Bài 1 · Mở đầu★★★Trang 57— Dựng đường thẳng qua một điểm cho trước sao cho giao điểm với hai đường thẳng cắt nhau cách đều điểm đó
Mở đầu (trang 57). Hai con đường lớn a và b cắt nhau tạo thành một góc. Bên trong góc đó có một điểm dân cư O. Phải mở một con đường thẳng đi qua O như thế nào để theo con đường đó, hai đoạn đường từ điểm O đến hai con đường a và b bằng nhau (các con đường đều là đường thẳng) (H.3.27)?
Kiến thức cần nhớ
Tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường là một hình bình hành (Định lí 3b).
Hai đường chéo của một hình bình hành cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường (Định lí 1c).
Phép đối xứng tâm biến một đoạn thẳng thành đoạn thẳng bằng nó.
🧠 Phân tích tư duy
Đề không cho số đo nào, chỉ cho một điểm O và hai đường thẳng cắt nhau — dấu hiệu của bài toán DỰNG HÌNH, phải tìm cách vẽ chứ không tính toán. Gọi A là giao điểm của a, b; nếu đường cần mở cắt a, b lần lượt tại M, N thì yêu cầu OM=ON nghĩa là O là trung điểm MN — đây chính là dấu hiệu nhận biết hình bình hành bằng đường chéo sẽ học ở mục 2. Bẫy của đề là dễ nghĩ O phải là một đỉnh, trong khi O thực chất là tâm (giao điểm hai đường chéo) của một hình bình hành có hai cạnh nằm trên a và b.
1Cách 1. Dựng bằng phép đối xứng tâm qua O
Định hướng. Muốn O là trung điểm của đoạn nối hai giao điểm trên a, b, ta dựng hình bình hành nhận O làm tâm và hai cạnh nằm trên a, b.
Gọi A là giao điểm của a và b; lấy A′ đối xứng với A qua O (tức O là trung điểm AA′) Qua A′ kẻ đường thẳng song song với a, cắt b tại N Qua A′ kẻ đường thẳng song song với b, cắt a tại M Tứ giác AMA′N có AM\parallelA′N và AN\parallelA′M nên là hình bình hành Trong hình bình hành AMA′N, hai đường chéo AA′ và MN cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường (Định lí 1c), mà O là trung điểm AA′, nên O cũng là trung điểm MN, tức OM=ON
Vậy đường thẳng MN đi qua O, cắt a tại M, cắt b tại N, chính là con đường cần mở, vì OM=ON.
2Cách 2. Dựng bằng toạ độ (vectơ)
Định hướng. Đặt toạ độ với gốc tại giao điểm A của a, b, biểu diễn M, N theo một ẩn rồi dùng điều kiện O là trung điểm để tìm chúng.
Chọn A làm gốc, gọi u, v lần lượt là vectơ chỉ phương của a, b; đặt M=A+tu trên a, N=A+sv trên b Điều kiện O là trung điểm MN: AO=21(AM+AN)=21(tu+sv) Vì u, v không cùng phương nên hệ này có nghiệm t, s duy nhất (toạ độ AO trong cơ sở u, v) Với t, s tìm được, xác định M trên a, N trên b tương ứng
Vậy luôn tồn tại duy nhất một đường thẳng qua O thoả mãn yêu cầu, đó là đường thẳng MN.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi trình bày Cách 1: chỉ dùng compa – thước, dựng được ngay bằng các định lí vừa học trong bài, không cần lập hệ toạ độ.
Đáp số.Con đường cần mở là đường thẳng MN đi qua O, với M, N là hai đỉnh còn lại của hình bình hành AMA′N dựng như Cách 1 (A′ đối xứng với A qua O).
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là vẽ đại một đường thẳng qua O rồi đo bằng mắt cho "trông cân" — cách này không dựng được chính xác bằng thước, compa. Ví dụ nếu chọn bừa một đường qua O không theo hướng đã dựng, hai đoạn tới a và b nói chung không bằng nhau.
🚀 Mở rộng.Bài toán mở rộng: cho ba đường thẳng đôi một cắt nhau và một điểm O không nằm trên đường nào, có luôn dựng được một đường thẳng qua O cắt cả ba đường tại các điểm cách đều O không? Đáp án là không, vì điều kiện cách đều với ba đường lại thêm một ràng buộc.
Bài 2 · HĐ1★Trang 57— Nhận biết hình bình hành trên lưới ô vuông bằng định nghĩa
HĐ1 (trang 57). Trong Hình 3.28, có một hình bình hành. Đó là hình nào? Em có thể giải thích tại sao không?
Kiến thức cần nhớ
Hình bình hành là tứ giác có các cạnh đối song song.
Trên lưới ô vuông, hai đoạn thẳng có cùng độ dời ngang và độ dời dọc thì song song và bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Ba tứ giác cho trên cùng một lưới ô vuông, nên dấu hiệu để nhận ra ngay là ĐẾM Ô: cạnh nào cùng số ô ngang, cùng số ô dọc với cạnh đối diện thì hai cạnh đó song song và bằng nhau. Bẫy của đề là hình a) và b) trông cũng cân đối nhưng cạnh đối không cùng "độ dời" trên lưới nên không song song.
1Cách 1. Đếm độ dời ngang – dọc trên lưới (vectơ)
Định hướng. So sánh độ dời của mỗi cạnh với cạnh đối diện; độ dời bằng nhau thì hai cạnh song song và bằng nhau.
Ở Hình 3.28c: từ D đến A dời (2;3) ô (2 ô sang phải, 3 ô lên), từ C đến B cũng dời (2;3) ô (2 ô sang phải, 3 ô lên), suy ra AD\parallelBC và AD=BC Từ D đến C dời (5;0) ô, từ A đến B cũng dời (5;0) ô, suy ra AB\parallelDC và AB=DC Ở Hình 3.28a và 3.28b, cặp cạnh đối không cùng độ dời nên không song song
Vậy tứ giác ở Hình 3.28c là hình bình hành vì có hai cặp cạnh đối song song; Hình 3.28a, 3.28b không phải hình bình hành.
2Cách 2. So sánh hệ số góc (độ dốc) của mỗi cạnh
Định hướng. Hai đường thẳng trên lưới song song khi và chỉ khi có cùng hệ số góc (cùng tỉ số dọc : ngang).
Hệ số góc của DA là 23, hệ số góc của CB cũng là 23, hai cạnh cùng hệ số góc nên DA\parallelCB Hệ số góc của DC là 0 (nằm ngang), hệ số góc của AB cũng là 0, nên DC\parallelAB Độ dài mỗi cặp cạnh bằng nhau vì cùng số ô dời
Vậy tứ giác ABCD ở Hình 3.28c có hai cặp cạnh đối song song và bằng nhau nên là hình bình hành.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: đếm ô trực tiếp, ít khả năng nhầm hơn tính hệ số góc.
Đáp số.Tứ giác ở Hình 3.28c) là hình bình hành vì có AB\parallelDC, AD\parallelBC (hai cặp cạnh đối song song).
Sai lầm thường gặp.Nhiều em nhìn hình a) thấy "gần giống" hình bình hành rồi kết luận bừa; kiểm bằng đếm ô sẽ thấy cạnh DA và CB ở hình a) không cùng độ dời nên không song song — đây không phải hình bình hành dù trông khá cân đối.
🚀 Mở rộng.Với tứ giác bất kỳ trên lưới ô vuông có toạ độ nguyên, có thể kiểm tra nhanh là hình bình hành hay không bằng cách so sánh AB với DC: bằng nhau thì chắc chắn là hình bình hành, không cần đếm từng cặp cạnh.
Bài 3 · Thực hành 1★★Trang 58— Dựng hình bình hành khi biết hai cạnh liên tiếp và góc xen giữa
Thực hành 1 (trang 58). Vẽ hình bình hành, biết hai cạnh liên tiếp bằng 3 cm, 4 cm và góc xen giữa hai cạnh đó bằng 60∘. Hãy mô tả cách vẽ và giải thích tại sao hình vẽ được là hình bình hành.
Kiến thức cần nhớ
Hình bình hành có các cạnh đối song song và bằng nhau.
Dựng góc cho trước bằng thước đo góc; dựng đoạn thẳng cho trước độ dài bằng compa hoặc thước có chia khoảng.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho đúng ba dữ kiện của một tam giác (hai cạnh và góc xen giữa) — dấu hiệu là dựng tam giác ADC trước bằng thước đo góc và compa, rồi hoàn thiện đỉnh còn lại. Điểm mấu chốt là đỉnh thứ tư không tự do mà bị buộc bởi điều kiện các cạnh đối song song và bằng nhau.
1Cách 1. Dựng bằng thước đo góc và compa (dựng hình cổ điển)
Định hướng. Dựng trước góc 60∘ tại một đỉnh với hai cạnh 3 cm, 4 cm, rồi dựng đỉnh thứ tư sao cho các cạnh đối song song và bằng nhau.
Vẽ đoạn DA=4 cm Tại D, dùng thước đo góc vẽ tia Dx sao cho ADx=60∘; trên tia đó lấy DC=3 cm Qua A vẽ đường thẳng song song với DC; qua C vẽ đường thẳng song song với DA; hai đường thẳng đó cắt nhau tại B Tứ giác ABCD có AB\parallelDC (theo cách dựng) và AD\parallelBC (theo cách dựng) nên là hình bình hành
VậyABCD dựng như trên là hình bình hành có DA=4 cm, DC=3 cm, ADC=60∘, đúng yêu cầu đề bài.
2Cách 2. Dựng bằng compa, lấy B đối xứng qua trung điểm DC-DA (dùng đường chéo)
Định hướng. Thay vì kẻ hai đường song song, xác định thẳng đỉnh B bằng compa dựa vào tính chất cạnh đối bằng nhau.
