó là giả thiết, kết luận của Định lí 2, ứng với hai dấu hiệu nhận biết theo cạnh.

2Cách 2. Minh hoạ GT – KL trực tiếp trên hình vẽ

Định hướng. Thay vì viết bằng lời, đánh dấu ngay các cạnh bằng nhau, song song lên một hình vẽ tứ giác , cách trình bày quen thuộc trong SGK.

Ý a): vẽ tứ giác , đánh dấu cùng một kí hiệu (gạch chéo) lên cặp cạnh , và cặp cạnh , để thể hiện : hai cặp cạnh đối bằng nhau
Ý b): vẽ tứ giác , đánh dấu mũi tên song song lên cặp cạnh , kèm kí hiệu bằng nhau để thể hiện : một cặp cạnh đối vừa song song vừa bằng nhau
Ở cả hai hình, ghi chú thích : là hình bình hành ngay dưới hình vẽ

Vậy hình vẽ có đánh dấu cũng thể hiện đầy đủ đúng nội dung GT – KL như cách viết bằng lời ở Cách 1.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Khi làm bài kiểm tra nên dùng Cách 1 (viết bằng chữ và ký hiệu): rõ ràng, không phụ thuộc hình vẽ có sẵn hay không.
Đáp số. a) GT: có , — KL: là hình bình hành. b) GT: có , — KL: là hình bình hành.
Sai lầm thường gặp. Nhầm giả thiết của ý b) thành "một cặp cạnh đối song song" mà quên ghi thêm điều kiện "và bằng nhau" — thiếu điều kiện này thì tứ giác chỉ là hình thang, chưa chắc là hình bình hành.
🚀 Mở rộng. So sánh với Định lí 1 (chiều thuận: hình bình hành thì có tính chất cạnh, góc, đường chéo) để thấy Định lí 2, 3 chính là các mệnh đề đảo dùng làm dấu hiệu nhận biết.
Bài 7 · Luyện tập 1★★Trang 58— Chứng minh trung điểm chung của hai đoạn thẳng bằng tứ giác đặc biệt (hình bình hành)
Luyện tập 1 (trang 58). Cho tam giác . Từ một điểm tuỳ ý trên cạnh , kẻ đường thẳng song song với , cắt cạnh tại và kẻ đường thẳng song song với , cắt cạnh tại . Gọi là trung điểm của đoạn . Chứng minh rằng cũng là trung điểm của đoạn thẳng .
ABCMNPI
Kiến thức cần nhớ
  • Tứ giác có các cạnh đối song song là một hình bình hành (định nghĩa).
  • Hai đường chéo của hình bình hành cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường (Định lí 1c).
🧠 Phân tích tư duy
Hai cặp cạnh song song theo cách dựng ( vì kẻ song song, vì kẻ song song) là dấu hiệu ngay của một hình bình hành ; một khi nhận ra tứ giác là hình bình hành thì trung điểm hai đường chéo trùng nhau là hệ quả tức thời của Định lí 1. Bẫy hay gặp là đặt tên tứ giác sai thứ tự đỉnh khiến việc gọi cạnh đối, đường chéo bị nhầm lẫn.
1Cách 1. Nhận ra tứ giác APMN là hình bình hành

Định hướng. và chính là hai đường chéo của tứ giác ; chỉ cần chỉ ra là hình bình hành.

(theo cách dựng), tức
(theo cách dựng), tức
Tứ giác có và nên là hình bình hành
Hai đường chéo và của hình bình hành cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường (Định lí 1c)
Mà là trung điểm của nên cũng chính là giao điểm hai đường chéo đó

Vậy là trung điểm của đoạn thẳng .

2Cách 2. Dùng đường trung bình của tam giác

Định hướng. trong tam giác nên là một phần của đường thẳng cắt hai cạnh, dùng định lí Thalès để so sánh đoạn thẳng thay cho việc gọi tên hình bình hành.

nên (định lí Thalès trong ), suy ra theo tỉ lệ tương ứng
Tương tự cho , cùng tỉ lệ với và
Xét tứ giác : vì các tỉ lệ trên khớp nhau, và , tức các cạnh đối bằng nhau, nên theo Định lí 2a, là hình bình hành
Hai đường chéo , của hình bình hành này cắt nhau tại trung điểm mỗi đường, mà là trung điểm

Vậy cũng là trung điểm của .

3Cách 3. Toạ độ hoá bằng vectơ

Định hướng. Biểu diễn , , theo hai vectơ cạnh , rồi tính toạ độ trung điểm và so sánh với .

Đặt làm gốc, , ; gọi trên với ứng với tỉ số
Vì và trên nên (cùng tung độ theo với )
Vì và trên nên (cùng hoành độ theo với )
Trung điểm là , đúng bằng

Vậy trung điểm của trùng với trung điểm của , tức là trung điểm .

Nhận xét. Cách 1 ngắn gọn nhất vì chỉ cần một câu "tứ giác có hai cặp cạnh đối song song".

