Chương VIII. Mở đầu về tính xác suất của biến cố

Bài 32. Mối liên hệ giữa xác suất thực nghiệm với xác suất và ứng dụng

SGK Toán 8 — Kết nối tri thức, tập 2 · 16 bài tập, mỗi câu ít nhất 2 cách giải.

Bài 1 · Mở đầu★Trang 67— Câu hỏi mở đầu — nhận biết giới hạn của định nghĩa xác suất cổ điển
Mở đầu (trang 67). Hình 8.4 là cảnh tắc đường ở đường Nguyễn Trãi (Hà Nội) vào giờ cao điểm buổi sáng, từ khoảng 7 giờ 30 phút đến 8 giờ. Liệu ta có thể tính được xác suất của biến cố "Tắc đường vào giờ cao điểm buổi sáng ở đường Nguyễn Trãi" hay không?
Kiến thức cần nhớ
  • Xác suất cổ điển chỉ tính được khi các kết quả có thể là ĐỒNG KHẢ NĂNG và đếm được hữu hạn.
  • Khi không đồng khả năng, người ta ước lượng xác suất nhờ xác suất thực nghiệm (theo dõi lặp lại nhiều lần).
🧠 Phân tích tư duy
Đề không cho bảng số liệu, dấu hiệu cho thấy đây là câu hỏi định hướng chứ không phải bài toán tính toán cụ thể. Hướng đúng là đối chiếu với định nghĩa xác suất cổ điển đã học ở Bài 31 (cần các kết quả đồng khả năng) để nhận ra hiện tượng giao thông không thoả điều kiện đó. Bẫy của đề: nghĩ rằng cứ có hai khả năng "tắc" hoặc "không tắc" là đồng khả năng như tung đồng xu.
1Cách 1. Đối chiếu với định nghĩa xác suất cổ điển

Định hướng. Kiểm tra xem hiện tượng tắc đường có thoả điều kiện đồng khả năng của công thức tỉ số đã học ở Bài 31 hay không.

Biến cố "Tắc đường vào giờ cao điểm buổi sáng" không phải là kết quả của một phép thử có hữu hạn kết quả đồng khả năng như gieo xúc xắc hay rút thẻ
Mỗi buổi sáng có tắc đường hay không phụ thuộc thời tiết, ngày lễ, tai nạn… nên hai khả năng "tắc" và "không tắc" KHÔNG đồng khả năng
Do đó không thể áp dụng công thức của xác suất cổ điển để tính trực tiếp

Vậy không thể tính xác suất của biến cố này bằng công thức tỉ số cổ điển đã học.

2Cách 2. Đề xuất hướng ước lượng bằng theo dõi thực tế

Định hướng. Từ chỗ không dùng được xác suất cổ điển, tìm cách khác để vẫn ước lượng được khả năng xảy ra.

Có thể đặt camera quan sát đường Nguyễn Trãi trong nhiều ngày liên tiếp, mỗi ngày ghi nhận "có tắc" hay "không tắc" vào giờ cao điểm
Sau ngày theo dõi, nếu thấy tắc đường ngày thì tỉ số chính là xác suất thực nghiệm của biến cố
Khi đủ lớn, tỉ số này dùng để ước lượng xác suất của biến cố, dù không tính đúng bằng công thức cổ điển

Vậy ta vẫn có thể ƯỚC LƯỢNG được xác suất của biến cố này bằng xác suất thực nghiệm, sẽ được tính cụ thể ở Luyện tập 2.

Nhận xét. Đây chính là lí do bài học giới thiệu khái niệm xác suất thực nghiệm và mối liên hệ của nó với xác suất.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Cả hai cách bổ sung cho nhau: Cách 1 chỉ ra vì sao KHÔNG dùng được công thức cũ, Cách 2 chỉ ra hướng thay thế — khi đi thi câu hỏi mở đầu chỉ cần trình bày gọn như Cách 1 rồi nêu hướng ước lượng.
Đáp số. Không thể tính bằng công thức xác suất cổ điển; chỉ có thể ƯỚC LƯỢNG xác suất của biến cố này bằng xác suất thực nghiệm.
Sai lầm thường gặp. Cho rằng "tắc" và "không tắc" là hai kết quả đồng khả năng nên vội áp dụng — sai vì đồng khả năng phải được chứng minh, không phải cứ có hai khả năng là ngang nhau.
🚀 Mở rộng. Nhiều hiện tượng thực tế khác (thời tiết có mưa hay không, một sản phẩm có lỗi hay không) cũng rơi vào tình huống này — đều cần xác suất thực nghiệm thay vì xác suất cổ điển.
Bài 2 · HĐ1★Trang 67— Đếm số lần biến cố xảy ra từ bảng tần số để dẫn tới khái niệm xác suất thực nghiệm
HĐ1 (trang 67). Ông An theo dõi và thống kê số cuộc gọi điện thoại đến cho ông trong một ngày. Sau 59 ngày theo dõi, kết quả thu được như sau:
Số cuộc điện thoại gọi đến trong một ngày: 0; 1; 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8.
Số ngày tương ứng: 5; 9; 15; 10; 5; 6; 4; 2; 3.
Gọi là biến cố "Trong một ngày ông An nhận được nhiều hơn 6 cuộc gọi". Hỏi trong 59 ngày, có bao nhiêu ngày biến cố xuất hiện?
Kiến thức cần nhớ
  • Xác suất thực nghiệm của biến cố trong lần theo dõi mà xảy ra lần là .
  • "Nhiều hơn 6" là các giá trị 7, 8, …, không bao gồm chính số 6.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho bảng tần số số cuộc gọi theo từng ngày, dấu hiệu của dạng đếm số ngày thoả một điều kiện cho trước rồi tính tỉ số — đây chính là bước hình thành khái niệm xác suất thực nghiệm. Hướng an toàn là xác định đúng các giá trị "nhiều hơn 6" (tức 7 và 8), rồi cộng đúng cột số ngày tương ứng. Bẫy của đề: "nhiều hơn 6" không bao gồm 6, dễ nhầm cộng luôn cột số 6.
1Cách 1. Đếm trực tiếp các cột thoả điều kiện

