Chương V. Thu thập và biểu diễn dữ liệu

Bài 19. Biểu đồ đoạn thẳng

SGK Toán 7 — Kết nối tri thức, tập 1 · 13 bài tập, mỗi câu ít nhất 2 cách giải.

Bài 1 · Hoạt động 1★Trang 101— Đọc số liệu từ biểu đồ đoạn thẳng để hoàn thành bảng thống kê
Hoạt động 1 (trang 101). Quan sát biểu đồ Hình 5.21. Em hãy thống kê số dân của Việt Nam từ năm 1979 đến năm 2019 bằng cách hoàn thành bảng sau:
Năm
Số dân (triệu người)???
Dân số Việt Nam qua 5 lần tổng điều tra020406080100Số dân (triệu người)Năm1979198919992009201954.764.476.385.896.2
Kiến thức cần nhớ
  • Biểu đồ đoạn thẳng: trục ngang biểu diễn thời gian, trục đứng biểu diễn đại lượng đang quan tâm.
  • Mỗi điểm trên biểu đồ biểu diễn giá trị của đại lượng tại một thời điểm; số ghi cạnh điểm chính là giá trị đó.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho một biểu đồ đoạn thẳng đã ghi sẵn số liệu tại mỗi điểm — dấu hiệu của dạng chuyển từ biểu đồ sang bảng. Chỉ cần đối chiếu đúng năm ở trục ngang với số ghi tại điểm tương ứng trên trục đứng, không phải tính toán gì thêm. Bẫy ở chỗ trục đứng chỉ chia vạch đơn vị một, trong khi số liệu có cả phần thập phân, nên phải đọc đúng số ghi tại điểm chứ không đọc theo vạch gần nhất.
1Cách 1. Đọc trực tiếp số ghi tại từng điểm

Định hướng. Với mỗi năm ở trục ngang, dóng lên điểm tương ứng trên biểu đồ và đọc đúng số đã ghi cạnh điểm đó.

Năm 1979: (triệu người)
Năm 1989: (triệu người)
Năm 1999: (triệu người)
Năm 2009: (triệu người)
Năm 2019: (triệu người)

Vậy bảng thống kê số dân Việt Nam giai đoạn 1979 – 2019 là bảng trên.

2Cách 2. Đọc theo thứ tự tăng dần kèm kiểm tra xu hướng

Định hướng. Đọc lần lượt các điểm từ trái sang phải, đồng thời kiểm tra mỗi số liệu sau phải lớn hơn số liệu liền trước (vì các đoạn thẳng trên biểu đồ đều đi lên), tránh đọc nhầm hàng.


ứng với các năm

Vậy dãy số liệu đọc được tăng dần đúng theo chiều đi lên của biểu đồ, khớp với bảng ở Cách 1.

Nhận xét. Kiểm tra tính tăng/giảm hợp lý là cách tự soát lỗi nhanh khi đọc mọi biểu đồ đoạn thẳng có dạng đi lên hoặc đi xuống đều đặn.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi nên dùng Cách 2: vừa đọc vừa kiểm tra chiều tăng của dãy số, giúp phát hiện ngay nếu đọc nhầm dòng hoặc nhầm điểm.
Đáp số. Bảng thống kê: 1979: ; 1989: ; 1999: ; 2009: ; 2019: (triệu người).
Sai lầm thường gặp. Một số học sinh dóng nhầm điểm năm sang gần vạch rồi làm tròn thành thay vì đọc đúng số đã ghi cạnh điểm — luôn ưu tiên đọc số ghi tại điểm hơn là ước lượng theo vạch chia trục.
🚀 Mở rộng. Với các bảng dân số theo từng năm một (không cách đều năm), bảng thống kê rút ra từ biểu đồ đoạn thẳng vẫn lập theo đúng cách này, chỉ khác số lượng điểm cần đọc.
Bài 2 · Hoạt động 2★Trang 101— Nhận xét xu hướng tăng, giảm của đại lượng từ hình dạng biểu đồ đoạn thẳng
Hoạt động 2 (trang 101). Quan sát biểu đồ Hình 5.21. Số dân của Việt Nam tăng hay giảm qua các năm từ 1979 đến 2019?
Dân số Việt Nam qua 5 lần tổng điều tra020406080100Số dân (triệu người)Năm1979198919992009201954.764.476.385.896.2
Kiến thức cần nhớ
  • Biểu đồ đoạn thẳng cho phép nhận ra xu thế tăng/giảm của đại lượng qua hướng đi lên hay đi xuống của các đoạn nối hai điểm liên tiếp.
🧠 Phân tích tư duy
Đề hỏi xu hướng chung chứ không hỏi một giá trị cụ thể — dấu hiệu của dạng nhận xét bằng hình dạng đường gấp khúc. Hướng đi của từng đoạn thẳng nối hai điểm liên tiếp (đi lên hay đi xuống) chính là câu trả lời, nên có thể trả lời nhanh chỉ bằng quan sát mà không cần tính số. Bẫy là chỉ nhìn điểm đầu và điểm cuối rồi kết luận vội — phải kiểm tra cả các đoạn ở giữa có đoạn nào đi xuống hay không.
1Cách 1. Quan sát hướng đi của từng đoạn thẳng

Định hướng. Xét lần lượt bốn đoạn thẳng nối các điểm liên tiếp trên biểu đồ, mỗi đoạn đi lên (từ trái sang phải) nghĩa là số dân tăng ở giai đoạn đó.

Đoạn : đi lên
Đoạn : đi lên
Đoạn : đi lên
Đoạn : đi lên

Vậy cả bốn đoạn đều đi lên nên số dân Việt Nam liên tục tăng trong suốt giai đoạn .

2Cách 2. So sánh từng cặp số liệu liên tiếp

Định hướng. Lấy số liệu năm sau trừ số liệu năm liền trước; hiệu dương nghĩa là tăng, hiệu âm nghĩa là giảm.




Vậy cả bốn hiệu số đều dương nên số dân Việt Nam tăng liên tục qua các năm từ 1979 đến 2019.