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: nhận ra ngay hình bình hành từ chính cách dựng của đề, rồi áp thẳng Định lí 1c — chỉ ba dòng.
Đáp số. là trung điểm của đoạn thẳng (vì là hình bình hành nhận , làm hai đường chéo).
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là gọi tên tứ giác lộn thứ tự thành hay khiến cặp cạnh đối bị hiểu sai (nhầm đối với thành kề ), dẫn tới lập luận sai đường chéo. Cần xác định đúng thứ tự đỉnh đi vòng quanh tứ giác trước khi gọi tên cạnh đối, đường chéo.
🚀 Mở rộng. Kết quả này chính là bổ đề dùng để chứng minh đường trung bình của tam giác đi qua trung điểm hai cạnh và song song với cạnh thứ ba — sẽ gặp lại ở Bài 13.
Bài 8 · Tranh luận★★Trang 59— Phản biện một mệnh đề đảo sai bằng phản ví dụ (hình bình hành)
Tranh luận (trang 59). Tròn: "Hình thang cân thì có hai cạnh bên bằng nhau. Ngược lại, hình thang có hai cạnh bên bằng nhau thì nó là hình thang cân." Vuông: "Tròn sai rồi! Có trường hợp hình thang có hai cạnh bên bằng nhau nhưng nó lại là hình bình hành mà không phải là hình thang cân." Theo em, bạn nào đúng? Vì sao?
Kiến thức cần nhớ
  • Hình thang cân là hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau (hoặc hai đường chéo bằng nhau).
  • Hình bình hành là hình thang có hai cặp cạnh đối song song, và hai cạnh bên (cũng là một cặp cạnh đối) luôn bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Mệnh đề của Tròn là mệnh đề ĐẢO của một tính chất đúng (hình thang cân có hai cạnh bên bằng nhau), mà mệnh đề đảo không phải lúc nào cũng đúng — dấu hiệu để nghi ngờ là phải tìm phản ví dụ: một hình thang có hai cạnh bên bằng nhau nhưng không cân. Hình bình hành đúng là hình thang đặc biệt (có một cặp cạnh đối song song là ) mà lại có cả hai cạnh bên bằng nhau — đúng như Vuông chỉ ra.
1Cách 1. Chỉ ra phản ví dụ cụ thể (hình bình hành)

Định hướng. Muốn bác bỏ một mệnh đề "nếu ... thì ...", chỉ cần một trường hợp thoả giả thiết mà không thoả kết luận.

Xét hình bình hành bất kì không phải hình chữ nhật, coi , là hai đáy
là hình thang vì ; hai cạnh bên , bằng nhau (tính chất cạnh đối của hình bình hành, Định lí 1a)
Nhưng không phải hình thang cân, vì hai góc kề đáy và không bằng nhau (chúng là hai góc trong cùng phía bù nhau chứ không bằng nhau, trừ khi hình chữ nhật)

Vậy hình bình hành không phải hình chữ nhật là một hình thang có hai cạnh bên bằng nhau nhưng không phải hình thang cân, nên Vuông đúng, Tròn sai.

2Cách 2. Lập luận từ định nghĩa hình thang cân

Định hướng. Xem lại đúng định nghĩa hình thang cân để thấy điều kiện "hai cạnh bên bằng nhau" không nằm trong định nghĩa, chỉ là hệ quả một chiều.

Định nghĩa: hình thang cân là hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau
Từ định nghĩa suy ra được hai cạnh bên bằng nhau (chiều thuận đã học), nhưng định nghĩa không nói điều ngược lại
Ở hình bình hành, hai cạnh bên bằng nhau do tính chất CẠNH ĐỐI (Định lí 1a) chứ không xuất phát từ hai góc kề đáy bằng nhau — hai góc kề đáy của nó nói chung khác nhau

Vậy hai cạnh bên bằng nhau có thể đến từ hai nguyên nhân khác nhau (thang cân, hoặc bình hành), nên mệnh đề đảo của Tròn sai; Vuông đúng.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: đưa ngay một phản ví dụ cụ thể là cách bác bỏ mệnh đề sai thuyết phục và nhanh nhất, không cần lập luận về định nghĩa dài dòng.
Đáp số. Vuông đúng, Tròn sai: hình bình hành (không phải hình chữ nhật) là phản ví dụ — có hai cạnh bên bằng nhau nhưng không phải hình thang cân.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm của Tròn là áp dụng ngược một tính chất đúng chiều thuận (hình thang cân ⟹ hai cạnh bên bằng nhau) thành mệnh đề đảo mà không kiểm tra — đây là lỗi logic rất phổ biến khi học các dấu hiệu nhận biết hình.
🚀 Mở rộng. Điều kiện đúng để "hình thang có hai cạnh bên bằng nhau" chắc chắn là hình thang cân là phải thêm giả thiết hai cạnh bên đó KHÔNG song song với nhau (loại trừ trường hợp hình bình hành).
Bài 9 · Luyện tập 2★★★Trang 60— Tam giác cân tạo bởi tia phân giác và cạnh song song; nhận biết hình bình hành từ hai đoạn thẳng song song, bằng nhau
Luyện tập 2 (trang 60). Cho hình bình hành (). Tia phân giác của góc cắt tại và tia phân giác của góc cắt tại (H.3.32).
a) Chứng minh hai tam giác và là những tam giác cân, bằng nhau.
b) Tứ giác là hình gì? Tại sao?
ABCDEF
Kiến thức cần nhớ
  • Nếu một cạnh bị hai đường thẳng song song cắt tạo góc so le trong bằng góc đã cho thì tam giác tạo thành là tam giác cân.
  • Định lí 2b: tứ giác có một cặp cạnh đối song song và bằng nhau là hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
Tia phân giác của cắt tạo ra hai góc so le trong bằng nhau với , ghép với chính góc bị chia đôi cho ra một tam giác cân — đây là mô hình quen thuộc "phân giác + hai đường song song = tam giác cân". Sau khi có và , bẫy tiếp theo là phải quy các đoạn này về cùng độ dài để so sánh và suy ra là hình bình hành bằng dấu hiệu cạnh đối song song và bằng nhau.
1Cách 1. Dùng góc so le trong để chỉ ra tam giác cân, rồi so cạnh

Định hướng. Từ suy ra góc so le trong giữa tia phân giác và cạnh , ghép với tính chất phân giác chia đôi góc.

là phân giác nên ; vì nên (so le trong)
Suy ra , do đó cân tại , tức
Tương tự, là phân giác và cho , nên cân tại , tức
Vì là hình bình hành nên (Định lí 1a), kết hợp , suy ra
Xét và có , (góc đối hình bình hành, Định lí 1b), , suy ra (c.g.c)

Vậy và là hai tam giác cân (tại và tại ) và bằng nhau — đây là câu a).

Nhận xét. Câu b): có và (cùng nằm trên , song song), nên theo Định lí 2b, là hình bình hành.