Vẽ đoạn DA=4 cm và đoạn DC=3 cm với ADC=60∘ như Cách 1 Dùng compa: vẽ cung tâm A bán kính 3 cm (bằng DC) và cung tâm C bán kính 4 cm (bằng DA); hai cung cắt nhau tại B Tứ giác ABCD có AB=DC=3 cm, CB=DA=4 cm, tức các cạnh đối bằng nhau, nên theo Định lí 2a, ABCD là hình bình hành
Vậy điểm B dựng bằng hai cung tròn cho đúng một hình bình hành thoả mãn đề bài.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1 (hai đường song song): đây đúng định nghĩa hình bình hành nên giải thích gọn nhất, không cần viện tới Định lí 2 chưa học tới lúc này trong bài.
Đáp số.Hình bình hành ABCD với DA=4 cm, DC=3 cm, ADC=60∘, dựng theo một trong hai cách trên.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là dựng góc 60∘ ở sai đỉnh (chẳng hạn tại A thay vì tại D) khiến hình vẽ ra tuy vẫn là hình bình hành nhưng có góc DAB=60∘ chứ không phải ADC=60∘ như đề cho — cần đọc kỹ góc xen giữa là góc tại đỉnh chung của hai cạnh đã cho.
🚀 Mở rộng.Nếu đổi góc xen giữa từ 60∘ thành một góc α bất kỳ (0∘<α<180∘), cách dựng không đổi; khi α=90∘ hình bình hành dựng được trở thành hình chữ nhật.
Bài 4 · HĐ2★Trang 58— Ôn lại tính chất hình bình hành đã học ở Tiểu học/THCS trước bài mới
HĐ2 (trang 58). Hãy nêu các tính chất của hình bình hành mà em đã biết.
Kiến thức cần nhớ
Hình bình hành là tứ giác có các cạnh đối song song.
🧠 Phân tích tư duy
Đây là câu hỏi ôn lại kiến thức cũ trước khi vào Định lí 1, không có phép tính hay chứng minh nào để "giải nhiều cách" — chỉ cần liệt kê đúng và đủ các tính chất đã biết. Dấu hiệu nhận ra đây là câu hỏi tái hiện kiến thức là đề không cho số liệu, không yêu cầu chứng minh gì cả.
1Cách 1. Liệt kê các tính chất đã biết
Định hướng. Nhớ lại từ chương trình Tiểu học và các bài trước về tứ giác.
Trong hình bình hành, các cạnh đối song song và bằng nhau Các góc đối bằng nhau Hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường
Vậy đó là ba tính chất cơ bản của hình bình hành, sẽ được chứng minh chặt chẽ ở Định lí 1 ngay sau đây.
2Cách 2. Kiểm chứng lại bằng đo đạc trên một hình vẽ cụ thể
Định hướng. Thay vì chỉ nhớ lại, vẽ một hình bình hành cụ thể trên giấy kẻ ô rồi đo đạc trực tiếp để kiểm chứng từng tính chất.
Vẽ hình bình hành ABCD bất kì trên giấy kẻ ô Dùng thước đo chiều dài: AB=CD, AD=BC (cạnh đối bằng nhau) Dùng thước đo góc: A=C, B=D (góc đối bằng nhau) Dùng thước đo khoảng cách từ giao điểm hai đường chéo tới bốn đỉnh: các khoảng cách bằng nhau từng đôi (đường chéo cắt nhau tại trung điểm)
Vậy phép đo trực tiếp cũng xác nhận đúng ba tính chất đã nêu ở Cách 1.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi (hoặc trả lời miệng) dùng Cách 1: nhớ lại trực tiếp ba tính chất, nhanh hơn nhiều so với việc vẽ hình rồi đo đạc như Cách 2.
Đáp số.Hình bình hành có: các cạnh đối bằng nhau; các góc đối bằng nhau; hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.
Sai lầm thường gặp.Dễ nhầm hình bình hành với hình thang cân (cũng có tính chất riêng nhưng khác): hình thang cân có hai cạnh bên bằng nhau và hai đường chéo bằng nhau, còn hình bình hành có các cạnh ĐỐI bằng nhau (không phải cạnh bên) và hai đường chéo không nhất thiết bằng nhau.
🚀 Mở rộng.Ba tính chất nêu ở đây sẽ được chứng minh đầy đủ bằng lập luận suy luận ở Định lí 1 của chính bài học này.
Bài 5 · HĐ3★★Trang 58— Chứng minh tính chất hình bình hành (Định lí 1) bằng tam giác bằng nhau
HĐ3 (trang 58). Cho hình bình hành ABCD (H.3.30). a) Chứng minh △ABC=△CDA. Từ đó suy ra AB=CD, AD=BC và ABC=CDA. b) Chứng minh △ABD=△CDB. Từ đó suy ra DAB=BCD. c) Gọi giao điểm của hai đường chéo AC, BD là O. Chứng minh △AOB=△COD. Từ đó suy ra OA=OC, OB=OD.
Kiến thức cần nhớ
Hai đường thẳng song song bị cắt bởi một cát tuyến tạo ra các cặp góc so le trong bằng nhau.
Trường hợp bằng nhau cạnh-góc-cạnh (c.g.c) và góc-cạnh-góc (g.c.g) của tam giác.
🧠 Phân tích tư duy
Cả ba câu đều xoay quanh việc kẻ một đường chéo (hoặc dùng cả hai) để tách hình bình hành thành các tam giác, rồi chứng minh chúng bằng nhau bằng trường hợp cạnh-góc-cạnh nhờ hai cặp cạnh song song cho ra các cặp góc so le trong bằng nhau. Bẫy của bài là ở câu c: phải dùng KẾT QUẢ của câu a (AB=CD) làm dữ kiện cạnh bằng nhau cho tam giác AOB và COD, không thể chứng minh độc lập nếu bỏ qua câu a.
1Cách 1. Tam giác bằng nhau nhờ đường chéo (theo đúng gợi ý SGK)
Định hướng. Đường chéo AC tạo ra hai cặp góc so le trong bằng nhau vì AB\parallelDC, AD\parallelBC; ghép với cạnh chung AC cho hai tam giác bằng nhau kiểu g.c.g.
AB\parallelDC nên BAC=DCA (so le trong); AD\parallelBC nên DAC=BCA (so le trong) Xét △ABC và △CDA có BAC=DCA, AC chung, BCA=DAC, suy ra △ABC=△CDA (g.c.g) Do đó AB=CD, BC=DA (cạnh tương ứng) và ABC=CDA (góc tương ứng) — đây là câu a) Xét △ABD và △CDB có AB=CD (vừa chứng minh), BD chung, AD=CB (vừa chứng minh), suy ra △ABD=△CDB (c.c.c), do đó DAB=BCD — đây là câu b) Vì AB\parallelDC nên OAB=OCD, OBA=ODC (so le trong); xét △AOB và △COD có OAB=OCD, AB=CD (câu a), OBA=ODC, suy ra △AOB=△COD (g.c.g), do đó OA=OC, OB=OD — đây là câu c)
Vậy cả ba câu a, b, c đều được chứng minh: cạnh đối bằng nhau, góc đối bằng nhau, hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.
2Cách 2. Toạ độ hoá bằng vectơ
Định hướng. Vì AB\parallelDC và AD\parallelBC nên có thể viết DC=AB; từ một đẳng thức vectơ duy nhất suy ra cả ba kết quả.
Đặt A là gốc, AB=u, AD=v; vì ABCD là hình bình hành nên C=B+v=A+u+v DC=C−D=(u+v)−v=u=AB, suy ra DC=AB và DC\parallelAB; tương tự BC=C−B=v=AD, suy ra BC=AD — đây là câu a) và cũng cho ABC=CDA vì △ABC, △CDA bằng nhau (hai cạnh và góc xen giữa bằng nhau theo vectơ đối) Từ AB=CD, AD=BC, cạnh BD chung, suy ra △ABD=△CDB (c.c.c), cho DAB=BCD — câu b) Trung điểm AC có toạ độ A+21(u+v); trung điểm BD có toạ độ B+21(v−u)=A+u+21(v−u)=A+21(u+v), hai trung điểm trùng nhau nên O là trung điểm chung, do đó OA=OC, OB=OD — câu c)
Vậy bằng vectơ cũng suy ra đầy đủ ba kết quả của câu a, b, c.
3Cách 3. Dùng phép đối xứng tâm O
Định hướng. Nếu chứng minh được O (giao điểm hai đường chéo) là trung điểm của AC, phép đối xứng tâm O sẽ biến A↔C, B↔D và mang lại mọi kết quả còn lại.
AB\parallelDC, AD\parallelBC (giả thiết hình bình hành) nên △ABC=△CDA (g.c.g, như Cách 1), suy ra AB=CD, AD=BC, ABC=CDA — câu a) Từ AB=CD, AD=CB, cạnh BD chung, △ABD=△CDB (c.c.c), suy ra DAB=BCD — câu b) Xét phép đối xứng tâm O: vì AB\parallelDC và AB=DC nên B là ảnh của D qua một phép đối xứng tâm nào đó cùng lúc với A là ảnh của C, và tâm đối xứng chính là giao điểm hai đường chéo O Do đó O là trung điểm chung của AC và BD, tức OA=OC, OB=OD — câu c)
Vậy cách nhìn bằng đối xứng tâm cũng khẳng định lại đầy đủ Định lí 1.
Nhận xét. Cách 1 là cách chuẩn mực nhất để trình bày trong bài kiểm tra vì chỉ dùng tam giác bằng nhau, không cần khái niệm vectơ hay phép biến hình.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần hai lần tam giác bằng nhau liên tiếp, đúng theo gợi ý SGK và không đòi hỏi kiến thức vectơ chưa chắc mọi lớp đã học.
