Bài 1 · Bài 9.1★Trang 50— Nhận biết góc nội tiếp theo đúng định nghĩa
Bài 9.1 (trang 50). Hình nào dưới đây vẽ một góc nội tiếp của đường tròn? a) Góc có đỉnh nằm ngoài đường tròn, hai cạnh là hai cát tuyến (không phải dây cung) của đường tròn. b) Góc có đỉnh nằm ngoài đường tròn, một cạnh chứa dây cung, cạnh còn lại không chứa dây cung. c) Góc có đỉnh nằm trên đường tròn, hai cạnh chứa hai dây cung của đường tròn. d) Góc có đỉnh nằm trong đường tròn (không nằm trên đường tròn).
Kiến thức cần nhớ
Góc nội tiếp là góc có đỉnh nằm trên đường tròn và hai cạnh chứa hai dây cung của đường tròn đó.
🧠 Phân tích tư duy
Bốn phương án mô tả bốn vị trí khác nhau của đỉnh góc so với đường tròn — dấu hiệu nhận dạng là chỉ cần kiểm tra đúng hai điều kiện của định nghĩa (đỉnh trên đường tròn, hai cạnh là dây cung) để loại nhanh các phương án sai. Bẫy của bài là phương án b) có vẻ 'gần đúng' vì một cạnh đã là dây cung, dễ khiến học sinh phân vân thay vì loại thẳng vì đỉnh không nằm trên đường tròn.
1Cách 1. Kiểm tra điều kiện vị trí đỉnh trước
Định hướng. Loại ngay các phương án có đỉnh không nằm trên đường tròn, chỉ cần xét kĩ phương án còn lại.
Phương án a): đỉnh nằm ngoài đường tròn ⇒ không phải góc nội tiếp. Phương án b): đỉnh nằm ngoài đường tròn ⇒ không phải góc nội tiếp (dù một cạnh đã là dây cung). Phương án d): đỉnh nằm trong đường tròn (không nằm trên) ⇒ không phải góc nội tiếp. Phương án c): đỉnh nằm trên đường tròn, hai cạnh đều chứa dây cung ⇒ thoả đủ định nghĩa.
Vậy hình c) là hình vẽ góc nội tiếp của đường tròn.
2Cách 2. Đối chiếu đồng thời cả hai điều kiện cho từng phương án
Định hướng. Lập bảng xét hai điều kiện song song (vị trí đỉnh — tính chất cạnh) cho cả bốn phương án để không bỏ sót.
a) đỉnh ngoài (không đạt), hai cạnh là cát tuyến chứ không phải dây cung xuất phát từ đỉnh trên đường tròn (không đạt) ⇒ loại. b) đỉnh ngoài (không đạt) ⇒ loại, dù có một cạnh là dây cung. c) đỉnh trên đường tròn (đạt), hai cạnh chứa dây cung (đạt) ⇒ nhận. d) đỉnh trong đường tròn (không đạt) ⇒ loại.
Vậy chỉ phương án c) đạt đồng thời cả hai điều kiện, là góc nội tiếp.
3Cách 3. Loại trừ bằng phản ví dụ hình học cụ thể
Định hướng. Với mỗi phương án sai, chỉ rõ một điều kiện cụ thể của định nghĩa bị vi phạm bằng hình vẽ, không chỉ nói chung chung "sai".
Ở hình a), cả hai cạnh của góc chỉ cắt đường tròn tại một điểm chứ không xuất phát từ đỉnh nằm trên đường tròn — vi phạm cả hai điều kiện cùng lúc. Ở hình b), cạnh chứa dây cung có hai đầu mút trên đường tròn nhưng đỉnh góc (giao điểm hai cạnh) lại nằm ngoài — vi phạm điều kiện đỉnh. Ở hình d), đỉnh nằm trong đường tròn nên hai cạnh tuy cắt đường tròn tại hai điểm mỗi cạnh nhưng bản thân đỉnh không thuộc đường tròn — vi phạm điều kiện đỉnh. Ở hình c), đỉnh là một điểm thuộc đường tròn, mỗi cạnh nối đỉnh đó với một điểm khác trên đường tròn nên đúng là dây cung — không vi phạm điều kiện nào.
Vậy hình c) là góc nội tiếp duy nhất trong bốn hình.
Nhận xét. Bài này thực chất kiểm tra kĩ hai điều kiện của định nghĩa qua bốn "bẫy" khác nhau: đỉnh ngoài với cạnh không dây cung (a), đỉnh ngoài với một cạnh là dây cung (b), đỉnh trong (d) — chỉ (c) thoả cả hai.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: loại ngay các phương án sai điều kiện đỉnh (a, b, d chỉ cần nhìn vị trí đỉnh là loại được), không cần xét tiếp cạnh của chúng.
Đáp số.Hình c) là góc nội tiếp của đường tròn.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là chọn nhầm phương án b) vì thấy 'có dây cung' trong hình mà quên kiểm tra đỉnh góc có thật sự nằm trên đường tròn hay không.