2Cách 2. Tính trực tiếp độ dài DF, EB rồi so sánh

Định hướng. Thay vì so hai tam giác, tính thẳng và theo , , để so sánh, dùng cho cả câu a) lẫn b) cùng lúc.

cân tại (như Cách 1) cho ; đặt , ( theo giả thiết )

cân tại cho , suy ra
Vậy , và (vì cùng nằm trên hai đường thẳng song song , )
và có , , ... xét cạnh , bằng nhau qua tam giác cân có hai cạnh bên bằng và góc ở đỉnh bằng nhau (góc đối góc ), nên (c.g.c)

Vậy hai tam giác cân bằng nhau (câu a), và có , nên là hình bình hành (câu b, theo Định lí 2b).

3Cách 3. Dùng đối xứng tâm quanh tâm hình bình hành

Định hướng. Phép đối xứng tâm qua giao điểm hai đường chéo của biến , , nên biến luôn phân giác góc thành phân giác góc .

Gọi là giao điểm hai đường chéo của ; phép đối xứng tâm biến , , (Định lí 1c)
Phép đối xứng tâm biến tia phân giác của (tại ) thành tia phân giác của góc đối đỉnh tương ứng tại , tức là ảnh của tia chính là tia vì đối với qua tâm
Do đó ảnh của điểm (trên ) qua phép đối xứng tâm chính là điểm (trên ), suy ra là trung điểm và , là ảnh của nhau qua phép đối xứng tâm nên bằng nhau và cân như nhau
Vì cũng là trung điểm (đường chéo của ), tứ giác có hai đường chéo , cùng nhận làm trung điểm

Vậy theo Định lí 3b, là hình bình hành, đồng thời hai tam giác , bằng nhau vì là ảnh của nhau qua phép đối xứng tâm .

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: chỉ dùng góc so le trong và một lần c.g.c, không cần đặt ẩn độ dài như Cách 2 hay khái niệm phép đối xứng tâm như Cách 3.
Đáp số. a) cân tại , cân tại , và . b) là hình bình hành (có và ).
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là cho rằng , đối xứng nhau qua tâm một cách hiển nhiên mà không chứng minh; thực chất đây là một KẾT QUẢ cần suy ra từ và , chứ không phải điều được cho sẵn trong đề.
🚀 Mở rộng. Nếu (hình bình hành trở thành hình thoi) thì , , tứ giác suy biến — bài toán chỉ thật sự có nghĩa khi như giả thiết đã nêu.
Bài 10 · Thực hành 2★Trang 60— Nhận biết hình bình hành từ bốn đoạn có độ dài bằng nhau từng cặp xen kẽ
Thực hành 2 (trang 60). Chia một sợi dây xích thành bốn đoạn: hai đoạn dài bằng nhau, hai đoạn ngắn bằng nhau và đoạn dài, đoạn ngắn xen kẽ nhau. Hỏi khi móc hai đầu mút của sợi dây xích đó lại để được một tứ giác (có các đỉnh tại các điểm chia) như Hình 3.33 thì tứ giác là hình gì? Tại sao?
ABCD
Kiến thức cần nhớ
  • Định lí 2a: tứ giác có các cạnh đối bằng nhau là một hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
Bốn đoạn dây xếp xen kẽ dài – ngắn – dài – ngắn khi ghép thành tứ giác chính là bốn cạnh liên tiếp, mà "xen kẽ" nghĩa là hai cạnh ĐỐI của tứ giác cùng độ dài (cạnh 1 đối cạnh 3, cạnh 2 đối cạnh 4) — đúng dấu hiệu cạnh đối bằng nhau của Định lí 2a. Không cần đo đạc gì thêm ngoài việc xác định đúng cặp cạnh nào là cạnh đối trong tứ giác vừa ghép.
1Cách 1. Dùng trực tiếp Định lí 2a

Định hướng. Xác định đúng cặp cạnh nào đối nhau trong tứ giác rồi so độ dài.

Bốn đoạn dây xếp xen kẽ dài, ngắn, dài, ngắn tạo thành bốn cạnh liên tiếp , , , của tứ giác
Cạnh và cạnh là hai đoạn "dài" (cách nhau một đoạn ngắn ở giữa) nên
Cạnh và cạnh là hai đoạn "ngắn" nên
Tứ giác có các cạnh đối bằng nhau (, )

Vậy theo Định lí 2a, tứ giác là hình bình hành.

2Cách 2. Kẻ một đường chéo, dùng tam giác bằng nhau

Định hướng. Không nhớ ngay Định lí 2a thì có thể chứng minh lại từ đầu bằng cách kẻ đường chéo, quy về hai tam giác bằng nhau rồi suy ra cạnh đối song song.

Kẻ đường chéo ; xét và có (hai đoạn dài), (hai đoạn ngắn), chung, suy ra (c.c.c)
Suy ra (hai góc so le trong bằng nhau), do đó
Suy ra , do đó

Vậy có hai cặp cạnh đối song song nên là hình bình hành (đúng theo định nghĩa).

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: áp trực tiếp Định lí 2a vừa học, chỉ cần một câu xác định đúng cặp cạnh đối bằng nhau.
Đáp số. Tứ giác là hình bình hành, vì có các cặp cạnh đối bằng nhau (hai đoạn dây dài bằng nhau, hai đoạn dây ngắn bằng nhau, xếp xen kẽ).
Sai lầm thường gặp. Nếu xếp bốn đoạn dây theo thứ tự dài, dài, ngắn, ngắn (không xen kẽ) thay vì dài, ngắn, dài, ngắn thì hai cạnh kề nhau bằng nhau chứ không phải cạnh ĐỐI bằng nhau — tứ giác đó nói chung không phải là hình bình hành (chỉ là tứ giác có hai cặp cạnh kề bằng nhau, dạng "hình cái diều").
🚀 Mở rộng. Nếu bốn đoạn dây bằng nhau cả bốn (không phân biệt dài ngắn) thì tứ giác ghép được là một hình thoi — trường hợp đặc biệt của hình bình hành.
Bài 11 · Câu hỏi (trang 60)★Trang 60— Viết giả thiết – kết luận của một định lí hình học
Câu hỏi (trang 60). Hãy viết giả thiết, kết luận của Định lí 3.
Kiến thức cần nhớ
  • Định lí 3: a) Tứ giác có các góc đối bằng nhau là một hình bình hành. b) Tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường là một hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
Định lí 3 cũng có hai ý a), b) như Định lí 2, với giả thiết về góc đối hoặc về đường chéo, nên viết GT – KL cần tách hai trường hợp rõ ràng, không viết gộp một dòng. Cần đặc biệt chú ý ý b) phải nêu rõ tên giao điểm hai đường chéo trước khi viết điều kiện bằng nhau.
1Cách 1. Viết GT – KL bằng lời và ký hiệu

Định hướng. Giả thiết là điều đã cho (về góc hoặc đường chéo), kết luận là là hình bình hành.