Đáp số.a) △ABC=△CDA⇒AB=CD, AD=BC, ABC=CDA. b) △ABD=△CDB⇒DAB=BCD. c) △AOB=△COD⇒OA=OC, OB=OD.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp ở câu c) là chứng minh △AOB=△COD mà không dùng lại kết quả AB=CD của câu a), rồi lấy bừa "cạnh AO, CO bằng nhau" làm giả thiết — trong khi OA=OC chính là điều CẦN chứng minh, không được dùng làm giả thiết trước.
🚀 Mở rộng.Từ ba kết quả này suy ra ngay Nhận xét của SGK: trong một hình bình hành, hai góc kề một cạnh bất kì luôn bù nhau (vì A+B=180∘ do AD\parallelBC, hai góc trong cùng phía).
Bài 6 · Câu hỏi (trang 59)★Trang 59— Viết giả thiết – kết luận của một định lí hình học
Câu hỏi (trang 59). Hãy viết giả thiết, kết luận của Định lí 2.
Kiến thức cần nhớ
Định lí 2: a) Tứ giác có các cạnh đối bằng nhau là một hình bình hành. b) Tứ giác có một cặp cạnh đối song song và bằng nhau là một hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
Định lí 2 có hai ý a), b) với giả thiết khác nhau (cạnh đối bằng nhau; hoặc một cặp cạnh đối song song và bằng nhau), nên khi viết GT – KL cần tách rõ hai trường hợp, không gộp chung. Dấu hiệu để tách đúng là đọc kỹ từng ý a), b) của định lí rồi mới gọi tên các cạnh liên quan.
1Cách 1. Viết GT – KL bằng lời và ký hiệu
Định hướng. Giả thiết là điều đã cho (về cạnh), kết luận là điều cần chỉ ra (ABCD là hình bình hành).
Ý a): GT: Tứ giác ABCD có AB=CD, BC=DA — KL: ABCD là hình bình hành Ý b): GT: Tứ giác ABCD có AB\parallelCD và AB=CD — KL: ABCD là hình bình hành
Vậy đó là giả thiết, kết luận của Định lí 2, ứng với hai dấu hiệu nhận biết theo cạnh.
2Cách 2. Minh hoạ GT – KL trực tiếp trên hình vẽ
Định hướng. Thay vì viết bằng lời, đánh dấu ngay các cạnh bằng nhau, song song lên một hình vẽ tứ giác ABCD, cách trình bày quen thuộc trong SGK.
Ý a): vẽ tứ giác ABCD, đánh dấu cùng một kí hiệu (gạch chéo) lên cặp cạnh AB, CD và cặp cạnh BC, DA để thể hiện GT: hai cặp cạnh đối bằng nhau Ý b): vẽ tứ giác ABCD, đánh dấu mũi tên song song lên cặp cạnh AB, CD kèm kí hiệu bằng nhau để thể hiện GT: một cặp cạnh đối vừa song song vừa bằng nhau Ở cả hai hình, ghi chú thích KL: ABCD là hình bình hành ngay dưới hình vẽ
Vậy hình vẽ có đánh dấu cũng thể hiện đầy đủ đúng nội dung GT – KL như cách viết bằng lời ở Cách 1.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Khi làm bài kiểm tra nên dùng Cách 1 (viết bằng chữ và ký hiệu): rõ ràng, không phụ thuộc hình vẽ có sẵn hay không.
Đáp số.a) GT: ABCD có AB=CD, BC=DA — KL: ABCD là hình bình hành. b) GT: ABCD có AB\parallelCD, AB=CD — KL: ABCD là hình bình hành.
Sai lầm thường gặp.Nhầm giả thiết của ý b) thành "một cặp cạnh đối song song" mà quên ghi thêm điều kiện "và bằng nhau" — thiếu điều kiện này thì tứ giác chỉ là hình thang, chưa chắc là hình bình hành.
🚀 Mở rộng.So sánh với Định lí 1 (chiều thuận: hình bình hành thì có tính chất cạnh, góc, đường chéo) để thấy Định lí 2, 3 chính là các mệnh đề đảo dùng làm dấu hiệu nhận biết.
Bài 7 · Luyện tập 1★★Trang 58— Chứng minh trung điểm chung của hai đoạn thẳng bằng tứ giác đặc biệt (hình bình hành)
Luyện tập 1 (trang 58). Cho tam giác ABC. Từ một điểm M tuỳ ý trên cạnh BC, kẻ đường thẳng song song với AB, cắt cạnh AC tại N và kẻ đường thẳng song song với AC, cắt cạnh AB tại P. Gọi I là trung điểm của đoạn NP. Chứng minh rằng I cũng là trung điểm của đoạn thẳng AM.
Kiến thức cần nhớ
Tứ giác có các cạnh đối song song là một hình bình hành (định nghĩa).
Hai đường chéo của hình bình hành cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường (Định lí 1c).
🧠 Phân tích tư duy
Hai cặp cạnh song song theo cách dựng (MN\parallelAB vì kẻ song song, MP\parallelAC vì kẻ song song) là dấu hiệu ngay của một hình bình hành APMN; một khi nhận ra tứ giác APMN là hình bình hành thì trung điểm hai đường chéo trùng nhau là hệ quả tức thời của Định lí 1. Bẫy hay gặp là đặt tên tứ giác sai thứ tự đỉnh khiến việc gọi cạnh đối, đường chéo bị nhầm lẫn.
1Cách 1. Nhận ra tứ giác APMN là hình bình hành
Định hướng.NP và AM chính là hai đường chéo của tứ giác APMN; chỉ cần chỉ ra APMN là hình bình hành.
MN\parallelAB (theo cách dựng), tức MN\parallelAP MP\parallelAC (theo cách dựng), tức MP\parallelAN Tứ giác APMN có AP\parallelMN và AN\parallelMP nên là hình bình hành Hai đường chéo AM và PN của hình bình hành APMN cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường (Định lí 1c) Mà I là trung điểm của NP nên I cũng chính là giao điểm hai đường chéo đó
VậyI là trung điểm của đoạn thẳng AM.
2Cách 2. Dùng đường trung bình của tam giác
Định hướng.MN\parallelAB trong tam giác ABC nên MN là một phần của đường thẳng cắt hai cạnh, dùng định lí Thalès để so sánh đoạn thẳng thay cho việc gọi tên hình bình hành.
MN\parallelAB nên CACN=CBCM (định lí Thalès trong △ABC), suy ra AN=AC−CN=AB⋅BCBM theo tỉ lệ tương ứng Tương tự MP\parallelAC cho AP=AC⋅BCBM, cùng tỉ lệ với MN và NA Xét tứ giác APMN: vì các tỉ lệ trên khớp nhau, AP=MN và AN=MP, tức các cạnh đối bằng nhau, nên theo Định lí 2a, APMN là hình bình hành Hai đường chéo AM, NP của hình bình hành này cắt nhau tại trung điểm mỗi đường, mà I là trung điểm NP
VậyI cũng là trung điểm của AM.
3Cách 3. Toạ độ hoá bằng vectơ
Định hướng. Biểu diễn N, P, M theo hai vectơ cạnh AB, AC rồi tính toạ độ trung điểm NP và so sánh với 21AM.
Đặt A làm gốc, AB=u, AC=v; gọi M trên BC với AM=(1−t)u+tv ứng với tỉ số t=BCBM Vì MN\parallelAB và N trên AC nên N=tv (cùng tung độ theo v với M) Vì MP\parallelAC và P trên AB nên P=(1−t)u (cùng hoành độ theo u với M) Trung điểm NP là 21((1−t)u+tv), đúng bằng 21AM
Vậy trung điểm của NP trùng với trung điểm của AM, tức I là trung điểm AM.
Nhận xét. Cách 1 ngắn gọn nhất vì chỉ cần một câu "tứ giác có hai cặp cạnh đối song song".
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: nhận ra ngay hình bình hành APMN từ chính cách dựng của đề, rồi áp thẳng Định lí 1c — chỉ ba dòng.
Đáp số.I là trung điểm của đoạn thẳng AM (vì APMN là hình bình hành nhận AM, NP làm hai đường chéo).
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là gọi tên tứ giác lộn thứ tự thành "ANMP" hay "AMNP" khiến cặp cạnh đối bị hiểu sai (nhầm AN đối với MP thành AN kề MP), dẫn tới lập luận sai đường chéo. Cần xác định đúng thứ tự đỉnh A,P,M,N đi vòng quanh tứ giác trước khi gọi tên cạnh đối, đường chéo.
🚀 Mở rộng.Kết quả này chính là bổ đề dùng để chứng minh đường trung bình của tam giác đi qua trung điểm hai cạnh và song song với cạnh thứ ba — sẽ gặp lại ở Bài 13.
Bài 8 · Tranh luận★★Trang 59— Phản biện một mệnh đề đảo sai bằng phản ví dụ (hình bình hành)
Tranh luận (trang 59). Tròn: "Hình thang cân thì có hai cạnh bên bằng nhau. Ngược lại, hình thang có hai cạnh bên bằng nhau thì nó là hình thang cân." Vuông: "Tròn sai rồi! Có trường hợp hình thang có hai cạnh bên bằng nhau nhưng nó lại là hình bình hành mà không phải là hình thang cân." Theo em, bạn nào đúng? Vì sao?
Kiến thức cần nhớ
Hình thang cân là hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau (hoặc hai đường chéo bằng nhau).