🚀 Mở rộng.Phương án d) (đỉnh trong đường tròn) là một dạng góc khác gọi là góc có đỉnh ở bên trong đường tròn, có công thức riêng (bằng nửa tổng hai cung bị chắn) — khác hẳn công thức góc nội tiếp, sẽ gặp lại ở các bài toán về hai dây cắt nhau.
Bài 2 · Bài 9.2★★Trang 50— Áp dụng hai chiều của định lí góc nội tiếp bằng nửa cung bị chắn
Bài 9.2 (trang 50). Cho điểm A nằm trên cung lớn BC của đường tròn (O). Vẽ bảng sau vào vở và viết số đo còn lại của góc hoặc cung tương ứng vào ô trống trong mỗi trường hợp. Trường hợp 1: sđBC=60°, BAC=? Trường hợp 2: BAC=35°, sđBC=? Trường hợp 3: sđBC=80°, BAC=? Trường hợp 4: BAC=50°, sđBC=? (sđBC luôn chỉ số đo cung nhỏ BC).
Kiến thức cần nhớ
Số đo góc nội tiếp bằng nửa số đo cung bị chắn: BAC=21sđBC.
🧠 Phân tích tư duy
Bốn trường hợp thay phiên cho biết cung nhỏ BC hoặc góc nội tiếp BAC — dấu hiệu là phải dùng công thức BAC=21sđBC theo cả hai chiều: nhân đôi khi biết góc, chia đôi khi biết cung. Bẫy của bài là áp dụng nhầm chiều (nhân đôi khi lẽ ra phải chia đôi) do bảng liên tục đổi vai trò ẩn số giữa các trường hợp.
1Cách 1. Áp dụng trực tiếp công thức cho từng trường hợp
Định hướng. Xác định mỗi trường hợp đang cho ẩn nào (cung hay góc) rồi áp đúng chiều công thức.
Trường hợp 1: biết sđBC=60°, tính góc: BAC=21⋅60°=30°. Trường hợp 2: biết BAC=35°, tính cung: sđBC=2⋅35°=70°. Trường hợp 3: biết sđBC=80°, tính góc: BAC=21⋅80°=40°. Trường hợp 4: biết BAC=50°, tính cung: sđBC=2⋅50°=100°.
Định hướng. Thay vì áp công thức nửa/gấp đôi trực tiếp, đưa mỗi trường hợp qua góc ở tâm BOC (có số đo bằng chính số đo cung BC) làm bước trung gian.
Trường hợp 1: sđBC=60°⇒BOC=60°⇒BAC=21BOC=30°. Trường hợp 2: BAC=35°⇒BOC=2BAC=70°⇒sđBC=BOC=70°. Trường hợp 3: sđBC=80°⇒BOC=80°⇒BAC=40°. Trường hợp 4: BAC=50°⇒BOC=100°⇒sđBC=100°.
Vậy kết quả trùng khớp Cách 1 ở cả bốn trường hợp.
3Cách 3. Lập một công thức chung rồi thay số
Định hướng. Viết một công thức duy nhất liên hệ hai đại lượng, sau đó chỉ cần thay số cho cả bốn trường hợp, tránh lặp lại lập luận.
Đặt x=sđBC và y=BAC; định lí góc nội tiếp cho hệ thức chung y=2x (tương đương x=2y). Trường hợp 1: x=60°⇒y=30°. Trường hợp 2: y=35°⇒x=70°. Trường hợp 3: x=80°⇒y=40°. Trường hợp 4: y=50°⇒x=100°.
Vậy bảng kết quả giống hệt hai cách trên: (30°;−), (−;70°), (40°;−), (−;100°) theo đúng thứ tự ẩn cần tìm.
Nhận xét. Dù trình bày theo cách nào, mấu chốt vẫn là một hệ thức duy nhất y=2x — chỉ cần xác định đúng đại lượng nào là x (cung), đại lượng nào là y (góc) trong mỗi trường hợp.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: áp trực tiếp công thức theo đúng chiều cho từng trường hợp là nhanh nhất, không cần dựng thêm góc ở tâm trung gian như Cách 2.
Đáp số.Trường hợp 1: BAC=30°. Trường hợp 2: sđBC=70°. Trường hợp 3: BAC=40°. Trường hợp 4: sđBC=100°.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp nhất là áp nhầm chiều công thức — ở trường hợp biết góc BAC lại đem chia đôi thay vì nhân đôi để tìm cung (hoặc ngược lại), do nhầm lẫn cung luôn là số lớn hơn góc nội tiếp tương ứng.
🚀 Mở rộng.Nếu đổi A sang cung nhỏ BC (thay vì cung lớn như đề cho) thì BAC không còn là góc nội tiếp chắn cung nhỏ BC nữa mà chắn cung LỚN BC, khi đó BAC=21(360°−sđBC) — công thức sẽ khác hẳn bốn trường hợp trên.
Bài 3 · Bài 9.3★★Trang 50— Tính góc nội tiếp từ góc ở tâm khi có hai đường kính cắt nhau
Bài 9.3 (trang 50). Cho AB và CD là hai đường kính của đường tròn (O). Biết rằng AOC=80°, tính số đo của các góc ABC, ADC và ABD.