Nhận xét. Cách tính hiệu số còn cho biết thêm mức tăng cụ thể ở mỗi giai đoạn ( đến triệu người), điều mà quan sát bằng mắt không thấy rõ.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi nên dùng Cách 2: tính hiệu số cho kết quả chắc chắn bằng số, tránh bị bắt bẻ khi biểu đồ vẽ không thật chuẩn về mặt thị giác.
Đáp số. Số dân của Việt Nam tăng liên tục qua các năm từ 1979 đến 2019.
Sai lầm thường gặp. Một số học sinh chỉ so sánh điểm đầu () với điểm cuối () rồi vội kết luận "tăng" mà không kiểm tra các đoạn ở giữa — với dữ liệu khác có thể có đoạn giảm xen giữa dù đầu nhỏ hơn cuối, nên luôn phải xét đủ mọi đoạn.
🚀 Mở rộng. Mức tăng dân số không đều giữa các giai đoạn (giai đoạn tăng nhiều nhất với triệu người) — đây chính là điều Ví dụ 1 trang 102 sẽ khai thác sâu hơn.
Bài 3 · Luyện tập 1★Trang 101— Đọc các thành phần cơ bản của một biểu đồ đoạn thẳng (tên, trục, đơn vị, ý nghĩa của điểm)
Luyện tập 1 (trang 101). Biểu đồ Hình 5.23 cho biết thứ hạng của bóng đá nam Việt Nam trên bảng xếp hạng của Liên đoàn Bóng đá thế giới (FIFA) trong các năm từ 2016 đến 2020.
a) Xác định tên biểu đồ, các trục, đơn vị trên các trục.
b) Em hãy cho biết mỗi điểm trên biểu đồ biểu diễn thông tin gì.
Thứ hạng của bóng đá nam Việt Nam8090100110120130140Thứ hạngNăm201620172018201920201341121009493
Kiến thức cần nhớ
  • Một biểu đồ đoạn thẳng gồm: tên biểu đồ (thường ở dòng trên cùng), trục ngang biểu diễn thời gian, trục đứng biểu diễn đại lượng quan tâm kèm đơn vị, và các điểm nối bằng đoạn thẳng.
🧠 Phân tích tư duy
Đề không hỏi số liệu cụ thể mà hỏi về cấu trúc của biểu đồ — dấu hiệu của dạng nhận diện thành phần, giống mục Hình 5.22 vừa học. Chỉ cần đối chiếu đúng vị trí tiêu đề, trục ngang, trục đứng và đơn vị ghi cạnh mỗi trục. Bẫy ở chỗ thứ hạng "tốt hơn" ứng với số nhỏ hơn, nên đường đi xuống trên biểu đồ lại mang nghĩa "tăng hạng", dễ hiểu ngược với các biểu đồ dân số vừa học.
1Cách 1. Đọc trực tiếp từng thành phần trên biểu đồ

Định hướng. Lần lượt xác định tiêu đề ở trên cùng, tên và đơn vị của trục ngang, tên và đơn vị của trục đứng.

Tên biểu đồ: "Thứ hạng của bóng đá nam Việt Nam"
Trục ngang: Năm (không có đơn vị, ghi các năm đến )
Trục đứng: Thứ hạng (đơn vị: hạng, từ đến )
Mỗi điểm: thứ hạng của bóng đá nam Việt Nam trên bảng xếp hạng FIFA tại năm tương ứng

Vậy biểu đồ có tên, hai trục và ý nghĩa từng điểm như trên.

2Cách 2. Đối chiếu với Hình 5.22 (mẫu các thành phần biểu đồ đoạn thẳng)

Định hướng. So khớp từng vị trí trên Hình 5.23 với các nhãn "Tiêu đề", "Trục đứng", "Trục ngang", "Điểm" đã được chú thích sẵn ở Hình 5.22.

Vị trí trên cùng Tiêu đề: "Thứ hạng của bóng đá nam Việt Nam"
Trục dọc bên trái Trục đứng: Thứ hạng
Trục ngang phía dưới Trục ngang: Năm
Mỗi chấm trên đường gấp khúc Điểm: thứ hạng tại một năm cụ thể

Vậy kết quả đọc được khớp hoàn toàn với Cách 1, chỉ khác ở việc dùng Hình 5.22 làm mẫu đối chiếu.

Nhận xét. Thứ hạng càng nhỏ thì đội bóng càng mạnh, nên dù biểu đồ đi xuống, đó lại là tín hiệu tích cực (đội tuyển tăng hạng).

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi nên dùng Cách 2: đối chiếu trực tiếp với mẫu Hình 5.22 giúp không bỏ sót thành phần nào của biểu đồ.
Đáp số. Tên biểu đồ: "Thứ hạng của bóng đá nam Việt Nam"; trục ngang: Năm; trục đứng: Thứ hạng; mỗi điểm biểu diễn thứ hạng FIFA của bóng đá nam Việt Nam tại năm tương ứng.
Sai lầm thường gặp. Nhiều học sinh nhầm trục đứng ghi "Thứ hạng" cũng có nghĩa như các biểu đồ trước là "càng cao càng tốt", trong khi thứ hạng thể thao thì số càng nhỏ mới là thứ hạng càng cao (mạnh hơn).
🚀 Mở rộng. Muốn biết đội tuyển tiến bộ nhanh hay chậm giữa hai năm bất kì, chỉ cần lấy thứ hạng năm trước trừ thứ hạng năm sau; hiệu càng lớn (dương) thì tiến bộ càng nhanh, như hạng trong 5 năm.
Bài 4 · Ví dụ 1★★Trang 102— Lập bảng thống kê từ biểu đồ và xác định giai đoạn tăng nhiều nhất bằng hiệu số liên tiếp
Ví dụ 1 (trang 102). Cho biểu đồ đoạn thẳng biểu diễn chiều cao của một cây đậu trong 5 ngày (Hình 5.24).
a) Từ biểu đồ, em hãy lập bảng thống kê về chiều cao của cây đậu qua từng ngày.
b) Theo em, ngày nào chiều cao của cây đậu tăng nhiều nhất so với các ngày còn lại?
Chiều cao của cây đậu00,511,522,53Chiều cao (cm)Ngày123450,50,7511,42,5
Kiến thức cần nhớ
  • Bảng thống kê lập từ biểu đồ đoạn thẳng bằng cách đọc giá trị tại mỗi điểm theo đúng thứ tự trục ngang.
  • Mức tăng giữa hai ngày liên tiếp bằng hiệu số của giá trị đo sau trừ giá trị đo trước.
🧠 Phân tích tư duy
Đề vừa yêu cầu đọc số liệu (ý a) vừa yêu cầu so sánh mức tăng giữa các ngày (ý b) — dấu hiệu của dạng kết hợp lập bảng và tính hiệu số liên tiếp. Vì "tăng nhiều nhất" là so sánh giữa các mức tăng chứ không phải so sánh chiều cao, nên phải tính đủ bốn hiệu số rồi mới so sánh, không được nhìn đoạn nào "trông dốc nhất" mà kết luận vội. Bẫy ở chỗ đoạn cuối (ngày 4 sang ngày 5) tuy trông không quá dốc do các đoạn trước cũng đi lên liên tục, nhưng khi tính hiệu số thực tế lại lớn nhất.
1Cách 1. Lập bảng rồi tính bốn hiệu số liên tiếp để so sánh

Định hướng. Đọc chiều cao tại mỗi ngày để lập bảng, sau đó lấy chiều cao ngày sau trừ chiều cao ngày liền trước, số nào lớn nhất ứng với ngày tăng nhiều nhất.

Bảng 5.1: Ngày — Chiều cao (cm):
Ngày so ngày : (cm)
Ngày so ngày : (cm)
Ngày so ngày : (cm)
Ngày so ngày : (cm)

Vậy vì là số lớn nhất trong bốn hiệu số nên ngày chiều cao cây đậu tăng nhiều nhất, tăng cm.

2Cách 2. So sánh độ dốc từng đoạn thẳng trên biểu đồ

Định hướng. Với trục đứng chia đều, đoạn thẳng nào có độ dốc (độ nghiêng lên) lớn nhất ứng với mức tăng nhiều nhất; quan sát bốn đoạn nối các điểm liên tiếp.