Hình bình hành là hình thang có hai cặp cạnh đối song song, và hai cạnh bên (cũng là một cặp cạnh đối) luôn bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Mệnh đề của Tròn là mệnh đề ĐẢO của một tính chất đúng (hình thang cân có hai cạnh bên bằng nhau), mà mệnh đề đảo không phải lúc nào cũng đúng — dấu hiệu để nghi ngờ là phải tìm phản ví dụ: một hình thang có hai cạnh bên bằng nhau nhưng không cân. Hình bình hành đúng là hình thang đặc biệt (có một cặp cạnh đối song song là AB\parallelCD) mà lại có cả hai cạnh bên bằng nhau — đúng như Vuông chỉ ra.
1Cách 1. Chỉ ra phản ví dụ cụ thể (hình bình hành)
Định hướng. Muốn bác bỏ một mệnh đề "nếu ... thì ...", chỉ cần một trường hợp thoả giả thiết mà không thoả kết luận.
Xét hình bình hành ABCD bất kì không phải hình chữ nhật, coi AB, CD là hai đáy ABCD là hình thang vì AB\parallelCD; hai cạnh bên AD, BC bằng nhau (tính chất cạnh đối của hình bình hành, Định lí 1a) Nhưng ABCD không phải hình thang cân, vì hai góc kề đáy A và B không bằng nhau (chúng là hai góc trong cùng phía bù nhau chứ không bằng nhau, trừ khi hình chữ nhật)
Vậy hình bình hành không phải hình chữ nhật là một hình thang có hai cạnh bên bằng nhau nhưng không phải hình thang cân, nên Vuông đúng, Tròn sai.
2Cách 2. Lập luận từ định nghĩa hình thang cân
Định hướng. Xem lại đúng định nghĩa hình thang cân để thấy điều kiện "hai cạnh bên bằng nhau" không nằm trong định nghĩa, chỉ là hệ quả một chiều.
Định nghĩa: hình thang cân là hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau Từ định nghĩa suy ra được hai cạnh bên bằng nhau (chiều thuận đã học), nhưng định nghĩa không nói điều ngược lại Ở hình bình hành, hai cạnh bên bằng nhau do tính chất CẠNH ĐỐI (Định lí 1a) chứ không xuất phát từ hai góc kề đáy bằng nhau — hai góc kề đáy của nó nói chung khác nhau
Vậy hai cạnh bên bằng nhau có thể đến từ hai nguyên nhân khác nhau (thang cân, hoặc bình hành), nên mệnh đề đảo của Tròn sai; Vuông đúng.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: đưa ngay một phản ví dụ cụ thể là cách bác bỏ mệnh đề sai thuyết phục và nhanh nhất, không cần lập luận về định nghĩa dài dòng.
Đáp số.Vuông đúng, Tròn sai: hình bình hành (không phải hình chữ nhật) là phản ví dụ — có hai cạnh bên bằng nhau nhưng không phải hình thang cân.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm của Tròn là áp dụng ngược một tính chất đúng chiều thuận (hình thang cân ⟹ hai cạnh bên bằng nhau) thành mệnh đề đảo mà không kiểm tra — đây là lỗi logic rất phổ biến khi học các dấu hiệu nhận biết hình.
🚀 Mở rộng.Điều kiện đúng để "hình thang có hai cạnh bên bằng nhau" chắc chắn là hình thang cân là phải thêm giả thiết hai cạnh bên đó KHÔNG song song với nhau (loại trừ trường hợp hình bình hành).
Bài 9 · Luyện tập 2★★★Trang 60— Tam giác cân tạo bởi tia phân giác và cạnh song song; nhận biết hình bình hành từ hai đoạn thẳng song song, bằng nhau
Luyện tập 2 (trang 60). Cho hình bình hành ABCD (AB>BC). Tia phân giác của góc D cắt AB tại E và tia phân giác của góc B cắt CD tại F (H.3.32). a) Chứng minh hai tam giác ADE và CBF là những tam giác cân, bằng nhau. b) Tứ giác DEBF là hình gì? Tại sao?
Kiến thức cần nhớ
Nếu một cạnh bị hai đường thẳng song song cắt tạo góc so le trong bằng góc đã cho thì tam giác tạo thành là tam giác cân.
Định lí 2b: tứ giác có một cặp cạnh đối song song và bằng nhau là hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
Tia phân giác của D cắt AB tạo ra hai góc so le trong bằng nhau với AB\parallelDC, ghép với chính góc bị chia đôi cho ra một tam giác cân — đây là mô hình quen thuộc "phân giác + hai đường song song = tam giác cân". Sau khi có AE=AD và CF=CB, bẫy tiếp theo là phải quy các đoạn này về cùng độ dài AB−AD để so sánh và suy ra DEBF là hình bình hành bằng dấu hiệu cạnh đối song song và bằng nhau.
1Cách 1. Dùng góc so le trong để chỉ ra tam giác cân, rồi so cạnh
Định hướng. Từ AB\parallelDC suy ra góc so le trong giữa tia phân giác và cạnh AB, ghép với tính chất phân giác chia đôi góc.
DE là phân giác ADC nên ADE=EDC; vì AB\parallelDC nên AED=EDC (so le trong) Suy ra ADE=AED, do đó △ADE cân tại A, tức AE=AD Tương tự, BF là phân giác ABC và DC\parallelAB cho CBF=BFC, nên △CBF cân tại C, tức CF=CB Vì ABCD là hình bình hành nên AD=CB (Định lí 1a), kết hợp AE=AD, CF=CB suy ra AE=CF Xét △ADE và △CBF có AD=CB, DAE=BCF (góc đối hình bình hành, Định lí 1b), AE=CF, suy ra △ADE=△CBF (c.g.c)
Vậy△ADE và △CBF là hai tam giác cân (tại A và tại C) và bằng nhau — đây là câu a).
Nhận xét. Câu b): DEBF có DF=DC−FC=AB−AE=EB và DF\parallelEB (cùng nằm trên DC, AB song song), nên theo Định lí 2b, DEBF là hình bình hành.
2Cách 2. Tính trực tiếp độ dài DF, EB rồi so sánh
Định hướng. Thay vì so hai tam giác, tính thẳng DF và EB theo AB, CD, AD để so sánh, dùng cho cả câu a) lẫn b) cùng lúc.
△ADE cân tại A (như Cách 1) cho AE=AD; đặt AD=BC=a, AB=DC=b (b>a theo giả thiết AB>BC) EB=AB−AE=b−a △CBF cân tại C cho CF=CB=a, suy ra DF=DC−CF=b−a Vậy EB=DF=b−a, và EB\parallelDF (vì cùng nằm trên hai đường thẳng song song AB, DC) △ADE và △CBF có AD=CB=a, AE=CF=a, DE=DC−DF=b−(b−a)=a... xét cạnh DE, BF bằng nhau qua tam giác cân có hai cạnh bên bằng a và góc ở đỉnh bằng nhau (góc A đối góc C), nên △ADE=△CBF (c.g.c)
Vậy hai tam giác cân bằng nhau (câu a), và DEBF có DF\parallelEB, DF=EB nên là hình bình hành (câu b, theo Định lí 2b).
3Cách 3. Dùng đối xứng tâm quanh tâm hình bình hành
Định hướng. Phép đối xứng tâm qua giao điểm hai đường chéo O của ABCD biến A↔C, B↔D, nên biến luôn phân giác góc D thành phân giác góc B.
Gọi O là giao điểm hai đường chéo của ABCD; phép đối xứng tâm O biến A→C, D→B, B→D (Định lí 1c) Phép đối xứng tâm biến tia phân giác của ADC (tại D) thành tia phân giác của góc đối đỉnh tương ứng tại C, tức là ảnh của tia DE chính là tia BF vì ABC đối với ADC qua tâm O Do đó ảnh của điểm E (trên AB) qua phép đối xứng tâm O chính là điểm F (trên CD), suy ra O là trung điểm EF và △ADE, △CBF là ảnh của nhau qua phép đối xứng tâm nên bằng nhau và cân như nhau Vì O cũng là trung điểm DB (đường chéo DB của ABCD), tứ giác DEBF có hai đường chéo DB, EF cùng nhận O làm trung điểm
Vậy theo Định lí 3b, DEBF là hình bình hành, đồng thời hai tam giác ADE, CBF bằng nhau vì là ảnh của nhau qua phép đối xứng tâm O.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ dùng góc so le trong và một lần c.g.c, không cần đặt ẩn độ dài như Cách 2 hay khái niệm phép đối xứng tâm như Cách 3.
Đáp số.a) △ADE cân tại A, △CBF cân tại C, và △ADE=△CBF. b) DEBF là hình bình hành (có DF\parallelEB và DF=EB).
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là cho rằng E, F đối xứng nhau qua tâm ABCD một cách hiển nhiên mà không chứng minh; thực chất đây là một KẾT QUẢ cần suy ra từ DF=EB và DF\parallelEB, chứ không phải điều được cho sẵn trong đề.
🚀 Mở rộng.Nếu AB=BC (hình bình hành trở thành hình thoi) thì E≡B, F≡D, tứ giác DEBF suy biến — bài toán chỉ thật sự có nghĩa khi AB=BC như giả thiết AB>BC đã nêu.
Bài 10 · Thực hành 2★Trang 60— Nhận biết hình bình hành từ bốn đoạn có độ dài bằng nhau từng cặp xen kẽ
Thực hành 2 (trang 60). Chia một sợi dây xích thành bốn đoạn: hai đoạn dài bằng nhau, hai đoạn ngắn bằng nhau và đoạn dài, đoạn ngắn xen kẽ nhau. Hỏi khi móc hai đầu mút của sợi dây xích đó lại để được một tứ giác ABCD (có các đỉnh tại các điểm chia) như Hình 3.33 thì tứ giác ABCD là hình gì? Tại sao?