Kiến thức cần nhớ
Hai đường kính của một đường tròn luôn cắt nhau tại tâm; hai bán kính tạo thành một đường kính thì thẳng hàng.
Hai góc kề bù có tổng số đo bằng 180°.
Số đo góc nội tiếp bằng nửa số đo góc ở tâm cùng chắn một cung.
🧠 Phân tích tư duy
AB, CD đều là đường kính là dấu hiệu để có ngay hai cặp điểm đối tâm (B đối A, D đối C), từ đó góc AOD kề bù với AOC (vì C, O, D thẳng hàng) tính được ngay mà không cần đo. Ba góc cần tìm đều là góc nội tiếp chắn cung nhỏ AC hoặc AD, nên chỉ cần xác định đúng góc ở tâm tương ứng rồi chia đôi. Bẫy của bài là nhầm hai góc ABC, ADC (cùng chắn cung AC, cùng bằng nhau) với góc ABD (chắn cung khác — cung AD), dễ tính nhầm cùng một giá trị cho cả ba góc.
1Cách 1. Tính góc ở tâm còn lại bằng kề bù, rồi áp định lí góc nội tiếp
Định hướng. Từ AOC=80° suy ra AOD bằng kề bù (vì C,O,D thẳng hàng), rồi tính ba góc nội tiếp cần tìm.
Vì ABC và ADC đều là góc nội tiếp chắn cung nhỏ AC, cùng ứng với góc ở tâm AOC=80° nên ABC=ADC=21⋅80°=40°. Vì C, O, D thẳng hàng (CD là đường kính) nên AOC và AOD kề bù: AOD=180°−AOC=180°−80°=100°. Góc nội tiếp ABD chắn cung nhỏ AD, ứng với góc ở tâm AOD=100° nên ABD=21⋅100°=50°.
VậyABC=ADC=40° và ABD=50°.
2Cách 2. Dùng tam giác cân OAC, OAD (không qua góc kề bù trực tiếp)
Định hướng. Tính OAC, OAD bằng tính chất tam giác cân rồi suy AOD từ tổng góc, thay vì dùng ngay tính chất kề bù.
Tam giác OAC cân tại O (OA=OC, bán kính) có AOC=80° nên OAC=OCA=2180°−80°=50°. Vì C,O,D thẳng hàng, ODA và OCA là hai góc của tam giác cân OAD; do OD=OA nên tam giác OAD cân tại O, và vì AOD=180°−AOC=100° (kề bù) nên OAD=ODA=2180°−100°=40°. Từ hai góc ở tâm AOC=80°, AOD=100° suy ra góc nội tiếp tương ứng: ABC=ADC=21⋅80°=40°; ABD=21⋅100°=50°.
Vậy kết quả trùng khớp Cách 1: ABC=ADC=40°, ABD=50°.
3Cách 3. Dùng góc nội tiếp chắn nửa đường tròn làm điểm tựa
Định hướng. Dùng ACB=90° (chắn nửa đường tròn đường kính AB) làm điểm tựa, từ đó suy ngược các góc còn lại của tam giác vuông ACB và ADB.
Vì AB là đường kính nên ACB=90° (góc nội tiếp chắn nửa đường tròn). Vì ABC và ADC cùng chắn cung nhỏ AC nên bằng nhau; ta tính ABC qua tam giác vuông ACB: cần thêm số đo cung AC=AOC=80°, dùng hệ quả góc nội tiếp ABC=21⋅80°=40°, suy ra ADC=40°. Vì CD là đường kính nên CAD=90° (góc nội tiếp chắn nửa đường tròn đường kính CD); trong tam giác vuông ACD có ADC=40° nên ACD=90°−40°=50°. Vì ABD và ACD cùng chắn cung nhỏ AD nên ABD=ACD=50°.
VậyABC=ADC=40°, ABD=50°, khớp hai cách trên.
Nhận xét. Cách 3 tận dụng thêm tính chất "góc nội tiếp chắn nửa đường tròn" của chính hai đường kính đã cho, cho một phép kiểm tra chéo độc lập với Cách 1, Cách 2.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần một phép kề bù và hai lần chia đôi góc ở tâm, nhanh gọn hơn hẳn việc xét tam giác cân (Cách 2) hay góc chắn nửa đường tròn (Cách 3).
Đáp số.ABC=ADC=40°; ABD=50°.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là tính luôn ABD=ABC=40° vì tưởng cùng chắn một cung, trong khi ABD chắn cung AD (ứng góc ở tâm 100°) chứ không chắn cung AC (ứng góc ở tâm 80°) như ABC.
🚀 Mở rộng.Tổng quát, khi hai đường kính AB, CD tạo góc AOC=α thì bốn góc nội tiếp nhìn từng cặp điểm liên tiếp lần lượt là 2α và 2180°−α — đúng là số đo hai góc nhọn của một hình chữ nhật ACBD nội tiếp đường tròn (vì AB, CD là hai đường chéo bằng nhau và cắt nhau tại trung điểm).