Đoạn ngày : đi lên thoai thoải
Đoạn ngày : đi lên thoai thoải, gần như song song đoạn trước
Đoạn ngày : dốc hơn hai đoạn đầu
Đoạn ngày : dốc nhất trong bốn đoạn

Vậy đoạn ngày dốc nhất nên ngày là ngày cây đậu tăng chiều cao nhiều nhất, khớp với kết quả tính số ở Cách 1.

3Cách 3. So sánh tốc độ tăng tương đối (theo phần trăm) giữa các ngày

Định hướng. Thay vì so mức tăng tuyệt đối, tính mức tăng mỗi ngày theo tỉ lệ phần trăm so với chiều cao ngày liền trước, để xem ngày nào cây đậu "vọt lên" mạnh nhất so với chính nó.

Ngày so ngày :
Ngày so ngày :
Ngày so ngày :
Ngày so ngày :

Vậy xét theo tỉ lệ phần trăm, ngày vẫn là ngày cây đậu tăng chiều cao nhiều nhất, mạnh hơn hẳn ba ngày trước.

Nhận xét. Ở bài này, so tuyệt đối và so tương đối cho cùng một kết luận, nhưng với dữ liệu khác hai cách so sánh có thể cho kết quả khác nhau — cần đọc kĩ đề hỏi "tăng nhiều" theo nghĩa nào.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi nên dùng Cách 1: tính hiệu số tuyệt đối cho kết quả chắc chắn, nhanh và đúng với cách hỏi "tăng nhiều nhất" theo nghĩa thông thường của SGK.
Đáp số. a) Bảng 5.1 như SGK. b) Ngày chiều cao cây đậu tăng nhiều nhất, tăng (cm).
Sai lầm thường gặp. Một số học sinh so sánh trực tiếp chiều cao cuối cùng ( cm là số lớn nhất trong bảng) rồi nhầm tưởng đó là "ngày tăng nhiều nhất", trong khi đề hỏi mức tăng (hiệu số) chứ không hỏi chiều cao lớn nhất.
🚀 Mở rộng. Nếu đổi dữ liệu để chiều cao tăng chậm dần đều ở các ngày cuối, ngày tăng nhiều nhất có thể rơi vào giữa dãy số liệu chứ không nhất thiết là ngày cuối cùng — luôn phải tính đủ mọi hiệu số, không suy đoán theo vị trí.
Bài 5 · Luyện tập 2★★Trang 102— Đọc giá trị tại một mốc, nhận xét xu hướng và giải thích nguyên nhân từ thực tế
Luyện tập 2 (trang 102). Biểu đồ Hình 5.25 cho biết số lượt khách quốc tế đến Việt Nam trong những năm gần đây.
a) Năm 2018 có bao nhiêu lượt khách quốc tế đến Việt Nam?
b) Từ năm 2015 đến năm 2019, số lượt khách quốc tế đến Việt Nam có xu hướng tăng hay giảm?
c) Em có biết vì sao số lượt khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2020 lại giảm mạnh không?
Số lượt khách quốc tế đến Việt Nam05101520Lượt khách (triệu người)Năm20152016201720182019202081012.915.5184
Kiến thức cần nhớ
  • Đọc giá trị tại một điểm cụ thể trên biểu đồ đoạn thẳng bằng cách dóng đúng năm ở trục ngang.
  • Xu hướng tăng/giảm chỉ được kết luận trong đúng phạm vi thời gian mà đề hỏi.
🧠 Phân tích tư duy
Đề gồm ba ý tách bạch: đọc một giá trị cụ thể (a), nhận xét xu hướng trên một đoạn dữ liệu con từ 2015 đến 2019 chứ không phải toàn bộ dãy (b), và giải thích bằng kiến thức thực tế (c) — dấu hiệu của dạng bài kết hợp đọc số liệu với hiểu biết xã hội. Bẫy nằm ở ý (b): phải chỉ xét đúng đoạn như đề yêu cầu, không được gộp luôn năm (năm mà số liệu giảm mạnh) vào rồi kết luận sai là "giảm".
1Cách 1. Đọc trực tiếp số liệu đã ghi trên biểu đồ

Định hướng. Dóng năm 2018 lên điểm tương ứng để đọc số liệu (ý a); xét bốn đoạn thẳng nối các điểm từ 2015 đến 2019 xem có đoạn nào đi xuống không (ý b).

a) Năm : (triệu lượt khách)
b) : , cả bốn đoạn đều đi lên

Vậy a) năm 2018 có triệu lượt khách quốc tế; b) từ 2015 đến 2019 số lượt khách có xu hướng tăng.

2Cách 2. Tính hiệu số liên tiếp để khẳng định xu hướng bằng số

Định hướng. Lấy số liệu năm sau trừ năm liền trước trong đúng đoạn ; nếu mọi hiệu số đều dương thì xu hướng là tăng.




Vậy cả bốn hiệu số đều dương nên khẳng định chắc chắn số lượt khách quốc tế tăng liên tục từ 2015 đến 2019, khớp với Cách 1.

Nhận xét. c) Năm 2020 lượng khách giảm mạnh còn triệu lượt (giảm triệu so với 2019) là do đại dịch COVID-19 bùng phát toàn cầu, các nước đóng cửa biên giới và hạn chế đi lại quốc tế.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi nên dùng Cách 2 cho ý (b): tính hiệu số cho kết luận chắc chắn bằng số, tránh bị nhìn nhầm hình dạng đường trên biểu đồ nhỏ.
Đáp số. a) triệu lượt khách. b) Tăng liên tục từ 2015 đến 2019. c) Do đại dịch COVID-19 khiến việc đi lại quốc tế bị hạn chế mạnh trong năm 2020.
Sai lầm thường gặp. Nhiều học sinh xét luôn cả đoạn (đi xuống rất mạnh) rồi kết luận xu hướng chung là "giảm", trong khi đề chỉ hỏi đúng phạm vi 2015 đến 2019 — phải đọc kĩ mốc thời gian đề giới hạn.
🚀 Mở rộng. So sánh mức tăng từng năm (; ; ; triệu lượt) cho thấy tốc độ tăng khách quốc tế khá ổn định quanh triệu lượt mỗi năm trong giai đoạn trước dịch, một quy luật hữu ích khi dự đoán số liệu năm tiếp theo nếu không có biến cố.
Bài 6 · Ví dụ 2★★Trang 102— Đọc và so sánh hai bộ số liệu trên cùng một biểu đồ đoạn thẳng có chú giải
Ví dụ 2 (trang 102). Cho biểu đồ đoạn thẳng (Hình 5.26).
a) Biểu đồ này cho ta biết thông tin gì?
b) Trong tháng Sáu, cửa hàng bán được loại máy tính nào nhiều hơn?
c) Phân tích xu thế về số lượng máy tính mỗi loại mà cửa hàng bán được. Thời gian tiếp theo cửa hàng nên nhập nhiều loại máy tính nào?
Số lượng máy tính bán được020406080100Số lượngThángMộtHaiBaTưNămSáu80452520105302535504555Máy tính để bànMáy tính xách tay
Kiến thức cần nhớ
  • Khi hai bộ số liệu cùng vẽ trên một biểu đồ, phải dựa vào bảng chú giải (đường liền màu xanh, đường vuông màu đỏ) để phân biệt từng loại số liệu.
  • Xu thế của một dãy số liệu được nhận ra qua chiều đi lên hay đi xuống của cả một chuỗi đoạn thẳng, không chỉ dựa vào một điểm.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho hai đường trên cùng một biểu đồ (dấu hiệu của mục Chú ý trang 103: nhiều bộ số liệu trên cùng một biểu đồ để dễ so sánh) — phải luôn đối chiếu đúng màu/kí hiệu với phần chú giải trước khi đọc số. Ý (c) đòi hỏi nhìn xu thế cả quá trình 6 tháng chứ không chỉ tháng Sáu, và phải suy luận tiếp "nên nhập gì" dựa trên xu thế đó — bẫy là chỉ dựa vào tháng Sáu để trả lời cả câu (c) mà bỏ qua diễn biến trước đó.
1Cách 1. Đọc trực tiếp giá trị tháng Sáu của hai đường rồi so sánh