Kiến thức cần nhớ
Định lí 2a: tứ giác có các cạnh đối bằng nhau là một hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
Bốn đoạn dây xếp xen kẽ dài – ngắn – dài – ngắn khi ghép thành tứ giác ABCD chính là bốn cạnh liên tiếp, mà "xen kẽ" nghĩa là hai cạnh ĐỐI của tứ giác cùng độ dài (cạnh 1 đối cạnh 3, cạnh 2 đối cạnh 4) — đúng dấu hiệu cạnh đối bằng nhau của Định lí 2a. Không cần đo đạc gì thêm ngoài việc xác định đúng cặp cạnh nào là cạnh đối trong tứ giác vừa ghép.
1Cách 1. Dùng trực tiếp Định lí 2a
Định hướng. Xác định đúng cặp cạnh nào đối nhau trong tứ giác ABCD rồi so độ dài.
Bốn đoạn dây xếp xen kẽ dài, ngắn, dài, ngắn tạo thành bốn cạnh liên tiếp AB, BC, CD, DA của tứ giác Cạnh AB và cạnh CD là hai đoạn "dài" (cách nhau một đoạn ngắn ở giữa) nên AB=CD Cạnh BC và cạnh DA là hai đoạn "ngắn" nên BC=DA Tứ giác ABCD có các cạnh đối bằng nhau (AB=CD, BC=DA)
Vậy theo Định lí 2a, tứ giác ABCD là hình bình hành.
2Cách 2. Kẻ một đường chéo, dùng tam giác bằng nhau
Định hướng. Không nhớ ngay Định lí 2a thì có thể chứng minh lại từ đầu bằng cách kẻ đường chéo, quy về hai tam giác bằng nhau rồi suy ra cạnh đối song song.
Kẻ đường chéo AC; xét △ABC và △CDA có AB=CD (hai đoạn dài), BC=DA (hai đoạn ngắn), AC chung, suy ra △ABC=△CDA (c.c.c) Suy ra BAC=DCA (hai góc so le trong bằng nhau), do đó AB\parallelDC Suy ra BCA=DAC, do đó BC\parallelAD
VậyABCD có hai cặp cạnh đối song song nên là hình bình hành (đúng theo định nghĩa).
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: áp trực tiếp Định lí 2a vừa học, chỉ cần một câu xác định đúng cặp cạnh đối bằng nhau.
Đáp số.Tứ giác ABCD là hình bình hành, vì có các cặp cạnh đối bằng nhau (hai đoạn dây dài bằng nhau, hai đoạn dây ngắn bằng nhau, xếp xen kẽ).
Sai lầm thường gặp.Nếu xếp bốn đoạn dây theo thứ tự dài, dài, ngắn, ngắn (không xen kẽ) thay vì dài, ngắn, dài, ngắn thì hai cạnh kề nhau bằng nhau chứ không phải cạnh ĐỐI bằng nhau — tứ giác đó nói chung không phải là hình bình hành (chỉ là tứ giác có hai cặp cạnh kề bằng nhau, dạng "hình cái diều").
🚀 Mở rộng.Nếu bốn đoạn dây bằng nhau cả bốn (không phân biệt dài ngắn) thì tứ giác ghép được là một hình thoi — trường hợp đặc biệt của hình bình hành.
Bài 11 · Câu hỏi (trang 60)★Trang 60— Viết giả thiết – kết luận của một định lí hình học
Câu hỏi (trang 60). Hãy viết giả thiết, kết luận của Định lí 3.
Kiến thức cần nhớ
Định lí 3: a) Tứ giác có các góc đối bằng nhau là một hình bình hành. b) Tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường là một hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
Định lí 3 cũng có hai ý a), b) như Định lí 2, với giả thiết về góc đối hoặc về đường chéo, nên viết GT – KL cần tách hai trường hợp rõ ràng, không viết gộp một dòng. Cần đặc biệt chú ý ý b) phải nêu rõ tên giao điểm hai đường chéo trước khi viết điều kiện bằng nhau.
1Cách 1. Viết GT – KL bằng lời và ký hiệu
Định hướng. Giả thiết là điều đã cho (về góc hoặc đường chéo), kết luận là ABCD là hình bình hành.
Ý a): GT: Tứ giác ABCD có A=C, B=D — KL: ABCD là hình bình hành Ý b): GT: Tứ giác ABCD có AC cắt BD tại O với OA=OC, OB=OD — KL: ABCD là hình bình hành
Vậy đó là giả thiết, kết luận của Định lí 3, ứng với hai dấu hiệu nhận biết theo góc và theo đường chéo.
2Cách 2. Minh hoạ GT – KL trực tiếp trên hình vẽ
Định hướng. Đánh dấu ngay các góc bằng nhau hoặc các đoạn bằng nhau trên hình vẽ tứ giác ABCD, thay cho cách viết bằng chữ.
Ý a): vẽ tứ giác ABCD, đánh dấu cung tròn cùng kí hiệu tại đỉnh A và C, cùng kí hiệu khác tại đỉnh B và D, để thể hiện GT: hai cặp góc đối bằng nhau Ý b): vẽ tứ giác ABCD với hai đường chéo cắt nhau tại O, đánh dấu cùng một kí hiệu (gạch chéo) lên bốn đoạn OA, OC và một kí hiệu khác lên OB, OD để thể hiện GT: hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường Ở cả hai hình, ghi chú thích KL: ABCD là hình bình hành ngay dưới hình vẽ
Vậy hình vẽ có đánh dấu cũng thể hiện đầy đủ đúng nội dung GT – KL như cách viết bằng lời ở Cách 1.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Khi làm bài kiểm tra nên dùng Cách 1 (viết bằng chữ và ký hiệu): tránh phải vẽ lại hình mỗi lần và dễ chấm điểm hơn.
Đáp số.a) GT: ABCD có A=C, B=D — KL: ABCD là hình bình hành. b) GT: AC∩BD=O, OA=OC, OB=OD — KL: ABCD là hình bình hành.
Sai lầm thường gặp.Nhầm ý a) chỉ cần MỘT cặp góc đối bằng nhau (chẳng hạn chỉ A=C) là đủ kết luận hình bình hành — thực ra định lí đòi hỏi CẢ HAI cặp góc đối cùng bằng nhau.
🚀 Mở rộng.Có thể chứng minh chỉ cần A=C và B=D là đủ suy ra cả bốn góc thoả mãn vì tổng bốn góc tứ giác luôn bằng 360∘, nhưng đó là một bài toán suy luận thêm, không phải phát biểu gốc của định lí.
Bài 12 · Luyện tập 3★★Trang 61— Chứng minh hai đoạn thẳng song song và bằng nhau bằng dấu hiệu đường chéo hình bình hành
Luyện tập 3 (trang 61). Cho hai điểm A, B phân biệt và điểm O không nằm trên đường thẳng AB. Gọi A′, B′ là các điểm sao cho O là trung điểm của AA′, BB′. Chứng minh rằng A′B′=AB và đường thẳng A′B′ song song với đường thẳng AB.
Kiến thức cần nhớ
Định lí 3b: tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường là một hình bình hành.
Định lí 1a: trong hình bình hành, các cạnh đối song song và bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
O là trung điểm chung của cả AA′ lẫn BB′ — đúng dấu hiệu "hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường" của Định lí 3b, chỉ cần coi AA′ và BB′ là hai đường chéo của tứ giác ABA′B′ (hoặc AB′A′B tuỳ thứ tự) là suy ra ngay hình bình hành, kéo theo cạnh đối song song và bằng nhau. Bẫy của bài là dễ gọi nhầm tên tứ giác khiến xác định sai đâu là đường chéo, đâu là cạnh.
1Cách 1. Nhận ra AA', BB' là hai đường chéo của một hình bình hành
Định hướng. Xét tứ giác AB′A′B có hai đường chéo đúng là AA′ và BB′.
O là trung điểm của AA′ và cũng là trung điểm của BB′ (giả thiết) Tứ giác AB′A′B có hai đường chéo AA′, BB′ cắt nhau tại O là trung điểm của mỗi đường Theo Định lí 3b, tứ giác AB′A′B là hình bình hành Trong hình bình hành đó, cạnh AB và cạnh A′B′ là một cặp cạnh đối, nên AB\parallelA′B′ và AB=A′B′ (Định lí 1a)
VậyA′B′=AB và đường thẳng A′B′ song song với đường thẳng AB.
2Cách 2. Tam giác bằng nhau qua hai cạnh và góc đối đỉnh
Định hướng. Vì O là trung điểm của cả hai đoạn nên △OAB và △OA′B′ có hai cặp cạnh bằng nhau và góc xen giữa là hai góc đối đỉnh.
OA=OA′ (O là trung điểm AA′), OB=OB′ (O là trung điểm BB′) AOB=A′OB′ (hai góc đối đỉnh) Xét △OAB và △OA′B′ có OA=OA′, AOB=A′OB′, OB=OB′, suy ra △OAB=△OA′B′ (c.g.c) Suy ra AB=A′B′ (cạnh tương ứng) và OAB=OA′B′ (góc tương ứng), mà hai góc này ở vị trí so le trong của cát tuyến AA′ với hai đường thẳng AB, A′B′
VậyAB=A′B′ và AB\parallelA′B′ (vì có cặp góc so le trong bằng nhau).
3Cách 3. Toạ độ hoá bằng vectơ (phép đối xứng tâm)
Định hướng.A′, B′ chính là ảnh của A, B qua phép đối xứng tâm O; phép đối xứng tâm bảo toàn độ dài đoạn thẳng và biến một đường thẳng thành đường thẳng song song với nó.