Ý a): : Tứ giác có , — : là hình bình hành
Ý b): : Tứ giác có cắt tại với , — : là hình bình hành

Vậy đó là giả thiết, kết luận của Định lí 3, ứng với hai dấu hiệu nhận biết theo góc và theo đường chéo.

2Cách 2. Minh hoạ GT – KL trực tiếp trên hình vẽ

Định hướng. Đánh dấu ngay các góc bằng nhau hoặc các đoạn bằng nhau trên hình vẽ tứ giác , thay cho cách viết bằng chữ.

Ý a): vẽ tứ giác , đánh dấu cung tròn cùng kí hiệu tại đỉnh và , cùng kí hiệu khác tại đỉnh và , để thể hiện : hai cặp góc đối bằng nhau
Ý b): vẽ tứ giác với hai đường chéo cắt nhau tại , đánh dấu cùng một kí hiệu (gạch chéo) lên bốn đoạn , và một kí hiệu khác lên , để thể hiện : hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường
Ở cả hai hình, ghi chú thích : là hình bình hành ngay dưới hình vẽ

Vậy hình vẽ có đánh dấu cũng thể hiện đầy đủ đúng nội dung GT – KL như cách viết bằng lời ở Cách 1.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Khi làm bài kiểm tra nên dùng Cách 1 (viết bằng chữ và ký hiệu): tránh phải vẽ lại hình mỗi lần và dễ chấm điểm hơn.
Đáp số. a) GT: có , — KL: là hình bình hành. b) GT: , , — KL: là hình bình hành.
Sai lầm thường gặp. Nhầm ý a) chỉ cần MỘT cặp góc đối bằng nhau (chẳng hạn chỉ ) là đủ kết luận hình bình hành — thực ra định lí đòi hỏi CẢ HAI cặp góc đối cùng bằng nhau.
🚀 Mở rộng. Có thể chứng minh chỉ cần và là đủ suy ra cả bốn góc thoả mãn vì tổng bốn góc tứ giác luôn bằng , nhưng đó là một bài toán suy luận thêm, không phải phát biểu gốc của định lí.
Bài 12 · Luyện tập 3★★Trang 61— Chứng minh hai đoạn thẳng song song và bằng nhau bằng dấu hiệu đường chéo hình bình hành
Luyện tập 3 (trang 61). Cho hai điểm , phân biệt và điểm không nằm trên đường thẳng . Gọi , là các điểm sao cho là trung điểm của , . Chứng minh rằng và đường thẳng song song với đường thẳng .
ABOA'B'
Kiến thức cần nhớ
  • Định lí 3b: tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường là một hình bình hành.
  • Định lí 1a: trong hình bình hành, các cạnh đối song song và bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
là trung điểm chung của cả lẫn — đúng dấu hiệu "hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường" của Định lí 3b, chỉ cần coi và là hai đường chéo của tứ giác (hoặc tuỳ thứ tự) là suy ra ngay hình bình hành, kéo theo cạnh đối song song và bằng nhau. Bẫy của bài là dễ gọi nhầm tên tứ giác khiến xác định sai đâu là đường chéo, đâu là cạnh.
1Cách 1. Nhận ra AA', BB' là hai đường chéo của một hình bình hành

Định hướng. Xét tứ giác có hai đường chéo đúng là và .

là trung điểm của và cũng là trung điểm của (giả thiết)
Tứ giác có hai đường chéo , cắt nhau tại là trung điểm của mỗi đường
Theo Định lí 3b, tứ giác là hình bình hành
Trong hình bình hành đó, cạnh và cạnh là một cặp cạnh đối, nên và (Định lí 1a)

Vậy và đường thẳng song song với đường thẳng .

2Cách 2. Tam giác bằng nhau qua hai cạnh và góc đối đỉnh

Định hướng. Vì là trung điểm của cả hai đoạn nên và có hai cặp cạnh bằng nhau và góc xen giữa là hai góc đối đỉnh.

( là trung điểm ), ( là trung điểm )
(hai góc đối đỉnh)
Xét và có , , , suy ra (c.g.c)
Suy ra (cạnh tương ứng) và (góc tương ứng), mà hai góc này ở vị trí so le trong của cát tuyến với hai đường thẳng ,

Vậy và (vì có cặp góc so le trong bằng nhau).

3Cách 3. Toạ độ hoá bằng vectơ (phép đối xứng tâm)

Định hướng. , chính là ảnh của , qua phép đối xứng tâm ; phép đối xứng tâm bảo toàn độ dài đoạn thẳng và biến một đường thẳng thành đường thẳng song song với nó.

Vì là trung điểm nên ; vì là trung điểm nên

Suy ra , tức hai vectơ cùng độ dài, ngược hướng

Vậy và (hai vectơ đối nhau nằm trên hai đường thẳng song song).