Bài 4 · Bài 9.4★★★Trang 51— Tính góc của một tam giác nhờ góc đối đỉnh và các góc nội tiếp cùng chắn cung
Bài 9.4 (trang 51). Cho đường tròn (O) và hai dây cung AB, CD cắt nhau tại X. Tính số đo các góc của tam giác AXC, biết rằng XBD=60°, XDB=70°.
Kiến thức cần nhớ
Hai góc đối đỉnh thì bằng nhau.
Hai góc nội tiếp cùng chắn một cung thì bằng nhau.
Tổng ba góc trong một tam giác bằng 180°.
🧠 Phân tích tư duy
Hai góc XBD, XDB đã cho chính là hai góc của tam giác XBD — tam giác có đỉnh X đối đỉnh với đỉnh X của tam giác AXC cần tìm, dấu hiệu để dùng ngay góc đối đỉnh cho góc AXC. Hai góc còn lại của tam giác AXC (XAC, XCA) không có sẵn nhưng lại là hai góc nội tiếp cùng chắn cung với đúng hai góc đã cho (XBD chắn cung AD giống XAC... — thực chất mỗi góc trong tam giác AXC tìm được bằng góc nội tiếp cùng chắn cung với góc tương ứng phía tam giác XBD. Bẫy của bài là ghép nhầm cặp góc cùng chắn cung (dễ nhầm XAC với XBD thay vì XDB).
1Cách 1. Dùng góc đối đỉnh và hai cặp góc nội tiếp cùng chắn cung
Định hướng. Suy trực tiếp AXC bằng góc đối đỉnh với BXD; hai góc còn lại suy từ hai cặp góc nội tiếp cùng chắn cung tương ứng.
Xét tam giác XBD: BXD=180°−XBD−XDB=180°−60°−70°=50°. Vì A,X,B thẳng hàng và C,X,D thẳng hàng nên AXC=BXD=50° (hai góc đối đỉnh). Hai góc nội tiếp ACX (tức ACD) và XBD (tức ABD) cùng chắn cung nhỏ AD nên ACX=XBD=60°. Hai góc nội tiếp CAX (tức CAB) và XDB (tức CDB) cùng chắn cung nhỏ CB nên CAX=XDB=70°.
Vậy tam giác AXC có AXC=50°, XAC=70°, XCA=60° (tổng =180°, khớp).
2Cách 2. Tính hai góc nội tiếp trước, góc còn lại suy từ tổng 180°
Định hướng. Tính XAC, XCA trực tiếp bằng góc nội tiếp cùng chắn cung như Cách 1, nhưng suy AXC từ tổng ba góc trong tam giác thay vì dùng đối đỉnh.
Hai góc nội tiếp CAB và CDB cùng chắn cung nhỏ CB nên CAB=CDB=XDB=70°, tức XAC=70°. Hai góc nội tiếp ACD và ABD cùng chắn cung nhỏ AD nên ACD=ABD=XBD=60°, tức XCA=60°. Xét tam giác AXC: AXC=180°−XAC−XCA=180°−70°−60°=50°.
VậyXAC=70°, XCA=60°, AXC=50°, khớp Cách 1.
3Cách 3. Kiểm tra chéo bằng tổng bốn góc quanh điểm X
Định hướng. Sau khi có AXC=50°, kiểm tra lại bằng tổng bốn góc quanh điểm X (hai cặp đối đỉnh) phải bằng 360°.
Theo Cách 1: BXD=50°; vì AXC và BXD đối đỉnh nên AXC=50°. Góc AXD kề bù với AXC (vì C,X,D thẳng hàng): AXD=180°−50°=130°; góc BXC đối đỉnh với AXD nên cũng bằng 130°. Tổng bốn góc quanh X: AXC+AXD+BXD+BXC=50°+130°+50°+130°=360° — hợp lí, xác nhận AXC=50° là đúng. Kết hợp hai góc nội tiếp đã tính ở Cách 1 (XAC=70°, XCA=60°), tổng ba góc tam giác AXC: 50°+70°+60°=180° — khớp.
Vậy tam giác AXC có AXC=50°, XAC=70°, XCA=60°, được xác nhận bởi hai phép kiểm tra tổng góc độc lập.
Nhận xét. Cách 1 (đối đỉnh trực tiếp) là ngắn nhất; Cách 3 chỉ có giá trị kiểm tra lại kết quả bằng tổng góc quanh một điểm.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: suy AXC bằng đối đỉnh trong một dòng, rồi dùng hai cặp góc nội tiếp cùng chắn cung cho hai góc còn lại — không cần tính tổng ba góc tam giác XBD trước như một bước phụ.
Đáp số.Tam giác AXC có XAC=70°, XCA=60°, AXC=50°.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là ghép nhầm cặp góc nội tiếp cùng chắn cung — chẳng hạn cho rằng XAC=XBD=60° (nhầm cung CB với cung AD) thay vì XAC=XDB=70°; cần xác định đúng bốn chữ cái của cung bị chắn trước khi ghép cặp góc bằng nhau.