Vì O là trung điểm AA′ nên OA′=−OA; vì O là trung điểm BB′ nên OB′=−OB A′B′=OB′−OA′=−OB−(−OA)=OA−OB=−(OB−OA)=−AB Suy ra A′B′=−AB, tức hai vectơ cùng độ dài, ngược hướng
VậyA′B′=AB và A′B′\parallelAB (hai vectơ đối nhau nằm trên hai đường thẳng song song).
Nhận xét. Cách 3 cho luôn cả chiều của A′B′ ngược với AB, thông tin mà Cách 1, 2 không thể hiện trực tiếp.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: nhận ra ngay AB′A′B là hình bình hành theo Định lí 3b vừa học trong chính bài này, chỉ cần hai dòng.
Đáp số.A′B′=AB và A′B′\parallelAB.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là viết tứ giác theo thứ tự sai, chẳng hạn gọi "ABA′B′" rồi coi AB, A′B′ là hai đường chéo — thực chất AA′ và BB′ mới là hai đường chéo (đi qua O), còn AB, A′B′ là hai cạnh ĐỐI; gọi sai thứ tự đỉnh sẽ dẫn đến lập luận về đường chéo sai hẳn.
🚀 Mở rộng.Đây chính là bổ đề nền cho phép đối xứng tâm: phép đối xứng tâm O biến đoạn thẳng AB thành đoạn thẳng A′B′ song song và bằng AB — tính chất sẽ dùng lại nhiều lần ở các bài về phép biến hình.
Bài 13 · Vận dụng★★★Trang 61— Thực hiện cụ thể phép dựng hình đã lập luận ở bài toán mở đầu
Vận dụng (trang 61). Trở lại bài toán mở đầu. Em hãy vẽ hình và nêu cách vẽ con đường cần mở đi qua O sao cho theo con đường đó, hai đoạn đường từ O tới a và tới b bằng nhau.
Kiến thức cần nhớ
Hai đường chéo của hình bình hành cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường (Định lí 1c).
Tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường là hình bình hành (Định lí 3b).
🧠 Phân tích tư duy
Đây là bước THI CÔNG lại đúng sơ đồ đã lập luận ở Mở đầu: cần nêu tuần tự các thao tác dựng bằng thước, compa để vẽ ra hình cụ thể, không chỉ nói suông "tồn tại". Bẫy là phải dựng đúng THỨ TỰ (dựng A′ trước, rồi mới kẻ hai đường song song qua A′), nếu đảo thứ tự sẽ không xác định được A′.
1Cách 1. Dựng bằng đối xứng tâm và hai đường song song
Định hướng. Thực hiện đúng bốn bước đã lập luận ở Mở đầu: lấy điểm đối xứng, kẻ hai đường song song, nối hai giao điểm.
Gọi A là giao điểm của hai con đường a, b; lấy điểm A′ sao cho O là trung điểm của AA′ (dùng compa quay cung tâm O bán kính OA theo tia đối của tia OA) Qua A′ kẻ đường thẳng song song với a, cắt b tại N; qua A′ kẻ đường thẳng song song với b, cắt a tại M Nối M, N: vì AMA′N là hình bình hành (hai cặp cạnh song song theo cách dựng) nên hai đường chéo AA′, MN cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường, mà O là trung điểm AA′, nên O cũng là trung điểm MN
Vậy đường thẳng MN chính là con đường cần mở, đi qua O và có OM=ON.
2Cách 2. Dựng bằng compa từ hai cung tròn tâm O
Định hướng. Không cần dựng A′, có thể thử trực tiếp bằng cách xoay một thước qua O và kiểm tra bằng compa cho tới khi hai đoạn bằng nhau — đây là cách dựng thử/kiểm tra thay cho cách dựng tất định ở Cách 1.
Vẽ một đường thẳng bất kì qua O, cắt a tại M1 và cắt b tại N1 Dùng compa đo OM1 và ON1; nếu OM1=ON1 thì dừng, nếu không thì xoay nhẹ đường thẳng quanh O theo hướng làm hai đoạn xích lại gần nhau, lặp lại phép đo Quá trình hội tụ về đúng vị trí MN đã dựng chính xác ở Cách 1 (vì đó là đường duy nhất thoả mãn)
Vậy đường thẳng tìm được bằng phép thử – đo này trùng với đường MN dựng chính xác ở Cách 1.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi (thực hành) dùng Cách 1: dựng tất định bằng compa – thước, ra kết quả chính xác ngay lần đầu, không phải thử sai như Cách 2.
Đáp số.Con đường cần mở là đường thẳng MN, dựng theo bốn bước ở Cách 1 (lấy A′ đối xứng A qua O, kẻ hai đường song song qua A′ với a, b).
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp khi vẽ là quên kiểm tra A, O, A′ thẳng hàng với O ở giữa — nếu lấy nhầm A′ sao cho O không phải trung điểm thật sự (chỉ áng chừng bằng mắt) thì M, N dựng ra sẽ không cách đều O.
🚀 Mở rộng.Bài toán tổng quát hơn: nếu O nằm ngoài góc tạo bởi a, b (không phải bên trong) thì cách dựng có còn áp dụng được không? Hãy thử vẽ và kiểm tra.
Bài 14 · Bài 3.13★★Trang 61— Xét tính đúng sai của các mệnh đề về dấu hiệu nhận biết hình bình hành
Bài 3.13 (trang 61). Trong các khẳng định sau, khẳng định nào đúng, khẳng định nào sai? Vì sao? a) Hình thang có hai cạnh bên song song là hình bình hành. b) Hình thang có hai cạnh bên bằng nhau là hình bình hành. c) Tứ giác có hai cạnh đối nào cũng song song là hình bình hành.
Kiến thức cần nhớ
Hình bình hành là tứ giác có các cạnh đối song song (định nghĩa).
Hình thang có hai cạnh bên song song thì hai cạnh bên đó cũng chính là một cặp cạnh đối song song còn lại của tứ giác.
🧠 Phân tích tư duy
Ba câu đều nói về "hình thang" hoặc "tứ giác" với thêm một điều kiện, cần đối chiếu chính xác với ĐỊNH NGHĨA hình bình hành (cạnh đối song song) chứ không suy diễn cảm tính. Bẫy nằm ở câu b): "cạnh bên bằng nhau" gợi nhớ tới hình thang cân chứ không phải hình bình hành — đã có phản ví dụ ở mục Tranh luận của chính bài học.
1Cách 1. Đối chiếu từng câu với định nghĩa và phản ví dụ
Định hướng. Với câu đúng thì chỉ ra tứ giác đã có đủ hai cặp cạnh đối song song; với câu sai thì đưa phản ví dụ cụ thể.
a) Hình thang ABCD (đáy AB, CD) đã có AB\parallelCD; nếu thêm hai cạnh bên AD\parallelBC thì tứ giác có đủ hai cặp cạnh đối song song, đúng là hình bình hành theo định nghĩa — khẳng định a) ĐÚNG b) Hình bình hành (không phải hình chữ nhật) là một hình thang có hai cạnh bên bằng nhau (đã chỉ ra ở mục Tranh luận), nhưng cũng tồn tại hình thang cân có hai cạnh bên bằng nhau mà KHÔNG là hình bình hành (hai đáy không bằng nhau, hai cạnh bên không song song) — vậy "hai cạnh bên bằng nhau" không đủ để kết luận là hình bình hành, khẳng định b) SAI c) Tứ giác có cả hai cặp cạnh đối song song chính là đúng định nghĩa hình bình hành — khẳng định c) ĐÚNG
Vậy a) đúng, b) sai, c) đúng.
2Cách 2. Lập bảng so sánh điều kiện với định nghĩa
Định hướng. Với mỗi câu, liệt kê điều kiện đã cho rồi so với đúng hai điều kiện cần và đủ của định nghĩa (hai cặp cạnh đối cùng song song).
a) Điều kiện: đáy song song (có sẵn vì là hình thang) + cạnh bên song song (giả thiết thêm) = đủ hai cặp cạnh đối song song ⇒ đúng định nghĩa, ĐÚNG b) Điều kiện: đáy song song (có sẵn) + cạnh bên BẰNG NHAU (không phải song song) = đủ hai cặp cạnh đối song song ⇒ không đúng định nghĩa, SAI c) Điều kiện: "hai cạnh đối nào cũng song song", tức cả hai cặp cạnh đối đều song song = đúng định nghĩa, ĐÚNG
Vậy a) đúng, b) sai, c) đúng — khớp với Cách 1.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: nêu ngay phản ví dụ cho câu sai (b), thuyết phục và nhanh hơn lập bảng.
Đáp số.a) Đúng. b) Sai. c) Đúng.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm phổ biến nhất là cho câu b) đúng vì nhớ nhầm sang tính chất của hình thang CÂN (hình thang cân mới có hai cạnh bên bằng nhau là một tính chất đặc trưng, không phải dấu hiệu của hình bình hành).
🚀 Mở rộng.Có thể sửa câu b) thành đúng nếu thêm điều kiện "và hai cạnh bên đó không song song với hai đáy" thì vẫn chưa đủ; điều kiện đúng để hình thang có hai cạnh bên bằng nhau chắc chắn là hình bình hành là khi hai cạnh bên đó SONG SONG với nhau (khi đó hình thang suy biến ngay thành trường hợp câu a).
Bài 15 · Bài 3.14★Trang 61— Tính góc còn lại của hình bình hành khi biết một góc
Bài 3.14 (trang 61). Tính các góc còn lại của hình bình hành ABCD trong Hình 3.35, biết A=100∘.
Kiến thức cần nhớ
Định lí 1b: trong hình bình hành, các góc đối bằng nhau.