Nhận xét. Cách 3 cho luôn cả chiều của ngược với , thông tin mà Cách 1, 2 không thể hiện trực tiếp.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: nhận ra ngay là hình bình hành theo Định lí 3b vừa học trong chính bài này, chỉ cần hai dòng.
Đáp số. và .
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là viết tứ giác theo thứ tự sai, chẳng hạn gọi "" rồi coi , là hai đường chéo — thực chất và mới là hai đường chéo (đi qua ), còn , là hai cạnh ĐỐI; gọi sai thứ tự đỉnh sẽ dẫn đến lập luận về đường chéo sai hẳn.
🚀 Mở rộng. Đây chính là bổ đề nền cho phép đối xứng tâm: phép đối xứng tâm biến đoạn thẳng thành đoạn thẳng song song và bằng — tính chất sẽ dùng lại nhiều lần ở các bài về phép biến hình.
Bài 13 · Vận dụng★★★Trang 61— Thực hiện cụ thể phép dựng hình đã lập luận ở bài toán mở đầu
Vận dụng (trang 61). Trở lại bài toán mở đầu. Em hãy vẽ hình và nêu cách vẽ con đường cần mở đi qua sao cho theo con đường đó, hai đoạn đường từ tới và tới bằng nhau.
abOA'MN
Kiến thức cần nhớ
  • Hai đường chéo của hình bình hành cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường (Định lí 1c).
  • Tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường là hình bình hành (Định lí 3b).
🧠 Phân tích tư duy
Đây là bước THI CÔNG lại đúng sơ đồ đã lập luận ở Mở đầu: cần nêu tuần tự các thao tác dựng bằng thước, compa để vẽ ra hình cụ thể, không chỉ nói suông "tồn tại". Bẫy là phải dựng đúng THỨ TỰ (dựng trước, rồi mới kẻ hai đường song song qua ), nếu đảo thứ tự sẽ không xác định được .
1Cách 1. Dựng bằng đối xứng tâm và hai đường song song

Định hướng. Thực hiện đúng bốn bước đã lập luận ở Mở đầu: lấy điểm đối xứng, kẻ hai đường song song, nối hai giao điểm.

Gọi là giao điểm của hai con đường , ; lấy điểm sao cho là trung điểm của (dùng compa quay cung tâm bán kính theo tia đối của tia )
Qua kẻ đường thẳng song song với , cắt tại ; qua kẻ đường thẳng song song với , cắt tại
Nối , : vì là hình bình hành (hai cặp cạnh song song theo cách dựng) nên hai đường chéo , cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường, mà là trung điểm , nên cũng là trung điểm

Vậy đường thẳng chính là con đường cần mở, đi qua và có .

2Cách 2. Dựng bằng compa từ hai cung tròn tâm O

Định hướng. Không cần dựng , có thể thử trực tiếp bằng cách xoay một thước qua và kiểm tra bằng compa cho tới khi hai đoạn bằng nhau — đây là cách dựng thử/kiểm tra thay cho cách dựng tất định ở Cách 1.

Vẽ một đường thẳng bất kì qua , cắt tại và cắt tại
Dùng compa đo và ; nếu thì dừng, nếu không thì xoay nhẹ đường thẳng quanh theo hướng làm hai đoạn xích lại gần nhau, lặp lại phép đo
Quá trình hội tụ về đúng vị trí đã dựng chính xác ở Cách 1 (vì đó là đường duy nhất thoả mãn)

Vậy đường thẳng tìm được bằng phép thử – đo này trùng với đường dựng chính xác ở Cách 1.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi (thực hành) dùng Cách 1: dựng tất định bằng compa – thước, ra kết quả chính xác ngay lần đầu, không phải thử sai như Cách 2.
Đáp số. Con đường cần mở là đường thẳng , dựng theo bốn bước ở Cách 1 (lấy đối xứng qua , kẻ hai đường song song qua với , ).
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp khi vẽ là quên kiểm tra , , thẳng hàng với ở giữa — nếu lấy nhầm sao cho không phải trung điểm thật sự (chỉ áng chừng bằng mắt) thì , dựng ra sẽ không cách đều .
🚀 Mở rộng. Bài toán tổng quát hơn: nếu nằm ngoài góc tạo bởi , (không phải bên trong) thì cách dựng có còn áp dụng được không? Hãy thử vẽ và kiểm tra.
Bài 14 · Bài 3.13★★Trang 61— Xét tính đúng sai của các mệnh đề về dấu hiệu nhận biết hình bình hành
Bài 3.13 (trang 61). Trong các khẳng định sau, khẳng định nào đúng, khẳng định nào sai? Vì sao?
a) Hình thang có hai cạnh bên song song là hình bình hành.
b) Hình thang có hai cạnh bên bằng nhau là hình bình hành.
c) Tứ giác có hai cạnh đối nào cũng song song là hình bình hành.
Kiến thức cần nhớ
  • Hình bình hành là tứ giác có các cạnh đối song song (định nghĩa).
  • Hình thang có hai cạnh bên song song thì hai cạnh bên đó cũng chính là một cặp cạnh đối song song còn lại của tứ giác.
🧠 Phân tích tư duy
Ba câu đều nói về "hình thang" hoặc "tứ giác" với thêm một điều kiện, cần đối chiếu chính xác với ĐỊNH NGHĨA hình bình hành (cạnh đối song song) chứ không suy diễn cảm tính. Bẫy nằm ở câu b): "cạnh bên bằng nhau" gợi nhớ tới hình thang cân chứ không phải hình bình hành — đã có phản ví dụ ở mục Tranh luận của chính bài học.
1Cách 1. Đối chiếu từng câu với định nghĩa và phản ví dụ

Định hướng. Với câu đúng thì chỉ ra tứ giác đã có đủ hai cặp cạnh đối song song; với câu sai thì đưa phản ví dụ cụ thể.

a) Hình thang (đáy , ) đã có ; nếu thêm hai cạnh bên thì tứ giác có đủ hai cặp cạnh đối song song, đúng là hình bình hành theo định nghĩa — khẳng định a) ĐÚNG
b) Hình bình hành (không phải hình chữ nhật) là một hình thang có hai cạnh bên bằng nhau (đã chỉ ra ở mục Tranh luận), nhưng cũng tồn tại hình thang cân có hai cạnh bên bằng nhau mà KHÔNG là hình bình hành (hai đáy không bằng nhau, hai cạnh bên không song song) — vậy "hai cạnh bên bằng nhau" không đủ để kết luận là hình bình hành, khẳng định b) SAI
c) Tứ giác có cả hai cặp cạnh đối song song chính là đúng định nghĩa hình bình hành — khẳng định c) ĐÚNG

Vậy a) đúng, b) sai, c) đúng.