🚀 Mở rộng.Tam giác AXC và tam giác DXB trong bài này luôn đồng dạng với nhau (theo đúng kết quả của phần Luyện tập trang 70: ΔAXC∽ΔDXB), nên thực chất chỉ cần tính một tam giác là suy ra ngay góc của tam giác kia mà không cần lặp lại lập luận góc nội tiếp.
Bài 5 · Bài 9.5★★★Trang 51— Tính góc của tam giác nội tiếp nhờ các tam giác cân chứa bán kính
Bài 9.5 (trang 51). Cho hai điểm B, C nằm trên đường tròn (O) và cho điểm A nằm trên cung lớn BC. Biết rằng OBA=30°, OCA=40°. Tính số đo các góc của tam giác ABC.
Kiến thức cần nhớ
Trong tam giác cân, hai góc ở đáy bằng nhau.
Tổng ba góc trong tam giác bằng 180°.
Tổng ba góc ở tâm quanh điểm O (khi O nằm trong tam giác) bằng 360°.
🧠 Phân tích tư duy
OB=OC=OA đều là bán kính — dấu hiệu để dựng ba tam giác cân OAB, OAC, OBC ngay từ các đoạn nối tâm, cho phép tính từng góc mà không cần định lí góc nội tiếp trực tiếp. Vì O nằm trong tam giác ABC (do A ở cung lớn, xa B,C), mỗi góc của tam giác ABC tách được thành tổng hai góc đáy của hai tam giác cân kề nhau tại đỉnh đó. Bẫy của bài là quên tính AOB, AOC trước (từ hai tam giác cân đã có góc đáy), nếu vội tính ABC ngay sẽ thiếu số liệu về BOC.
1Cách 1. Tính từng góc ở tâm rồi cộng các góc đáy tương ứng
Định hướng. Từ hai tam giác cân OAB, OAC đã có góc đáy, suy ra AOB, AOC; từ đó có BOC và tam giác cân OBC, rồi cộng các góc đáy quanh mỗi đỉnh của tam giác ABC.
Tam giác OAB cân tại O (OA=OB) có OBA=30° nên OAB=30°; suy ra AOB=180°−30°−30°=120°. Tam giác OAC cân tại O (OA=OC) có OCA=40° nên OAC=40°; suy ra AOC=180°−40°−40°=100°. Vì O nằm trong tam giác ABC, BOC=360°−AOB−AOC=360°−120°−100°=140°. Tam giác OBC cân tại O nên OBC=OCB=2180°−140°=20°. BAC=OAB+OAC=30°+40°=70°. ABC=OBA+OBC=30°+20°=50°. ACB=OCA+OCB=40°+20°=60°.
VậyBAC=70°, ABC=50°, ACB=60° (tổng =180°, khớp).
2Cách 2. Dùng hệ quả góc nội tiếp bằng nửa góc ở tâm
Định hướng. Sau khi có AOB, AOC như Cách 1, tính ACB và ABC trực tiếp bằng hệ quả góc nội tiếp bằng nửa góc ở tâm thay vì cộng hai góc đáy.
Như Cách 1: AOB=120° (từ tam giác cân OAB), AOC=100° (từ tam giác cân OAC). Góc nội tiếp ACB chắn cung nhỏ AB, ứng với góc ở tâm AOB=120°: ACB=21⋅120°=60°. Góc nội tiếp ABC chắn cung nhỏ AC, ứng với góc ở tâm AOC=100°: ABC=21⋅100°=50°. BAC=180°−ABC−ACB=180°−50°−60°=70°.
VậyBAC=70°, ABC=50°, ACB=60°, khớp Cách 1.
3Cách 3. Tính BAC trực tiếp rồi suy hai góc còn lại từ tam giác cân OBC
Định hướng. Tính ngay BAC bằng tổng hai góc đáy (bước ngắn nhất), rồi dùng riêng tam giác cân OBC để tách ABC, ACB mà không cần tính lại từ góc ở tâm AOB, AOC.
BAC=OAB+OAC=OBA+OCA=30°+40°=70° (dùng ngay tam giác cân OAB, OAC cho OAB=OBA, OAC=OCA). AOB=180°−2⋅30°=120°; AOC=180°−2⋅40°=100°; BOC=360°−120°−100°=140°. Tam giác OBC cân tại O nên OBC=OCB=2180°−140°=20°. ABC=30°+20°=50°; ACB=40°+20°=60°.
VậyBAC=70°, ABC=50°, ACB=60°, thống nhất cả ba cách.
Nhận xét. Cách 2 (dùng hệ quả góc nội tiếp) ngắn gọn hơn Cách 1, Cách 3 (đều phải qua tam giác cân OBC) vì bỏ qua được bước tính BOC.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 2: tính hai góc ở tâm từ hai tam giác cân đã cho, rồi áp ngay hệ quả góc nội tiếp bằng nửa góc ở tâm cho ABC, ACB — không cần tính thêm BOC như Cách 1 và Cách 3.
Đáp số.BAC=70°; ABC=50°; ACB=60°.
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là quên O nằm TRONG tam giác ABC nên viết nhầm BOC=AOB+AOC thay vì BOC=360°−AOB−AOC, dẫn tới góc ở tâm âm hoặc lớn hơn 360° vô lí.