Nhận xét (trang 58): hai góc kề một cạnh bất kì của hình bình hành là hai góc bù nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Đề chỉ cho đúng một góc (A=100∘) của một hình có bốn góc, đúng bối cảnh dùng hai tính chất đã học của Định lí 1: góc đối bằng nhau và hai góc kề một cạnh bù nhau — hai tính chất này đủ suy ra cả ba góc còn lại mà không cần đo đạc gì thêm. Thứ tự hợp lý là tìm góc đối trước rồi mới tìm góc kề, tránh nhầm lẫn giữa hai loại quan hệ góc.
1Cách 1. Dùng góc đối bằng nhau, rồi bù nhau
Định hướng. Suy ra góc đối trước (C), rồi dùng kề bù để ra hai góc còn lại (B, D).
C=A=100∘ (hai góc đối của hình bình hành, Định lí 1b) B=180∘−A=180∘−100∘=80∘ (hai góc kề cạnh AB bù nhau) D=B=80∘ (hai góc đối của hình bình hành)
VậyB=D=80∘, C=100∘.
2Cách 2. Dùng tổng bốn góc của tứ giác bằng 360°
Định hướng. Kết hợp góc đối bằng nhau với tổng bốn góc của một tứ giác để lập phương trình.
3Cách 3. Dùng hai đường thẳng song song và góc trong cùng phía
Định hướng. Không cần nhớ "hai góc kề bù nhau", có thể suy trực tiếp từ định nghĩa AD\parallelBC và AB\parallelDC cùng tính chất góc trong cùng phía.
AD\parallelBC nên A+B=180∘ (hai góc trong cùng phía của cát tuyến AB) B=180∘−100∘=80∘ AB\parallelDC nên B+C=180∘ (góc trong cùng phía của cát tuyến BC), suy ra C=100∘ D=180∘−C=80∘ (góc trong cùng phía của cát tuyến CD)
VậyB=D=80∘, C=100∘.
Nhận xét. Cách 3 không cần nhớ tính chất góc đối, chỉ cần định nghĩa hình bình hành và tính chất hai đường thẳng song song.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ hai bước (góc đối, rồi bù nhau), nhanh hơn lập phương trình như Cách 2.
Đáp số.B=D=80∘, C=100∘.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là cho B=A=100∘ (nhầm góc KỀ với góc ĐỐI) — hai góc kề một cạnh của hình bình hành bù nhau chứ không bằng nhau, trừ trường hợp đặc biệt hình chữ nhật.
🚀 Mở rộng.Nếu hình bình hành đã cho là hình chữ nhật (A=90∘) thì cả bốn góc đều bằng 90∘ — đây là trường hợp riêng khi góc kề và góc đối trùng nhau.
Bài 16 · Bài 3.15★★Trang 61— Chứng minh hai đoạn thẳng bằng nhau bằng tứ giác trung gian là hình bình hành
Bài 3.15 (trang 61). Cho hình bình hành ABCD. Gọi E, F lần lượt là trung điểm của các cạnh AB, CD. Chứng minh BF=DE.
Kiến thức cần nhớ
Định lí 1a: cạnh đối hình bình hành song song và bằng nhau.
Định lí 2b: tứ giác có một cặp cạnh đối song song và bằng nhau là hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
E, F là trung điểm của hai cạnh ĐỐI AB, CD vốn đã song song và bằng nhau, nên AE, FC (hay EB, DF) cũng song song và bằng nhau — đây là dấu hiệu để nhận ra tứ giác DEBF hoặc EBFD là một hình bình hành, từ đó suy ra BF, DE chính là một cặp cạnh đối của nó. Việc còn lại chỉ là gọi đúng tên tứ giác theo thứ tự đỉnh để xác định đúng cặp cạnh đối cần so sánh.
1Cách 1. Chứng minh DEBF là hình bình hành
Định hướng. Chỉ ra DF và EB (hai cạnh của tứ giác DEBF) song song và bằng nhau, để DE, BF trở thành một cặp cạnh đối của một hình bình hành.
AB\parallelDC và AB=DC (Định lí 1a, ABCD là hình bình hành) E là trung điểm AB nên EB=21AB; F là trung điểm DC nên DF=21DC, mà AB=DC nên EB=DF EB nằm trên đường thẳng AB, DF nằm trên đường thẳng DC, mà AB\parallelDC, nên EB\parallelDF Tứ giác DEBF có DF\parallelEB và DF=EB (một cặp cạnh đối song song và bằng nhau), theo Định lí 2b, DEBF là hình bình hành Trong hình bình hành DEBF, DE và BF là một cặp cạnh đối, nên DE=BF
VậyBF=DE.
2Cách 2. Chứng minh hai tam giác ADE, CBF bằng nhau
Định hướng.DE, BF lần lượt là cạnh của hai tam giác ADE và CBF; chỉ cần hai tam giác này bằng nhau theo c.g.c.
AD=CB (Định lí 1a); DAE=BCF vì DAB=BCD (Định lí 1b, góc đối) và E, F chỉ là các điểm trên cạnh AB, CD nên DAE=DAB, BCF=BCD AE=21AB, CF=21CD, mà AB=CD nên AE=CF Xét △ADE và △CBF có AD=CB, DAE=BCF, AE=CF, suy ra △ADE=△CBF (c.g.c)
VậyDE=BF (hai cạnh tương ứng của hai tam giác bằng nhau).
3Cách 3. Toạ độ hoá bằng vectơ
Định hướng. Biểu diễn E, F theo A, B, C, D rồi tính trực tiếp hai vectơ DE, BF.
Đặt A làm gốc, AB=u, AD=v, khi đó C=u+v (vì ABCD là hình bình hành) E=21u (trung điểm AB); F=21(D+C)=21(v+u+v)=v+21u (trung điểm DC) DE=E−D=21u−v BF=F−B=(v+21u)−u=v−21u=−(21u−v)
VậyBF=−DE, hai vectơ đối nhau nên có cùng độ dài, tức BF=DE.
Nhận xét. Cách 1 tận dụng ngay Định lí 2b vừa học, gọn nhất trong ba cách.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ một lần áp Định lí 2b, không cần dựng thêm tam giác hay toạ độ.
Đáp số.BF=DE (vì DEBF là hình bình hành, có DE, BF là một cặp cạnh đối).
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là ngộ nhận DEBF là hình bình hành ngay từ đầu mà không chứng minh (chỉ "nhìn hình thấy giống"); phải chỉ rõ DF\parallelEB và DF=EB trước, đây là bước bắt buộc theo đúng Định lí 2b.
🚀 Mở rộng.Có thể chứng minh thêm DE\parallelBF (không chỉ bằng nhau) bằng chính tính chất cạnh đối của hình bình hành DEBF vừa dựng được.
Bài 17 · Bài 3.16★★Trang 61— Nhận biết hình bình hành từ số đo các góc (Định lí 3a)
Bài 3.16 (trang 61). Trong mỗi trường hợp sau đây, tứ giác nào là hình bình hành, tứ giác nào không là hình bình hành? Vì sao? (Hình 3.36) a) Tứ giác ABCD có A=100∘, B=80∘, C=100∘. b) Tứ giác ABCD có A=75∘, C=75∘ và D=90∘. c) Tứ giác ABCD có A=70∘, B=110∘, D=110∘.
Kiến thức cần nhớ
Tổng bốn góc của một tứ giác bằng 360∘.
Định lí 3a: tứ giác có các góc đối bằng nhau là một hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
Mỗi hình chỉ cho ba trong bốn góc, nên bước đầu tiên bắt buộc là TÍNH góc còn lại bằng tổng bốn góc tứ giác =360∘, rồi mới so sánh từng cặp góc đối — thiếu bước tính góc còn thiếu này là sai ngay từ gốc. Sau khi có đủ bốn góc, chỉ cần đối chiếu cả hai cặp góc đối với Định lí 3a để kết luận.
1Cách 1. Tính góc còn thiếu rồi so sánh từng cặp góc đối
Định hướng. Dùng tổng bốn góc bằng 360∘ để tìm góc còn thiếu, rồi kiểm tra cả hai cặp góc đối có bằng nhau không.
a) D=360∘−A−B−C=360∘−100∘−80∘−100∘=80∘; ta có A=C=100∘ và B=D=80∘, hai cặp góc đối đều bằng nhau b) B=360∘−A−C−D=360∘−75∘−75∘−90∘=120∘; ta có A=C=75∘ nhưng B=120∘=D=90∘, chỉ một cặp góc đối bằng nhau c) C=360∘−A−B−D=360∘−70∘−110∘−110∘=70∘; ta có A=C=70∘ và B=D=110∘, hai cặp góc đối đều bằng nhau
Vậy theo Định lí 3a: Hình a) và Hình c) là hình bình hành (đủ hai cặp góc đối bằng nhau); Hình b) không là hình bình hành (chỉ một cặp góc đối bằng nhau).
2Cách 2. Xét riêng một cặp góc đối trước, dùng phản chứng cho câu sai
Định hướng. Chỉ cần một cặp góc đối không bằng nhau là đủ kết luận KHÔNG phải hình bình hành, khỏi cần tính hết cả bốn góc.
a) A=C=100∘ (cho sẵn, cùng bằng nhau); còn lại B=80∘ và D=360∘−100∘−80∘−100∘=80∘ cũng bằng nhau, đủ điều kiện Định lí 3a b) A=C=75∘ (cho sẵn, bằng nhau), nhưng D=90∘ đã cho, còn B=360∘−75∘−75∘−90∘=120∘=90∘=D, thiếu cặp góc đối thứ hai c) B=D=110∘ (cho sẵn, bằng nhau); còn lại A=70∘ và C=360∘−70∘−110∘−110∘=70∘ cũng bằng nhau, đủ điều kiện
Vậy Hình a), Hình c) là hình bình hành; Hình b) không là hình bình hành.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: tính đều đủ bốn góc trước rồi so sánh, tránh bỏ sót trường hợp so với Cách 2 (chỉ xét một cặp trước dễ quên kiểm tra cặp còn lại).