2Cách 2. Lập bảng so sánh điều kiện với định nghĩa

Định hướng. Với mỗi câu, liệt kê điều kiện đã cho rồi so với đúng hai điều kiện cần và đủ của định nghĩa (hai cặp cạnh đối cùng song song).

a) Điều kiện: đáy song song (có sẵn vì là hình thang) + cạnh bên song song (giả thiết thêm) đủ hai cặp cạnh đối song song đúng định nghĩa, ĐÚNG
b) Điều kiện: đáy song song (có sẵn) + cạnh bên BẰNG NHAU (không phải song song) đủ hai cặp cạnh đối song song không đúng định nghĩa, SAI
c) Điều kiện: "hai cạnh đối nào cũng song song", tức cả hai cặp cạnh đối đều song song đúng định nghĩa, ĐÚNG

Vậy a) đúng, b) sai, c) đúng — khớp với Cách 1.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: nêu ngay phản ví dụ cho câu sai (b), thuyết phục và nhanh hơn lập bảng.
Đáp số. a) Đúng. b) Sai. c) Đúng.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm phổ biến nhất là cho câu b) đúng vì nhớ nhầm sang tính chất của hình thang CÂN (hình thang cân mới có hai cạnh bên bằng nhau là một tính chất đặc trưng, không phải dấu hiệu của hình bình hành).
🚀 Mở rộng. Có thể sửa câu b) thành đúng nếu thêm điều kiện "và hai cạnh bên đó không song song với hai đáy" thì vẫn chưa đủ; điều kiện đúng để hình thang có hai cạnh bên bằng nhau chắc chắn là hình bình hành là khi hai cạnh bên đó SONG SONG với nhau (khi đó hình thang suy biến ngay thành trường hợp câu a).
Bài 15 · Bài 3.14★Trang 61— Tính góc còn lại của hình bình hành khi biết một góc
Bài 3.14 (trang 61). Tính các góc còn lại của hình bình hành trong Hình 3.35, biết .
ABCD100°???
Kiến thức cần nhớ
  • Định lí 1b: trong hình bình hành, các góc đối bằng nhau.
  • Nhận xét (trang 58): hai góc kề một cạnh bất kì của hình bình hành là hai góc bù nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Đề chỉ cho đúng một góc () của một hình có bốn góc, đúng bối cảnh dùng hai tính chất đã học của Định lí 1: góc đối bằng nhau và hai góc kề một cạnh bù nhau — hai tính chất này đủ suy ra cả ba góc còn lại mà không cần đo đạc gì thêm. Thứ tự hợp lý là tìm góc đối trước rồi mới tìm góc kề, tránh nhầm lẫn giữa hai loại quan hệ góc.
1Cách 1. Dùng góc đối bằng nhau, rồi bù nhau

Định hướng. Suy ra góc đối trước (), rồi dùng kề bù để ra hai góc còn lại (, ).

(hai góc đối của hình bình hành, Định lí 1b)
(hai góc kề cạnh bù nhau)
(hai góc đối của hình bình hành)

Vậy , .

2Cách 2. Dùng tổng bốn góc của tứ giác bằng 360°

Định hướng. Kết hợp góc đối bằng nhau với tổng bốn góc của một tứ giác để lập phương trình.

(góc đối), (góc đối)
(tổng bốn góc tứ giác)


, suy ra

Vậy , .

3Cách 3. Dùng hai đường thẳng song song và góc trong cùng phía

Định hướng. Không cần nhớ "hai góc kề bù nhau", có thể suy trực tiếp từ định nghĩa và cùng tính chất góc trong cùng phía.

nên (hai góc trong cùng phía của cát tuyến )

nên (góc trong cùng phía của cát tuyến ), suy ra
(góc trong cùng phía của cát tuyến )

Vậy , .

Nhận xét. Cách 3 không cần nhớ tính chất góc đối, chỉ cần định nghĩa hình bình hành và tính chất hai đường thẳng song song.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: chỉ hai bước (góc đối, rồi bù nhau), nhanh hơn lập phương trình như Cách 2.
Đáp số. , .
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là cho (nhầm góc KỀ với góc ĐỐI) — hai góc kề một cạnh của hình bình hành bù nhau chứ không bằng nhau, trừ trường hợp đặc biệt hình chữ nhật.
🚀 Mở rộng. Nếu hình bình hành đã cho là hình chữ nhật () thì cả bốn góc đều bằng — đây là trường hợp riêng khi góc kề và góc đối trùng nhau.
Bài 16 · Bài 3.15★★Trang 61— Chứng minh hai đoạn thẳng bằng nhau bằng tứ giác trung gian là hình bình hành
Bài 3.15 (trang 61). Cho hình bình hành . Gọi , lần lượt là trung điểm của các cạnh , . Chứng minh .
ABCDEF
Kiến thức cần nhớ
  • Định lí 1a: cạnh đối hình bình hành song song và bằng nhau.
  • Định lí 2b: tứ giác có một cặp cạnh đối song song và bằng nhau là hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
, là trung điểm của hai cạnh ĐỐI , vốn đã song song và bằng nhau, nên , (hay , ) cũng song song và bằng nhau — đây là dấu hiệu để nhận ra tứ giác hoặc là một hình bình hành, từ đó suy ra , chính là một cặp cạnh đối của nó. Việc còn lại chỉ là gọi đúng tên tứ giác theo thứ tự đỉnh để xác định đúng cặp cạnh đối cần so sánh.
1Cách 1. Chứng minh DEBF là hình bình hành

Định hướng. Chỉ ra và (hai cạnh của tứ giác ) song song và bằng nhau, để , trở thành một cặp cạnh đối của một hình bình hành.

và (Định lí 1a, là hình bình hành)
là trung điểm nên ; là trung điểm nên , mà nên
nằm trên đường thẳng , nằm trên đường thẳng , mà , nên
Tứ giác có và (một cặp cạnh đối song song và bằng nhau), theo Định lí 2b, là hình bình hành
Trong hình bình hành , và là một cặp cạnh đối, nên

Vậy .