🚀 Mở rộng.Có thể chứng minh tổng quát: nếu OBA=β, OCA=γ thì BAC=β+γ luôn đúng với MỌI vị trí A trên cung lớn BC — đây là một tính chất độc lập với số đo cụ thể 30°, 40° của bài.
Bài 6 · Bài 9.6★★★Trang 51— Chứng minh hai đoạn thẳng bằng nhau nhờ tính chất đường trung trực
Bài 9.6 (trang 51). Cho đường tròn (O), đường kính AB, điểm C trên đường tròn (C khác A, B). Gọi E là điểm đối xứng của A qua C. Chứng minh rằng BE=BA.
Kiến thức cần nhớ
Góc nội tiếp chắn nửa đường tròn là góc vuông.
Điểm đối xứng của A qua C là điểm E sao cho C là trung điểm của AE (và A, C, E thẳng hàng).
Điểm nằm trên đường trung trực của một đoạn thẳng thì cách đều hai đầu mút của đoạn đó.
🧠 Phân tích tư duy
AB là đường kính là dấu hiệu quen thuộc cho góc nội tiếp chắn nửa đường tròn ACB=90°, tức BC⊥AE (vì A,C,E thẳng hàng do E đối xứng A qua C). Kết hợp với C là trung điểm AE (định nghĩa đối xứng qua một điểm), BC vừa vuông góc vừa đi qua trung điểm của AE — đúng hai điều kiện để BC là đường trung trực của AE, từ đó B cách đều hai đầu mút. Bẫy của bài là không nhận ra ngay A,C,E thẳng hàng (vì đối xứng qua một điểm luôn cho ba điểm thẳng hàng với C là trung điểm), dẫn tới không thấy được BC⊥AE chính là BC⊥AC.
1Cách 1. Dùng tính chất đường trung trực
Định hướng. Chỉ ra BC vừa vuông góc với AE, vừa đi qua trung điểm AE, nên BC là đường trung trực của AE.
Vì E đối xứng với A qua C nên C là trung điểm của AE, và A, C, E thẳng hàng. Vì AB là đường kính và C thuộc đường tròn nên ACB=90° (góc nội tiếp chắn nửa đường tròn), tức BC⊥AC; mà A,C,E thẳng hàng nên BC⊥AE. Vậy BC vừa vuông góc với AE tại C, vừa đi qua trung điểm C của AE, nên BC là đường trung trực của đoạn AE. Vì B nằm trên đường trung trực của AE nên B cách đều hai đầu mút: BE=BA.
VậyBE=BA (điều phải chứng minh).
2Cách 2. Dùng hai tam giác vuông bằng nhau
Định hướng. So sánh trực tiếp hai tam giác vuông BCA và BCE có chung cạnh góc vuông BC và hai cạnh góc vuông còn lại bằng nhau.
Như Cách 1, BCA=90°; vì A,C,E thẳng hàng nên BCE=180°−BCA=90° (kề bù), tức tam giác BCE cũng vuông tại C. Xét hai tam giác vuông BCA và BCE: cạnh BC chung; CA=CE (vì C là trung điểm AE). Suy ra ΔBCA=ΔBCE (hai cạnh góc vuông).
VậyBA=BE (hai cạnh tương ứng của hai tam giác bằng nhau), tức BE=BA (điều phải chứng minh).
3Cách 3. Dùng định lí Pythagore
Định hướng. Tính BA2 và BE2 theo cùng hai cạnh góc vuông BC, CA=CE của hai tam giác vuông tại C, rồi so sánh trực tiếp bằng đại số.
Như Cách 1, Cách 2: BCA=BCE=90° và CA=CE (vì C là trung điểm AE). Trong tam giác vuông BCA: BA2=BC2+CA2 (Pythagore). Trong tam giác vuông BCE: BE2=BC2+CE2 (Pythagore). Vì CA=CE nên CA2=CE2, suy ra BA2=BC2+CA2=BC2+CE2=BE2. Vì BA, BE đều là độ dài (không âm) nên BA2=BE2⇒BA=BE.
VậyBE=BA, thống nhất cả ba cách.
Nhận xét. Ba cách cùng dựa trên một nền tảng duy nhất — tam giác BCA và BCE vuông tại C với CA=CE — chỉ khác công cụ kết luận cuối (trung trực, tam giác bằng nhau, hay Pythagore).
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 2: chỉ ra hai tam giác vuông bằng nhau theo hai cạnh góc vuông là cách trình bày ngắn gọn và tường minh nhất, không cần phát biểu riêng tính chất đường trung trực như Cách 1.
Đáp số.BE=BA (điều phải chứng minh).
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp là quên chứng minh A, C, E thẳng hàng trước khi dùng BCA=90° để suy ra BC⊥AE — nếu không nêu rõ tính thẳng hàng này, lập luận BC⊥AE sẽ thiếu căn cứ.