Đáp số.Hình a) là hình bình hành (D=80∘). Hình b) không là hình bình hành (B=120∘=D=90∘). Hình c) là hình bình hành (C=70∘).
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp ở câu b) là chỉ kiểm tra cặp góc A=C=75∘ rồi vội kết luận là hình bình hành mà quên kiểm tra luôn cặp góc đối còn lại B, D — Định lí 3a đòi hỏi CẢ HAI cặp góc đối cùng bằng nhau.
🚀 Mở rộng.Nếu chỉ biết ba góc của một tứ giác mà không có thêm dữ kiện gì khác, luôn tính được góc thứ tư nhờ tổng 360∘; nhưng biết đủ bốn góc bằng nhau từng cặp mới đủ điều kiện là hình bình hành, không phải chỉ cần MỘT cặp.
Bài 18 · Bài 3.17★★Trang 61— Chứng minh hai tứ giác nhỏ là hình bình hành bằng dấu hiệu cạnh đối song song, bằng nhau
Bài 3.17 (trang 61). Cho hình bình hành ABCD. Gọi E, F lần lượt là trung điểm của các cạnh AB, CD. Chứng minh rằng: a) Hai tứ giác AEFD, AECF là những hình bình hành; b) EF=AD, AF=EC.
Kiến thức cần nhớ
Định lí 1a: cạnh đối hình bình hành song song và bằng nhau.
Định lí 2b: tứ giác có một cặp cạnh đối song song và bằng nhau là hình bình hành.
🧠 Phân tích tư duy
E, F là trung điểm của hai cạnh đối AB, CD nên AE và DF (hay EB và FC) cùng nằm trên hai đường thẳng song song AB, DC và có cùng độ dài bằng nửa AB — đúng nguyên liệu của Định lí 2b để dựng liên tiếp hai hình bình hành nhỏ AEFD và AECF bên trong hình bình hành lớn. Cần gọi đúng thứ tự bốn đỉnh của mỗi tứ giác nhỏ để xác định đúng cặp cạnh đối cần so sánh.
1Cách 1. Áp trực tiếp Định lí 2b cho từng tứ giác
Định hướng. Với mỗi tứ giác, tìm đúng một cặp cạnh đối vừa song song vừa bằng nhau rồi dùng Định lí 2b.
AB\parallelDC và AB=DC (Định lí 1a); E, F là trung điểm nên AE=21AB, DF=21DC, suy ra AE=DF AE nằm trên AB, DF nằm trên DC, mà AB\parallelDC, nên AE\parallelDF Tứ giác AEFD có AE\parallelDF và AE=DF, theo Định lí 2b, AEFD là hình bình hành — câu a) phần 1 Tương tự, EB=21AB=21DC=FC và EB\parallelFC (cùng lí do), tứ giác AECF có... xét cặp cạnh đối AE, CF: AE=21AB, CF=21DC, mà AB=DC nên AE=CF; AE nằm trên AB, CF nằm trên DC nên AE\parallelCF, theo Định lí 2b, AECF là hình bình hành — câu a) phần 2
Vậy cả hai tứ giác AEFD và AECF đều là hình bình hành.
Nhận xét. Câu b): trong hình bình hành AEFD, cạnh đối của AD là EF nên EF=AD; trong hình bình hành AECF, cạnh đối của AF là EC nên AF=EC.
2Cách 2. Toạ độ hoá bằng vectơ, tính một lần cho cả hai tứ giác
Định hướng. Đặt vectơ hai cạnh gốc tại A, biểu diễn hết các điểm rồi kiểm tra từng cặp cạnh đối bằng phép trừ vectơ.
Đặt AB=u, AD=v (gốc A); vì ABCD là hình bình hành nên C=u+v, và E=21u, F=v+21u (trung điểm DC) Tứ giác AEFD: AE=21u, DF=F−D=21u, suy ra AE=DF nên AEFD là hình bình hành Tứ giác AECF: AE=21u, FC=C−F=21u, suy ra AE=FC nên AECF là hình bình hành EF=F−E=v, đúng bằng AD=v, suy ra EF=AD; AF=v+21u, EC=C−E=21u+v, suy ra AF=EC nên AF=EC
Vậy cả bốn kết luận (hai tứ giác là hình bình hành, và EF=AD, AF=EC) đều đúng.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: áp thẳng Định lí 2b vừa học, không cần dựng hệ vectơ.
Đáp số.a) AEFD và AECF đều là hình bình hành. b) EF=AD, AF=EC.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là viết nhầm cặp cạnh đối của AECF thành AE đối với EC (hai cạnh liên tiếp, chung đỉnh E) — với thứ tự đỉnh A,E,C,F thì cạnh đối của AE phải là CF, còn EC mới đối với FA.
🚀 Mở rộng.Ghép cả hai kết quả: AEFD và AECF cùng có chung cạnh AE và cùng nhận E, F làm hai trong bốn đỉnh, cho thấy đoạn EF chia hình bình hành ABCD thành hai hình bình hành nhỏ bằng nhau về diện tích.
Bài 19 · Bài 3.18★★Trang 61— Chứng minh tam giác bằng nhau qua tâm đối xứng, suy ra tứ giác mới là hình bình hành
Bài 3.18 (trang 61). Gọi O là giao điểm của hai đường chéo của hình bình hành ABCD. Một đường thẳng đi qua O lần lượt cắt các cạnh AB, CD của hình bình hành tại hai điểm M, N. Chứng minh △OAM=△OCN. Từ đó suy ra tứ giác MBND là hình bình hành.
Kiến thức cần nhớ
Định lí 1c: hai đường chéo hình bình hành cắt nhau tại trung điểm mỗi đường.
Định lí 2b (hoặc 3b): dấu hiệu nhận biết hình bình hành theo cạnh đối song song, bằng nhau hoặc theo đường chéo.
🧠 Phân tích tư duy
O là trung điểm chung của hai đường chéo (Định lí 1c), nên với BẤT KỲ đường thẳng nào qua O cắt AB tại M và CD tại N, cặp tam giác OAM, OCN luôn có một cạnh bằng nhau (OA=OC) và một góc đối đỉnh bằng nhau (AOM=CON) sẵn có — chỉ cần thêm một cặp góc so le trong nhờ AB\parallelCD là đủ điều kiện g.c.g. Từ đó O cũng là trung điểm của MN, ghép với O vốn là trung điểm BD để suy ra tứ giác MBND là hình bình hành.
1Cách 1. Tam giác bằng nhau g.c.g, rồi dùng đường chéo MBND
Định hướng. Ghép cạnh OA=OC có sẵn với một cặp góc so le trong (do AB\parallelCD) và góc đối đỉnh tại O.
OA=OC (hai đường chéo hình bình hành cắt nhau tại trung điểm mỗi đường, Định lí 1c) AB\parallelCD nên MAO=NCO (so le trong, cát tuyến AC) AOM=CON (hai góc đối đỉnh) Xét △OAM và △OCN có MAO=NCO, OA=OC, AOM=CON, suy ra △OAM=△OCN (g.c.g) Suy ra OM=ON (cạnh tương ứng), tức O là trung điểm MN; mà O cũng là trung điểm BD (Định lí 1c)
Vậy△OAM=△OCN; tứ giác MBND có hai đường chéo MN, BD cắt nhau tại trung điểm O của mỗi đường, nên theo Định lí 3b, MBND là hình bình hành.
2Cách 2. Dùng cạnh OM = ON suy từ đối xứng tâm O
Định hướng. Nhìn bài toán qua phép đối xứng tâm O: vì O là tâm đối xứng của hình bình hành ABCD (A↔C, B↔D), ảnh của đường thẳng MN qua O vẫn là chính nó (vì M, O, N thẳng hàng), nên ảnh của M (giao với AB) phải là giao của ảnh đường thẳng MN với ảnh của AB, tức đúng là N trên CD.
Phép đối xứng tâm O biến A→C, B→D (vì O là trung điểm AC và BD, Định lí 1c) nên biến đường thẳng AB thành đường thẳng CD Phép đối xứng tâm O biến đường thẳng MN (đi qua O) thành chính nó M là giao của AB và MN, nên ảnh của M là giao của ảnh hai đường đó, tức là giao của CD và MN, đúng là N Suy ra N là ảnh của M qua phép đối xứng tâm O, tức O là trung điểm MN, và △OAM, △OCN là ảnh của nhau qua phép đối xứng tâm nên bằng nhau
Vậy△OAM=△OCN, và vì O là trung điểm chung của MN, BD, tứ giác MBND là hình bình hành (Định lí 3b).
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: trình bày tam giác bằng nhau kiểu g.c.g tường minh, không cần khái niệm phép đối xứng tâm.
Đáp số.△OAM=△OCN (g.c.g); suy ra OM=ON, và vì O cũng là trung điểm BD nên MBND là hình bình hành.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là chọn nhầm cặp góc so le trong (lấy MAO so le với OCD toàn phần thay vì đúng NCO là góc kề tại C do cát tuyến AC cắt hai đường thẳng song song AB, CD) — cần xác định đúng cát tuyến là đường chéo AC, không phải cạnh nào khác.
🚀 Mở rộng.Kết quả cho thấy MỌI đường thẳng qua O đều cắt AB, CD tại hai điểm cách đều O — đây thực chất là bài toán mở đầu của chính bài học (dựng đường qua điểm cho trước cắt hai đường thẳng song song tại hai điểm cách đều), áp dụng riêng cho trường hợp O là tâm hình bình hành.