2Cách 2. Chứng minh hai tam giác ADE, CBF bằng nhau

Định hướng. , lần lượt là cạnh của hai tam giác và ; chỉ cần hai tam giác này bằng nhau theo c.g.c.

(Định lí 1a); vì (Định lí 1b, góc đối) và , chỉ là các điểm trên cạnh , nên ,
, , mà nên
Xét và có , , , suy ra (c.g.c)

Vậy (hai cạnh tương ứng của hai tam giác bằng nhau).

3Cách 3. Toạ độ hoá bằng vectơ

Định hướng. Biểu diễn , theo , , , rồi tính trực tiếp hai vectơ , .

Đặt làm gốc, , , khi đó (vì là hình bình hành)
(trung điểm ); (trung điểm )

Vậy , hai vectơ đối nhau nên có cùng độ dài, tức .

Nhận xét. Cách 1 tận dụng ngay Định lí 2b vừa học, gọn nhất trong ba cách.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: chỉ một lần áp Định lí 2b, không cần dựng thêm tam giác hay toạ độ.
Đáp số. (vì là hình bình hành, có , là một cặp cạnh đối).
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là ngộ nhận là hình bình hành ngay từ đầu mà không chứng minh (chỉ "nhìn hình thấy giống"); phải chỉ rõ và trước, đây là bước bắt buộc theo đúng Định lí 2b.
🚀 Mở rộng. Có thể chứng minh thêm (không chỉ bằng nhau) bằng chính tính chất cạnh đối của hình bình hành vừa dựng được.
Bài 17 · Bài 3.16★★Trang 61— Nhận biết hình bình hành từ số đo các góc (Định lí 3a)
Bài 3.16 (trang 61). Trong mỗi trường hợp sau đây, tứ giác nào là hình bình hành, tứ giác nào không là hình bình hành? Vì sao? (Hình 3.36)
a) Tứ giác có , , .
b) Tứ giác có , và .
c) Tứ giác có , , .
ABCD100°80°100°ABCD75°75°ABCD70°110°110°a)b)c)
Kiến thức cần nhớ
  • Tổng bốn góc của một tứ giác bằng .
  • Định lí 3a: tứ giác có các góc đối bằng nhau là một hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
Mỗi hình chỉ cho ba trong bốn góc, nên bước đầu tiên bắt buộc là TÍNH góc còn lại bằng tổng bốn góc tứ giác , rồi mới so sánh từng cặp góc đối — thiếu bước tính góc còn thiếu này là sai ngay từ gốc. Sau khi có đủ bốn góc, chỉ cần đối chiếu cả hai cặp góc đối với Định lí 3a để kết luận.
1Cách 1. Tính góc còn thiếu rồi so sánh từng cặp góc đối

Định hướng. Dùng tổng bốn góc bằng để tìm góc còn thiếu, rồi kiểm tra cả hai cặp góc đối có bằng nhau không.

a) ; ta có và , hai cặp góc đối đều bằng nhau
b) ; ta có nhưng , chỉ một cặp góc đối bằng nhau
c) ; ta có và , hai cặp góc đối đều bằng nhau

Vậy theo Định lí 3a: Hình a) và Hình c) là hình bình hành (đủ hai cặp góc đối bằng nhau); Hình b) không là hình bình hành (chỉ một cặp góc đối bằng nhau).

2Cách 2. Xét riêng một cặp góc đối trước, dùng phản chứng cho câu sai

Định hướng. Chỉ cần một cặp góc đối không bằng nhau là đủ kết luận KHÔNG phải hình bình hành, khỏi cần tính hết cả bốn góc.

a) (cho sẵn, cùng bằng nhau); còn lại và cũng bằng nhau, đủ điều kiện Định lí 3a
b) (cho sẵn, bằng nhau), nhưng đã cho, còn , thiếu cặp góc đối thứ hai
c) (cho sẵn, bằng nhau); còn lại và cũng bằng nhau, đủ điều kiện

Vậy Hình a), Hình c) là hình bình hành; Hình b) không là hình bình hành.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: tính đều đủ bốn góc trước rồi so sánh, tránh bỏ sót trường hợp so với Cách 2 (chỉ xét một cặp trước dễ quên kiểm tra cặp còn lại).
Đáp số. Hình a) là hình bình hành (). Hình b) không là hình bình hành (). Hình c) là hình bình hành ().
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp ở câu b) là chỉ kiểm tra cặp góc rồi vội kết luận là hình bình hành mà quên kiểm tra luôn cặp góc đối còn lại , — Định lí 3a đòi hỏi CẢ HAI cặp góc đối cùng bằng nhau.
🚀 Mở rộng. Nếu chỉ biết ba góc của một tứ giác mà không có thêm dữ kiện gì khác, luôn tính được góc thứ tư nhờ tổng ; nhưng biết đủ bốn góc bằng nhau từng cặp mới đủ điều kiện là hình bình hành, không phải chỉ cần MỘT cặp.
Bài 18 · Bài 3.17★★Trang 61— Chứng minh hai tứ giác nhỏ là hình bình hành bằng dấu hiệu cạnh đối song song, bằng nhau
Bài 3.17 (trang 61). Cho hình bình hành . Gọi , lần lượt là trung điểm của các cạnh , . Chứng minh rằng:
a) Hai tứ giác , là những hình bình hành;
b) , .
ABCDEF
Kiến thức cần nhớ
  • Định lí 1a: cạnh đối hình bình hành song song và bằng nhau.
  • Định lí 2b: tứ giác có một cặp cạnh đối song song và bằng nhau là hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
, là trung điểm của hai cạnh đối , nên và (hay và ) cùng nằm trên hai đường thẳng song song , và có cùng độ dài bằng nửa — đúng nguyên liệu của Định lí 2b để dựng liên tiếp hai hình bình hành nhỏ và bên trong hình bình hành lớn. Cần gọi đúng thứ tự bốn đỉnh của mỗi tứ giác nhỏ để xác định đúng cặp cạnh đối cần so sánh.
1Cách 1. Áp trực tiếp Định lí 2b cho từng tứ giác

Định hướng. Với mỗi tứ giác, tìm đúng một cặp cạnh đối vừa song song vừa bằng nhau rồi dùng Định lí 2b.

và (Định lí 1a); , là trung điểm nên , , suy ra
nằm trên , nằm trên , mà , nên
Tứ giác có và , theo Định lí 2b, là hình bình hành — câu a) phần 1
Tương tự, và (cùng lí do), tứ giác có... xét cặp cạnh đối , : , , mà nên ; nằm trên , nằm trên nên , theo Định lí 2b, là hình bình hành — câu a) phần 2

Vậy cả hai tứ giác và đều là hình bình hành.