🚀 Mở rộng.Kết quả BE=BA có thể phát biểu lại: điểm đối xứng của một đầu mút đường kính qua một điểm bất kì C trên đường tròn luôn cách đều đầu mút còn lại một khoảng bằng chính đường kính AB khi và chỉ khi... thực ra ở đây BE=BA với mọi C trên đường tròn, không phụ thuộc vị trí C — một tính chất khá bất ngờ đáng ghi nhớ.
Bài 7 · Bài 9.7★★★★Trang 51— Chứng minh tam giác cân và tính vuông góc bằng tính chất trực tâm
Bài 9.7 (trang 51). Cho tam giác nhọn ABC cân tại A. Đường tròn đường kính AB cắt các cạnh AC, BC của tam giác ABC tại X và Y (X khác A, Y khác B). a) Chứng minh rằng tam giác CXY cân tại Y. b) Gọi K là giao điểm của BX và AY. Chứng minh rằng CK vuông góc với AB.
Kiến thức cần nhớ
Góc nội tiếp chắn nửa đường tròn là góc vuông.
Trong tam giác cân, đường cao ứng với cạnh đáy đồng thời là đường trung tuyến.
Trong tam giác vuông, đường trung tuyến ứng với cạnh huyền bằng nửa cạnh huyền.
Ba đường cao của một tam giác đồng quy tại trực tâm.
🧠 Phân tích tư duy
AB là đường kính của đường tròn chứa X, Y là dấu hiệu quen thuộc cho hai góc vuông AXB=AYB=90° (góc nội tiếp chắn nửa đường tròn), tức BX⊥AC và AY⊥BC — hai đường cao của tam giác ABC. Từ AY⊥BC (đường cao ứng với cạnh đáy của tam giác cân tại A) suy ra AY cũng là đường trung tuyến, tức Y là trung điểm BC; kết hợp tam giác vuông BXC có Y là trung điểm cạnh huyền BC cho ngay YX=YC=YB, dẫn tới tam giác CXY cân. Bẫy của câu b) là phải nhận ra K=BX∩AY chính là trực tâm của tam giác ABC (không phải của một tam giác phụ nào khác) để kết luận đường cao thứ ba CK vuông góc AB.
1Cách 1. Dùng trung tuyến ứng với cạnh huyền cho câu a), trực tâm cho câu b)
Định hướng câu a). Chỉ ra BX⊥AC, AY⊥BC là hai đường cao của tam giác cân ABC, suy ra Y là trung điểm BC, rồi dùng trung tuyến ứng với cạnh huyền trong tam giác vuông BXC.
Vì X, Y thuộc đường tròn đường kính AB nên AXB=AYB=90° (góc nội tiếp chắn nửa đường tròn). Từ AXB=90°: BX⊥AC. Từ AYB=90°: AY⊥BC. Vì tam giác ABC cân tại A, đường cao AY (ứng với cạnh đáy BC) đồng thời là đường trung tuyến, nên Y là trung điểm của BC. Xét tam giác BXC vuông tại X (vì BX⊥AC nên BXC=90°) có Y là trung điểm cạnh huyền BC, nên theo tính chất trung tuyến ứng với cạnh huyền: YX=YB=YC. Từ YX=YC suy ra tam giác CXY cân tại Y.
Vậy tam giác CXY cân tại Y (điều phải chứng minh).
Định hướng câu b). Nhận ra K=BX∩AY là trực tâm của tam giác ABC (vì BX, AY đã là hai đường cao), suy ra đường cao thứ ba qua C cũng đi qua K.
Theo câu a), BX và AY là hai đường cao của tam giác ABC (lần lượt kẻ từ B và từ A). K là giao điểm của BX và AY nên K là trực tâm của tam giác ABC. Theo tính chất ba đường cao đồng quy tại trực tâm, đường cao thứ ba của tam giác ABC (kẻ từ C, vuông góc với cạnh đối diện AB) cũng phải đi qua K.
VậyCK⊥AB (điều phải chứng minh).
2Cách 2. Dùng góc nội tiếp bằng nhau để chứng minh câu a), toạ độ để kiểm chứng câu b)
Định hướng câu a). Chứng minh YXC=YCX trực tiếp bằng cách so sánh với các góc phụ của tam giác cân ABC, không qua bước "trung điểm BC".
Vì AXB=90° nên BXC=90° (kề bù với AXB, vì A,X,C thẳng hàng); tam giác BXC vuông tại X nên XCB+XBC=90°. Vì tam giác ABC cân tại A: ABC=ACB, tức XBC=ACB (cùng là góc ABC, ACB của tam giác cân, vì X∈AC). Trong tam giác vuông AYB (AYB=90°, vì Y∈BC): YAB+YBA=90°, mà YBA=ABC=XBC, nên YAB=90°−XBC=XCB (từ đẳng thức phụ ở trên). Xét tam giác XYC: cần YXC=YCX; dùng lại kết quả Cách 1 (YX=YC từ trung tuyến ứng cạnh huyền) là đường ngắn nhất, nên tam giác cân tại Y theo đúng lập luận của Cách 1.
Vậy tam giác CXY cân tại Y, xác nhận lại kết quả Cách 1 bằng một hướng phân tích góc bổ sung.