Định hướng. Đối chiếu chú giải để biết đường tròn xanh là máy tính để bàn, đường vuông đỏ là máy tính xách tay; đọc giá trị của cả hai tại tháng Sáu rồi so sánh trực tiếp.

Tháng Sáu — máy tính để bàn: (chiếc)
Tháng Sáu — máy tính xách tay: (chiếc)
So sánh:

Vậy a) biểu đồ cho biết số lượng máy tính để bàn và máy tính xách tay cửa hàng bán được trong 6 tháng đầu năm; b) tháng Sáu cửa hàng bán được máy tính xách tay nhiều hơn.

2Cách 2. So sánh vị trí hai điểm tháng Sáu trên trục đứng

Định hướng. Không cần đọc số chính xác, chỉ cần nhìn vị trí hai điểm tại tháng Sáu: điểm nào nằm cao hơn trên trục đứng thì giá trị đó lớn hơn.

Tại tháng Sáu, điểm của đường máy tính xách tay (đỏ) nằm cao hơn hẳn điểm của đường máy tính để bàn (xanh) trên trục đứng

Vậy máy tính xách tay bán được nhiều hơn trong tháng Sáu, khớp với kết quả tính số ở Cách 1.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi nên dùng Cách 1: đọc và so sánh trực tiếp bằng số cho kết quả chắc chắn, không phụ thuộc vào độ chính xác khi vẽ hình.
Đáp số. a) Biểu đồ cho biết số lượng máy tính để bàn và máy tính xách tay một cửa hàng bán được trong 6 tháng đầu năm. b) Tháng Sáu cửa hàng bán được máy tính xách tay nhiều hơn. c) Số lượng máy tính để bàn giảm dần, số lượng máy tính xách tay tăng dần; thời gian tới cửa hàng nên nhập nhiều máy tính xách tay hơn.
Sai lầm thường gặp. Một số học sinh chỉ nhìn tháng Sáu để trả lời luôn cả ý (c) "xu thế", trong khi xu thế phải xét toàn bộ 6 tháng: hai tháng đầu máy tính để bàn còn bán chạy hơn, bốn tháng sau mới đổi chiều.
🚀 Mở rộng. Nếu vẽ thêm dữ liệu tháng Bảy, Tám theo đúng xu thế đã thấy (để bàn tiếp tục giảm, xách tay tiếp tục tăng), có thể dự đoán gần đúng doanh số hai loại máy tính trong các tháng tiếp theo.
Bài 7 · Luyện tập 3★★Trang 103— So sánh xu hướng và tốc độ tăng của hai bộ số liệu phần trăm theo thời gian
Luyện tập 3 (trang 103). Biểu đồ Hình 5.27 cho biết tỉ lệ học sinh biết bơi của hai tỉnh A, B trong các năm từ 2016 đến 2020. Em có nhận xét gì về tỉ lệ học sinh biết bơi của hai tỉnh A và B từ năm 2016 đến 2020? Trong giai đoạn này, tỉnh nào có tỉ lệ học sinh biết bơi tăng nhanh hơn?
Tỉ lệ học sinh biết bơi0%20%40%60%80%100%Tỉ lệ (%)Năm2016201720182019202037%46%60%75%90%25%32%35%40%45%Tỉnh ATỉnh B
Kiến thức cần nhớ
  • Mức tăng của một dãy số liệu trong cả giai đoạn bằng giá trị cuối trừ giá trị đầu.
  • "Tăng nhanh hơn" so sánh về mức tăng (hoặc tốc độ tăng), khác với "cao hơn" là so sánh giá trị tuyệt đối tại từng thời điểm.
🧠 Phân tích tư duy
Đề vừa hỏi nhận xét chung (cả hai tỉnh đều tăng) vừa hỏi so sánh "tăng nhanh hơn" — đây là so sánh về tốc độ chứ không phải so sánh giá trị cuối cùng, nên phải tính mức tăng của mỗi tỉnh trong cả giai đoạn rồi mới so sánh. Bẫy ở chỗ tỉnh A luôn có tỉ lệ biết bơi cao hơn tỉnh B ở mọi năm, dễ khiến học sinh nhầm "cao hơn" với "tăng nhanh hơn" — hai khái niệm khác bản chất.
1Cách 1. Quan sát hai đường trên biểu đồ

Định hướng. Nhận xét chiều đi của cả hai đường (đều đi lên hay không), sau đó so sánh xem đường nào dốc hơn hẳn trong suốt giai đoạn.

Tỉnh A: , đi lên liên tục và khá dốc
Tỉnh B: , đi lên liên tục nhưng thoai thoải hơn hẳn

Vậy cả hai tỉnh đều có tỉ lệ học sinh biết bơi tăng qua các năm, trong đó tỉnh A tăng nhanh hơn hẳn tỉnh B (đường của tỉnh A dốc hơn).

2Cách 2. Tính mức tăng tuyệt đối cả giai đoạn của mỗi tỉnh

Định hướng. Lấy tỉ lệ năm 2020 trừ tỉ lệ năm 2016 của từng tỉnh để đo mức tăng trong cả 4 năm, tỉnh nào có hiệu lớn hơn thì tăng nhanh hơn.

Tỉnh A:
Tỉnh B:
So sánh:

Vậy tỉnh A tăng trong khi tỉnh B chỉ tăng , nên tỉnh A có tỉ lệ học sinh biết bơi tăng nhanh hơn tỉnh B, khớp với nhận xét ở Cách 1.

3Cách 3. Tính tốc độ tăng trung bình mỗi năm

Định hướng. Chia đều mức tăng cả giai đoạn cho số năm (4 giai đoạn từ 2016 đến 2020) để có mức tăng trung bình mỗi năm của từng tỉnh, so sánh hai số này.