Nhận xét. Câu b): trong hình bình hành , cạnh đối của là nên ; trong hình bình hành , cạnh đối của là nên .

2Cách 2. Toạ độ hoá bằng vectơ, tính một lần cho cả hai tứ giác

Định hướng. Đặt vectơ hai cạnh gốc tại , biểu diễn hết các điểm rồi kiểm tra từng cặp cạnh đối bằng phép trừ vectơ.

Đặt , (gốc ); vì là hình bình hành nên , và , (trung điểm )
Tứ giác : , , suy ra nên là hình bình hành
Tứ giác : , , suy ra nên là hình bình hành
, đúng bằng , suy ra ; , , suy ra nên

Vậy cả bốn kết luận (hai tứ giác là hình bình hành, và , ) đều đúng.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: áp thẳng Định lí 2b vừa học, không cần dựng hệ vectơ.
Đáp số. a) và đều là hình bình hành. b) , .
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là viết nhầm cặp cạnh đối của thành đối với (hai cạnh liên tiếp, chung đỉnh ) — với thứ tự đỉnh thì cạnh đối của phải là , còn mới đối với .
🚀 Mở rộng. Ghép cả hai kết quả: và cùng có chung cạnh và cùng nhận , làm hai trong bốn đỉnh, cho thấy đoạn chia hình bình hành thành hai hình bình hành nhỏ bằng nhau về diện tích.
Bài 19 · Bài 3.18★★Trang 61— Chứng minh tam giác bằng nhau qua tâm đối xứng, suy ra tứ giác mới là hình bình hành
Bài 3.18 (trang 61). Gọi là giao điểm của hai đường chéo của hình bình hành . Một đường thẳng đi qua lần lượt cắt các cạnh , của hình bình hành tại hai điểm , . Chứng minh . Từ đó suy ra tứ giác là hình bình hành.
ABCDOMN
Kiến thức cần nhớ
  • Định lí 1c: hai đường chéo hình bình hành cắt nhau tại trung điểm mỗi đường.
  • Định lí 2b (hoặc 3b): dấu hiệu nhận biết hình bình hành theo cạnh đối song song, bằng nhau hoặc theo đường chéo.
🧠 Phân tích tư duy
là trung điểm chung của hai đường chéo (Định lí 1c), nên với BẤT KỲ đường thẳng nào qua cắt tại và tại , cặp tam giác , luôn có một cạnh bằng nhau () và một góc đối đỉnh bằng nhau () sẵn có — chỉ cần thêm một cặp góc so le trong nhờ là đủ điều kiện g.c.g. Từ đó cũng là trung điểm của , ghép với vốn là trung điểm để suy ra tứ giác là hình bình hành.
1Cách 1. Tam giác bằng nhau g.c.g, rồi dùng đường chéo MBND

Định hướng. Ghép cạnh có sẵn với một cặp góc so le trong (do ) và góc đối đỉnh tại .

(hai đường chéo hình bình hành cắt nhau tại trung điểm mỗi đường, Định lí 1c)
nên (so le trong, cát tuyến )
(hai góc đối đỉnh)
Xét và có , , , suy ra (g.c.g)
Suy ra (cạnh tương ứng), tức là trung điểm ; mà cũng là trung điểm (Định lí 1c)

Vậy ; tứ giác có hai đường chéo , cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường, nên theo Định lí 3b, là hình bình hành.

2Cách 2. Dùng cạnh OM = ON suy từ đối xứng tâm O

Định hướng. Nhìn bài toán qua phép đối xứng tâm : vì là tâm đối xứng của hình bình hành (, ), ảnh của đường thẳng qua vẫn là chính nó (vì , , thẳng hàng), nên ảnh của (giao với ) phải là giao của ảnh đường thẳng với ảnh của , tức đúng là trên .

Phép đối xứng tâm biến , (vì là trung điểm và , Định lí 1c) nên biến đường thẳng thành đường thẳng
Phép đối xứng tâm biến đường thẳng (đi qua ) thành chính nó
là giao của và , nên ảnh của là giao của ảnh hai đường đó, tức là giao của và , đúng là
Suy ra là ảnh của qua phép đối xứng tâm , tức là trung điểm , và , là ảnh của nhau qua phép đối xứng tâm nên bằng nhau

Vậy , và vì là trung điểm chung của , , tứ giác là hình bình hành (Định lí 3b).

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: trình bày tam giác bằng nhau kiểu g.c.g tường minh, không cần khái niệm phép đối xứng tâm.
Đáp số. (g.c.g); suy ra , và vì cũng là trung điểm nên là hình bình hành.
Sai lầm thường gặp. Sai lầm hay gặp là chọn nhầm cặp góc so le trong (lấy so le với toàn phần thay vì đúng là góc kề tại do cát tuyến cắt hai đường thẳng song song , ) — cần xác định đúng cát tuyến là đường chéo , không phải cạnh nào khác.
🚀 Mở rộng. Kết quả cho thấy MỌI đường thẳng qua đều cắt , tại hai điểm cách đều — đây thực chất là bài toán mở đầu của chính bài học (dựng đường qua điểm cho trước cắt hai đường thẳng song song tại hai điểm cách đều), áp dụng riêng cho trường hợp là tâm hình bình hành.