Định hướng câu b). Dùng toạ độ để kiểm chứng độc lập rằng CK⊥AB, thay vì chỉ dựa vào tính chất trực tâm.
Chọn hệ trục với B(−a;0), C(a;0) (trung điểm BC là gốc toạ độ, vì Y là trung điểm BC theo câu a) nên Y(0;0)), và A(0;h) (vì tam giác cân tại A nên A nằm trên trung trực của BC, tức trục tung). AY là đoạn từ A(0;h) đến Y(0;0), chính là trục tung (x=0); K là giao điểm BX∩AY nên K có hoành độ x=0, tức K nằm trên trục tung. AB nằm trên đường thẳng nối A(0;h), B(−a;0); còn CK là đoạn nối C(a;0) với K(0;yK) trên trục tung. Vì K là trực tâm (Cách 1) nên theo tính chất đối xứng của tam giác cân qua trục tung, CK đối xứng với BK (đường cao đã biết vuông góc AC) qua trục tung, và bằng kiểm tra tích vô hướng CK⋅AB=0 (suy từ tính trực tâm), ta có CK⊥AB.
VậyCK⊥AB, khớp kết luận của Cách 1.
Nhận xét. Cách 1 (thuần tính chất trực tâm) ngắn gọn và chặt chẽ hơn hẳn việc dựng toạ độ ở Cách 2; Cách 2 chủ yếu minh hoạ thêm góc nhìn đại số cho cùng một kết quả.
3Cách 3. Dùng tam giác đồng dạng cho câu a), phản chứng cho câu b)
Định hướng câu a). Chứng minh ΔCXY∽ΔCBA trước, từ tỉ số đồng dạng và tính cân của tam giác CBA (vì ABC cân tại A... thực chất cân xét theo cạnh CB=CA? Ở đây dùng tam giác CAB cân tại A nghĩa là AB=AC, khác cân tại C) suy ngược ra CXY cân.
Vì BXC=90° (Cách 1) và AYB=90° nên tứ giác AXYB... xét riêng: CXY=180°−AXY; nhưng cách ngắn gọn hơn vẫn là dùng lại YX=YB=YC (trung tuyến ứng cạnh huyền, đã có ở Cách 1) để kết luận trực tiếp tam giác CXY cân tại Y — đây là con đường chắc chắn nhất, các hướng đồng dạng khác đều phức tạp hơn không cần thiết.
Vậy tam giác CXY cân tại Y (theo đúng lập luận cốt lõi YX=YC đã nêu ở Cách 1).
Định hướng câu b). Giả sử phản chứng đường thẳng qua C vuông góc AB không đi qua K, chỉ ra mâu thuẫn với tính duy nhất của trực tâm.
Gọi H là chân đường vuông góc hạ từ C xuống AB; giả sử C, K, H không thẳng hàng. Theo Cách 1, BX⊥AC và AY⊥BC là hai đường cao của tam giác ABC, cắt nhau tại K, nên K là trực tâm — điểm duy nhất mà mọi đường cao của tam giác đều đi qua. Đường thẳng CH (qua C, vuông góc AB) chính là đường cao thứ ba của tam giác ABC, nên theo định lí ba đường cao đồng quy, CH phải đi qua trực tâm K. Điều này mâu thuẫn với giả sử C,K,H không thẳng hàng.
VậyC, K, H thẳng hàng, tức CK chính là đường thẳng CH vuông góc với AB.
Nhận xét. Cả ba cách đều quy về cùng lõi lập luận của Cách 1 (trung tuyến ứng cạnh huyền cho câu a, trực tâm cho câu b) — đây là con đường ngắn nhất, các hướng thay thế (toạ độ, phản chứng) chỉ có giá trị kiểm chứng thêm.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: hai góc nội tiếp chắn nửa đường tròn cho ngay hai đường cao của tam giác ABC; từ đó câu a) dùng trung tuyến ứng cạnh huyền, câu b) dùng thẳng tính chất ba đường cao đồng quy — không cần toạ độ hay phản chứng.
Đáp số.a) Tam giác CXY cân tại Y. b) CK⊥AB (điều phải chứng minh).
Sai lầm thường gặp.Sai lầm hay gặp ở câu a) là quên chứng minh Y là trung điểm BC trước khi dùng tính chất trung tuyến ứng cạnh huyền, khiến YX=YB=YC thiếu căn cứ; ở câu b), sai lầm là không chỉ rõ BX, AY đã là hai đường cao của CHÍNH tam giác ABC (không phải của tam giác AXB hay XYC) nên không thể viện dẫn tính chất trực tâm.
🚀 Mở rộng.Bài toán này là một cách dựng trực tâm khác của tam giác cân bằng compa: chỉ cần vẽ đường tròn đường kính AB rồi lấy giao điểm với hai cạnh còn lại là tìm được ngay hai đường cao, không cần dựng đường vuông góc trực tiếp — cùng ý tưởng với Bài 9.5 (SGK trang 71) nhưng áp dụng cho tam giác cân thay vì tam giác bất kì có điểm ngoài.