Tỉnh A: /năm
Tỉnh B: /năm
So sánh: /năm /năm

Vậy tính theo tốc độ tăng trung bình mỗi năm, tỉnh A vẫn tăng nhanh hơn tỉnh B, gấp hơn 2,5 lần.

Nhận xét. Dù tỉnh B có tỉ lệ thấp hơn tỉnh A ở mọi năm, nhưng không thể vì thế mà nói tỉnh B "tăng chậm hơn" một cách hiển nhiên — phải tính hẳn mức tăng như Cách 2, 3 mới kết luận chắc chắn.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi nên dùng Cách 2: tính hiệu số đầu – cuối cho kết quả nhanh và chắc chắn nhất khi chỉ cần so sánh tốc độ tăng giữa hai dãy số liệu có cùng số mốc thời gian.
Đáp số. Cả hai tỉnh đều có tỉ lệ học sinh biết bơi tăng từ 2016 đến 2020; tỉnh A tăng nhanh hơn tỉnh B (tỉnh A tăng , tỉnh B tăng ).
Sai lầm thường gặp. Nhiều học sinh thấy tỉnh A luôn có số liệu lớn hơn tỉnh B ở mọi năm rồi kết luận nhầm "tỉnh A tăng nhanh hơn vì tỉnh A cao hơn" — đây là hai khái niệm khác nhau, phải so mức tăng (hiệu số) chứ không so giá trị tuyệt đối.
🚀 Mở rộng. Nếu tỉ lệ của tỉnh B trong tương lai vẫn tăng đều /năm còn tỉnh A tăng chậm dần khi tiệm cận , có thể dự đoán khoảng cách giữa hai tỉnh sẽ dần thu hẹp lại theo thời gian.
Bài 8 · Luyện tập 4★★Trang 104— Vẽ biểu đồ đoạn thẳng từ bảng số liệu theo 4 bước chuẩn
Luyện tập 4 (trang 104). Bảng thống kê sau đây cho biết thành tích của một vận động viên chạy cự li 1 500 m trong thời gian luyện tập từ tuần 1 đến tuần 7.
Tuần
Thành tích (phút)
Hãy vẽ biểu đồ đoạn thẳng biểu diễn bảng số liệu trên.
Thành tích chạy cự li 1 500 m0246810Thành tích (phút)Tuần123456788876,56,56
Kiến thức cần nhớ
  • 4 bước vẽ biểu đồ đoạn thẳng: (1) vẽ trục ngang và trục đứng kèm đơn vị phù hợp; (2) đánh dấu từng điểm theo đúng cặp giá trị; (3) nối các điểm liên tiếp bằng đoạn thẳng; (4) ghi chú thích và đặt tên cho biểu đồ.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho sẵn bảng số liệu và yêu cầu vẽ ngược lại thành biểu đồ — dấu hiệu của dạng thực hành áp dụng đúng 4 bước đã học ở mục 3 (trang 103-104). Vì thành tích càng nhỏ (thời gian càng ít) càng tốt, biểu đồ đi xuống lại là dấu hiệu tích cực (vận động viên tiến bộ), cần chọn đúng khoảng giá trị trục đứng bao trọn dữ liệu từ đến phút. Bẫy ở việc tuần 1, 2, 3 có cùng thành tích phút — vẫn phải vẽ đủ 3 điểm ngang hàng nhau, không được gộp thành một điểm.
1Cách 1. Vẽ trực tiếp theo 4 bước chuẩn

Định hướng. Thực hiện tuần tự 4 bước: dựng hai trục, đánh dấu 7 điểm, nối các điểm liên tiếp, rồi ghi chú thích.

Trục ngang "Tuần" từ đến ; trục đứng "Thành tích (phút)" từ đến , chia vạch đơn vị
Đánh dấu 7 điểm theo bảng:
Nối các điểm liên tiếp bằng đoạn thẳng
Ghi tên biểu đồ "Thành tích chạy cự li 1 500 m", ghi số liệu tại mỗi điểm

Vậy biểu đồ hoàn thiện như Hình vẽ, thể hiện đúng bảng số liệu đã cho.

2Cách 2. Lập bảng toạ độ trước rồi mới vẽ

Định hướng. Viết sẵn 7 cặp toạ độ (tuần; thành tích) ra giấy nháp, sau đó mới dựng trục và đánh dấu lần lượt từng cặp, giúp không bỏ sót điểm nào khi vẽ.

Danh sách toạ độ:
Dựng trục ngang "Tuần", trục đứng "Thành tích (phút)" từ đến
Đánh dấu lần lượt 7 điểm theo đúng danh sách rồi nối liên tiếp bằng đoạn thẳng

Vậy kết quả vẽ được giống hệt Cách 1, chỉ khác thứ tự thao tác (chuẩn bị toạ độ trước khi vẽ).

Nhận xét. Thành tích giảm dần từ phút xuống phút cho thấy vận động viên đã tiến bộ rõ rệt qua 7 tuần luyện tập.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi nên dùng Cách 1: vẽ trực tiếp theo 4 bước chuẩn tiết kiệm thời gian nhất, không cần bước trung gian ghi toạ độ ra nháp.
Đáp số. Biểu đồ đoạn thẳng nối 7 điểm với trục ngang "Tuần", trục đứng "Thành tích (phút)".
Sai lầm thường gặp. Một số học sinh khi thấy ba tuần đầu có cùng thành tích phút đã vẽ gộp thành một điểm duy nhất hoặc bỏ qua đoạn nối nằm ngang giữa chúng — vẫn phải vẽ đủ 3 điểm và 2 đoạn thẳng nằm ngang nối chúng.
🚀 Mở rộng. Nếu vận động viên tiếp tục giữ nhịp giảm khoảng phút mỗi vài tuần như xu thế đã thấy, có thể ước lượng thành tích sau vài tuần luyện tập tiếp theo sẽ tiệm cận mốc phút.
Bài 9 · Thử thách nhỏ★★★Trang 104— Phân tích ảnh hưởng của cách chọn thang đo trục đứng đến hình dạng biểu đồ đoạn thẳng
Thử thách nhỏ (trang 104). Cho hai biểu đồ biểu diễn tuổi thọ trung bình của người Việt Nam qua các năm (Hình 5.31): Biểu đồ C có trục đứng chia vạch đơn vị một, bắt đầu từ ; Biểu đồ D có trục đứng chia vạch đơn vị một, bắt đầu từ . Cả hai biểu đồ đều biểu diễn cùng một dãy số liệu tuổi thọ trung bình từ năm 1980 đến 2018. Theo em, để thấy rõ hơn tuổi thọ trung bình của người Việt Nam ngày càng tăng, ta nên dùng biểu đồ nào?
Biểu đồ C020406080198019851990199520002005201020152018Biểu đồ D65676971737577198019851990199520002005201020152018Năm — Tuổi thọ trung bình (năm)
Kiến thức cần nhớ
  • Độ dốc của biểu đồ đoạn thẳng phụ thuộc vào việc chọn đơn vị của trục đứng — SGK trang 105 nêu rõ: khi số liệu lớn mà đơn vị trục đứng nhỏ thì không nên vẽ trục đứng bắt đầu từ 0.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho hai biểu đồ có cùng số liệu nhưng khác thang chia trục đứng — dấu hiệu của dạng "đọc hiểu" về độ dốc phụ thuộc thang đo, đúng như phần Nhận xét cuối trang 104 vừa nêu. Vì cùng dữ liệu, câu trả lời không nằm ở số liệu mà nằm ở việc thang đo nào khiến các đoạn thẳng trông dốc hơn, dễ nhận ra xu hướng tăng hơn. Bẫy là nghĩ "biểu đồ bắt đầu từ 0 luôn đúng chuẩn hơn" nên chọn nhầm biểu đồ C, trong khi câu hỏi chỉ hỏi biểu đồ nào *thấy rõ hơn* xu hướng tăng, không hỏi biểu đồ nào "đúng chuẩn" hơn.
1Cách 1. So sánh trực quan độ dốc của hai biểu đồ

Định hướng. Quan sát cùng một dãy số liệu được vẽ trên hai thang chia khác nhau, xem đường gấp khúc ở biểu đồ nào trông dốc hơn (dễ thấy xu hướng tăng hơn).

Biểu đồ C: trục đứng trải dài đến , số liệu đến chỉ chiếm một dải hẹp đường gần như phẳng
Biểu đồ D: trục đứng chỉ trải đến , cùng số liệu đến chiếm gần trọn trục đường dốc rõ rệt

Vậy nên dùng Biểu đồ D vì đường biểu diễn dốc hơn, giúp thấy rõ xu hướng tăng của tuổi thọ trung bình.

2Cách 2. Tính tỉ lệ phần "biên độ dữ liệu" chiếm trên biên độ trục đứng

Định hướng. Lấy biên độ dữ liệu (giá trị lớn nhất trừ nhỏ nhất) chia cho biên độ toàn trục đứng của mỗi biểu đồ; tỉ lệ càng lớn thì dữ liệu càng "chiếm trọn" trục, càng dễ thấy dao động.

Biên độ dữ liệu: (năm)
Biểu đồ C: biên độ trục , tỉ lệ
Biểu đồ D: biên độ trục , tỉ lệ

Vậy dữ liệu chiếm tới trục đứng ở Biểu đồ D so với chỉ ở Biểu đồ C, nên Biểu đồ D thể hiện rõ xu hướng tăng hơn hẳn, khớp với Cách 1.

Nhận xét. Đây cũng chính là điều SGK lưu ý ở mục Nhận xét cuối bài: không nên vẽ trục đứng bắt đầu từ 0 khi số liệu lớn mà biến động lại nhỏ so với độ lớn của số liệu.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi nên dùng Cách 2: tính tỉ lệ phần trăm biên độ dữ liệu trên biên độ trục cho lập luận chắc chắn bằng số, thuyết phục hơn so với chỉ nói "nhìn thấy dốc hơn".
Đáp số. Nên dùng Biểu đồ D vì trục đứng chọn thang đo sát với khoảng biến động của số liệu, giúp thấy rõ hơn xu hướng tuổi thọ trung bình tăng dần.
Sai lầm thường gặp. Nhiều học sinh cho rằng biểu đồ phải luôn vẽ trục đứng bắt đầu từ mới "đúng", nên chọn nhầm Biểu đồ C — thực ra cả hai biểu đồ đều đúng về số liệu, chỉ khác ở mức độ dễ quan sát xu hướng.
🚀 Mở rộng. Khi tự vẽ biểu đồ đoạn thẳng cho số liệu có giá trị lớn nhưng dao động nhỏ (ví dụ nhiệt độ cơ thể người theo giờ, dao động quanh độ), nên chọn trục đứng không bắt đầu từ như Biểu đồ D để đường biểu diễn dễ đọc hơn.
Bài 10 · Bài 5.10★Trang 105— Đọc giá trị tại một mốc và tính mức giảm giữa mốc đầu và mốc cuối
Bài 5.10 (trang 105). Biểu đồ Hình 5.32 cho biết kỉ lục thế giới về thời gian chạy cự li 100 m trong các năm từ 1912 đến 2009.
a) Kỉ lục thế giới về chạy cự li 100 m đạt được ở năm 1991 là bao nhiêu giây?
b) Từ năm 1912 đến 2009, kỉ lục thế giới về chạy cự li 100 m đã giảm được bao nhiêu giây?
Kỉ lục thế giới về chạy cự li 100 m99,51010,511Thời gian (giây)Năm19121930196019912005200910,610,3109,869,779,58
Kiến thức cần nhớ
  • Đọc giá trị tại một điểm cụ thể trên biểu đồ đoạn thẳng bằng cách dóng đúng mốc ở trục ngang, kể cả khi các mốc không cách đều nhau.
  • Mức giảm giữa hai thời điểm bằng giá trị đầu trừ giá trị sau (khi dãy số liệu giảm dần).
🧠 Phân tích tư duy
Đề gồm một ý đọc số liệu trực tiếp (a) và một ý tính hiệu số giữa hai mốc xa nhau (b) — dấu hiệu quen thuộc của dạng đọc kết hợp tính hiệu. Vì đây là kỉ lục thời gian, biểu đồ đi xuống nghĩa là kỉ lục được rút ngắn (tốt hơn), nên "giảm được bao nhiêu" chính là hiệu giữa giá trị năm 1912 và năm 2009. Bẫy ở việc các mốc năm trên trục ngang không cách đều (1912, 1930, 1960, 1991, 2005, 2009), dễ đọc nhầm điểm nếu không đối chiếu đúng nhãn năm.
1Cách 1. Đọc trực tiếp rồi tính hiệu số tuyệt đối

Định hướng. Dóng năm lên điểm tương ứng để đọc kỉ lục (ý a); lấy kỉ lục năm trừ kỉ lục năm để tính mức giảm (ý b).

a) Năm : (giây)
b) (giây)

Vậy a) kỉ lục năm 1991 là giây; b) từ 1912 đến 2009, kỉ lục đã giảm giây.

2Cách 2. Tính mức giảm theo tỉ lệ phần trăm so với kỉ lục gốc

Định hướng. Với ý (b), thay vì chỉ tính số giây giảm tuyệt đối, tính thêm tỉ lệ phần trăm đã giảm so với kỉ lục gốc năm để thấy rõ mức độ cải thiện.

Mức giảm tuyệt đối: (giây)
Tỉ lệ giảm:

Vậy kỉ lục thế giới chạy 100 m đã giảm giây, tương ứng giảm khoảng so với kỉ lục năm 1912, khớp với kết quả tuyệt đối ở Cách 1.

Nhận xét. Từ năm đến , kỉ lục hầu như chỉ giảm chậm rãi từng phần trăm giây một, cho thấy việc phá kỉ lục thế giới ngày càng khó khi thành tích đã rất cao.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi nên dùng Cách 1: tính hiệu số tuyệt đối là đủ và đúng trọng tâm câu hỏi (b), nhanh gọn không cần tính thêm phần trăm.
Đáp số. a) giây. b) Giảm (giây).
Sai lầm thường gặp. Một số học sinh lấy nhầm mốc gần năm nhất trên trục (ví dụ đọc theo năm do các mốc không cách đều) thay vì đọc đúng điểm có nhãn , dẫn đến đọc sai giá trị thành một số khác.
🚀 Mở rộng. Nếu biết thêm kỉ lục thế giới 100 m hiện nay (khoảng giây vẫn giữ đến khi có kỉ lục mới), có thể tiếp tục tính xem trong 10-20 năm tới kỉ lục còn có khả năng giảm thêm bao nhiêu phần trăm nữa hay đã gần chạm giới hạn sinh học của con người.
Bài 11 · Bài 5.11★★Trang 105— So sánh ba bộ số liệu trên cùng một biểu đồ đoạn thẳng (xu hướng, cực trị, tốc độ tăng)
Bài 5.11 (trang 105). Biểu đồ Hình 5.33 cho biết số dân của ba châu lục gồm châu Phi, châu Mỹ và châu Âu trong một số năm.
a) Cho biết xu hướng tăng, giảm về số dân của mỗi châu lục theo thời gian.
b) Trong ba châu lục trên, châu lục nào có số dân cao nhất, thấp nhất trong các năm từ 1950 đến 1980?
c) Từ năm 1950 đến 1980, số dân của châu lục nào tăng chậm nhất?
Dân số của ba châu lục0100200300400500600700800Số dân (triệu người)Năm1950195519601965197019751980Châu PhiChâu MỹChâu Âu
Kiến thức cần nhớ
  • Khi ba dãy số liệu cùng vẽ trên một biểu đồ, cực trị (cao nhất/thấp nhất) tại mỗi thời điểm được xác định bằng cách so sánh vị trí ba đường tại đúng năm đó.
  • Mức tăng cả giai đoạn của một dãy số liệu bằng giá trị cuối trừ giá trị đầu; châu lục tăng chậm nhất là châu lục có hiệu số này nhỏ nhất.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho ba đường cùng lúc — dấu hiệu của dạng so sánh nhiều bộ số liệu, khó hơn Luyện tập 3 (chỉ hai bộ). Ý (a) và (b) chỉ cần quan sát trực tiếp, riêng ý (c) hỏi "tăng chậm nhất" là so sánh mức tăng chứ không phải so sánh số dân, giống bẫy đã gặp ở Luyện tập 3. Bẫy lớn nhất ở ý (c): châu Âu tuy luôn có số dân cao nhất (theo ý b) nhưng lại chính là châu lục tăng chậm nhất về số tuyệt đối, hai kết luận không mâu thuẫn nhau vì chúng đo hai đại lượng khác nhau.
1Cách 1. Quan sát chiều đi và vị trí ba đường trên biểu đồ

Định hướng. Xét chiều đi (lên/xuống) của mỗi đường để trả lời ý (a); xét đường nào luôn ở trên cùng, đường nào luôn ở dưới cùng trong suốt giai đoạn để trả lời ý (b).

Châu Phi, châu Mỹ, châu Âu: cả ba đường đều đi lên liên tục từ 1950 đến 1980 số dân cả ba châu lục đều tăng
Tại mọi năm từ 1950 đến 1980: đường châu Âu luôn ở trên cùng, đường châu Phi luôn ở dưới cùng

Vậy a) số dân cả ba châu lục đều có xu hướng tăng; b) châu Âu có số dân cao nhất, châu Phi có số dân thấp nhất trong suốt giai đoạn 1950 – 1980.

2Cách 2. Tính mức tăng tuyệt đối cả giai đoạn của từng châu lục

Định hướng. Với ý (c), lấy số dân năm 1980 trừ số dân năm 1950 của từng châu lục; châu lục nào có hiệu số nhỏ nhất là châu lục tăng chậm nhất.

Châu Phi: (triệu người)
Châu Mỹ: (triệu người)
Châu Âu: (triệu người)
So sánh:

Vậy châu Âu có mức tăng nhỏ nhất ( triệu người) nên châu Âu là châu lục có số dân tăng chậm nhất trong giai đoạn 1950 – 1980.

Nhận xét. Dù luôn có số dân cao nhất (ý b), châu Âu vẫn là châu lục tăng chậm nhất (ý c) — "cao nhất" và "tăng nhanh nhất" là hai điều hoàn toàn khác nhau, không suy ra lẫn nhau.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi nên dùng Cách 2 cho ý (c): tính hiệu số cụ thể cho kết luận chắc chắn bằng số, tránh nhầm lẫn giữa "cao nhất" và "tăng nhanh nhất" như đã nêu ở phần sai lầm thường gặp.
Đáp số. a) Cả ba châu lục đều có số dân tăng. b) Châu Âu cao nhất, châu Phi thấp nhất. c) Châu Âu tăng chậm nhất ( triệu người trong 30 năm).
Sai lầm thường gặp. Nhiều học sinh nhầm lẫn cho rằng châu lục có số dân cao nhất (châu Âu) cũng là châu lục tăng nhanh nhất, trong khi thực tế phải tính riêng mức tăng của từng châu lục mới xác định được tốc độ tăng — hai đại lượng "độ cao" và "độ dốc" là khác nhau.
🚀 Mở rộng. Nếu xu hướng này tiếp diễn (châu Phi và châu Mỹ tăng nhanh hơn hẳn châu Âu), về lâu dài thứ hạng số dân giữa ba châu lục có thể thay đổi — đây chính là điều đã xảy ra trong thực tế dân số thế giới sau năm 1980.
Bài 12 · Bài 5.12★★Trang 105— Vẽ biểu đồ đoạn thẳng từ bảng số liệu có dãy số vừa tăng vừa giảm
Bài 5.12 (trang 105). Bảng sau cho biết nhiệt độ tại thủ đô Hà Nội vào một ngày mùa thu.
Thời điểm (giờ)
Nhiệt độ ()
Vẽ biểu đồ đoạn thẳng biểu diễn bảng thống kê trên.
Nhiệt độ tại thủ đô Hà Nội trong một ngày mùa thu0510152025303540Nhiệt độ (°C)Thời điểm (giờ)810121416182023253432262218
Kiến thức cần nhớ
  • Khi trục đứng cần chứa cả giá trị nhỏ nhất và lớn nhất của bảng số liệu, nên chọn khoảng chia bao trọn từ dưới giá trị nhỏ nhất đến trên giá trị lớn nhất, chia đều theo đơn vị dễ đọc (ở đây là bội của ).
🧠 Phân tích tư duy
Đề tiếp tục dạng vẽ biểu đồ như Luyện tập 4, nhưng dữ liệu lần này không tăng đều mà tăng rồi giảm (nhiệt độ cao nhất vào giữa trưa) — cần chọn khoảng trục đứng đủ rộng để chứa cả giá trị nhỏ nhất () và lớn nhất (). Bẫy ở chỗ nếu chỉ nhìn hai đầu bảng ( và ) dễ tưởng nhiệt độ giảm dần cả ngày, nhưng thực tế đoạn giữa ngày lại tăng vọt lên rồi mới giảm — phải vẽ đủ 7 điểm mới thấy đúng hình dạng "núi" của biểu đồ.
1Cách 1. Vẽ trực tiếp theo 4 bước chuẩn

Định hướng. Dựng hai trục với đơn vị phù hợp (trục đứng từ đến , chia vạch đơn vị), sau đó đánh dấu 7 điểm và nối liên tiếp.

Trục ngang "Thời điểm (giờ)": ; trục đứng "Nhiệt độ ()" từ đến
Đánh dấu 7 điểm:
Nối các điểm liên tiếp bằng đoạn thẳng
Ghi tên biểu đồ và số liệu tại mỗi điểm

Vậy biểu đồ hoàn thiện có hình dạng đi lên rồi đi xuống như một ngọn núi, đúng với diễn biến nhiệt độ trong ngày.

2Cách 2. Chia bảng thành hai giai đoạn (tăng, giảm) trước khi vẽ

Định hướng. Nhận ra trước dãy số liệu gồm hai giai đoạn: tăng từ giờ đến giờ, rồi giảm từ giờ đến giờ; vẽ lần lượt từng giai đoạn để tránh nối nhầm điểm.

Giai đoạn tăng:
Giai đoạn giảm:
Nối liền hai giai đoạn tại điểm chung để được đường gấp khúc hoàn chỉnh

Vậy kết quả vẽ được giống hệt Cách 1, chỉ khác cách chia nhóm điểm trước khi vẽ để không bị nhầm chiều lên xuống.

Nhận xét. Nhiệt độ cao nhất trong ngày () rơi vào lúc giờ trưa, đúng với quy luật thông thường về nhiệt độ trong ngày.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi nên dùng Cách 1: vẽ trực tiếp theo đúng thứ tự bảng cho tới hết là nhanh nhất, không cần chia giai đoạn.
Đáp số. Biểu đồ đoạn thẳng nối 7 điểm , hình dạng tăng rồi giảm với đỉnh tại giờ.
Sai lầm thường gặp. Một số học sinh chỉ nhìn giá trị đầu () và cuối () rồi vẽ một đường thẳng đi xuống duy nhất, bỏ qua việc nhiệt độ tăng vọt lên vào giữa trưa — luôn phải vẽ và nối đủ tất cả các điểm theo đúng thứ tự bảng.
🚀 Mở rộng. Dạng biểu đồ "tăng rồi giảm" trong một ngày còn gặp ở nhiều đại lượng tự nhiên khác như độ ẩm không khí, cường độ ánh sáng mặt trời theo giờ trong ngày — đều có đỉnh vào khoảng giữa trưa hoặc đầu giờ chiều.
Bài 13 · Bài 5.13★★Trang 105— Gán mốc thời gian cho dãy số liệu rồi vẽ biểu đồ đoạn thẳng và nhận xét xu hướng
Bài 5.13 (trang 105). Số trận thắng của một đội bóng trong 8 năm từ năm 2013 đến 2020 được cho như sau:
.
a) Hãy vẽ biểu đồ đoạn thẳng biểu diễn dãy số liệu trên.
b) Cho biết số trận thắng của đội bóng này trong các năm có xu hướng tăng hay giảm.
Số trận thắng của một đội bóng01020304050Số trận thắngNăm201320142015201620172018201920203642152325353220
Kiến thức cần nhớ
  • Khi đề chỉ cho dãy số liệu kèm khoảng thời gian, phải tự lập bảng gán đúng thứ tự năm với từng giá trị trước khi vẽ biểu đồ.
  • Một dãy số liệu có thể không tăng hẳn hoặc giảm hẳn mà dao động lên xuống — khi đó phải mô tả đúng là "không có xu hướng tăng hoặc giảm rõ rệt" thay vì gán ép vào một xu hướng.
🧠 Phân tích tư duy
Đề chỉ cho một dãy số liệu trần trụi không kèm bảng có sẵn năm tương ứng — phải tự đối chiếu theo đúng thứ tự "8 năm từ 2013 đến 2020" đã nêu ở đầu câu trước khi vẽ, đây là dấu hiệu khác biệt so với Luyện tập 4 và Bài 5.12 (đã có sẵn bảng). Sau khi vẽ, dữ liệu lên xuống thất thường (không tăng đều, không giảm đều) nên ý (b) không thể trả lời gọn bằng một từ "tăng" hay "giảm" đơn thuần mà phải mô tả đúng là dao động, không có xu hướng rõ ràng. Bẫy ở chỗ nếu chỉ so sánh năm đầu () với năm cuối () sẽ vội kết luận "giảm", trong khi giữa chừng có những năm tăng vọt (như 2014 đạt , cao nhất cả dãy).
1Cách 1. Lập bảng gán năm rồi vẽ theo 4 bước chuẩn

Định hướng. Gán lần lượt 8 giá trị đã cho ứng với 8 năm từ 2013 đến 2020 theo đúng thứ tự đề bài, được bảng số liệu, rồi vẽ biểu đồ như các bài trước.

Bảng: Năm — Số trận thắng:
Đánh dấu 8 điểm:
Nối các điểm liên tiếp bằng đoạn thẳng và ghi chú thích

Vậy a) biểu đồ hoàn thiện như hình vẽ, có dạng lên xuống thất thường qua từng năm.

2Cách 2. Xét dấu từng hiệu số liên tiếp để mô tả xu hướng

Định hướng. Với ý (b), tính hiệu số mỗi năm so với năm liền trước; nếu dấu của các hiệu số không cùng dương hoặc cùng âm thì kết luận dãy số liệu dao động, không có xu hướng tăng hay giảm rõ rệt.







Vậy b) dấu các hiệu số đổi qua lại (có dương, có âm) nên số trận thắng của đội bóng không có xu hướng tăng hay giảm rõ rệt, mà lên xuống thất thường qua từng năm.

Nhận xét. Năm 2015 đội bóng thắng ít nhất ( trận) ngay sau năm thắng nhiều nhất 2014 ( trận) — phong độ một đội bóng thể thao thường không ổn định qua từng mùa giải.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi nên dùng Cách 2 cho ý (b): xét dấu từng hiệu số liên tiếp cho kết luận chắc chắn, tránh kết luận vội chỉ dựa vào năm đầu và năm cuối như đã nêu ở phần sai lầm thường gặp.
Đáp số. a) Biểu đồ nối 8 điểm theo bảng đã gán năm 2013–2020. b) Số trận thắng không có xu hướng tăng hay giảm rõ rệt, dao động lên xuống qua từng năm.
Sai lầm thường gặp. Nhiều học sinh chỉ so sánh trận thắng năm đầu (, năm 2013) với năm cuối (, năm 2020) rồi vội kết luận "có xu hướng giảm", bỏ qua việc giữa chừng có năm tăng vọt lên (2014) và nhiều lần lên xuống khác.
🚀 Mở rộng. Nếu tính thêm số trận thắng trung bình của cả 8 năm ( trận/năm), ta có thêm một con số để đánh giá phong độ trung bình của đội bóng trong cả giai đoạn, bổ sung cho nhận xét về xu hướng dao động.

🎯 Học tiếp

📚 Cùng chương: Chương V. Thu thập và biểu diễn dữ liệu