Định hướng. Xác định các giá trị số cuộc gọi nhiều hơn 6 rồi cộng số ngày tương ứng.

Số cuộc gọi "nhiều hơn 6" ứng với 7 cuộc hoặc 8 cuộc
Số ngày có 7 cuộc gọi là 2, số ngày có 8 cuộc gọi là 3
Số ngày biến cố xuất hiện là

Vậy trong 59 ngày theo dõi, biến cố xuất hiện 5 ngày.

2Cách 2. Lấy tổng 59 ngày trừ đi số ngày không thoả mãn

Định hướng. Dùng biến cố đối "không nhiều hơn 6 cuộc" (tức từ 0 đến 6 cuộc) rồi lấy 59 trừ đi.

Số ngày có từ 0 đến 6 cuộc gọi là
Số ngày biến cố xuất hiện là

Vậy biến cố xuất hiện 5 ngày, khớp Cách 1.

3Cách 3. Lập tổng tích luỹ từ cột lớn nhất trở xuống

Định hướng. Cộng dồn số ngày từ giá trị lớn nhất (8 cuộc) giảm dần cho tới khi vừa qua mốc 6.

Cộng dồn từ 8 cuộc trở xuống: 8 cuộc có 3 ngày, cộng dồn
7 cuộc có 2 ngày, cộng dồn
6 cuộc có 4 ngày — dừng lại vì 6 không thoả "nhiều hơn 6"

Vậy tổng cộng dồn dừng đúng tại 5 ngày, khớp hai cách trên.

Nhận xét. Cách cộng dồn từ trên xuống hữu ích khi bảng tần số có nhiều cột và điều kiện là "nhiều hơn một mốc".

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: chỉ cộng hai số 2 và 3, nhanh và ít khả năng tính nhầm nhất khi bảng tần số ngắn.
Đáp số. Biến cố xuất hiện 5 ngày trong 59 ngày theo dõi.
Sai lầm thường gặp. Cộng nhầm cả cột "6 cuộc gọi" (4 ngày) vào tổng vì hiểu sai "nhiều hơn 6" thành "từ 6 trở lên", dẫn tới kết quả sai 9 ngày.
🚀 Mở rộng. Nếu đổi "nhiều hơn 6 cuộc" thành "từ 6 cuộc trở lên" thì số ngày biến cố xảy ra sẽ là ngày — khác hẳn kết quả của bài này.
Bài 3 · Ví dụ 1★★Trang 68— Tính xác suất thực nghiệm của hai biến cố "ít nhất" và "nhiều nhất" trên cùng một bảng tần số
Ví dụ 1 (trang 68). Trở lại tình huống trong HĐ1. Gọi là biến cố "Trong một ngày ông An nhận được ít nhất 5 cuộc gọi điện thoại" và là biến cố "Trong một ngày ông An nhận được nhiều nhất 3 cuộc điện thoại". Tính xác suất thực nghiệm của biến cố và biến cố .
Kiến thức cần nhớ
  • "Ít nhất " nghĩa là lớn hơn hoặc bằng ; "nhiều nhất " nghĩa là nhỏ hơn hoặc bằng — cả hai đều BAO GỒM chính giá trị .
  • Xác suất thực nghiệm với là số lần xảy ra, là tổng số lần theo dõi.
🧠 Phân tích tư duy
Vẫn dùng bảng tần số của HĐ1 nên dấu hiệu và cách làm tương tự, chỉ đổi điều kiện đếm: "ít nhất 5" (bao gồm cả 5) và "nhiều nhất 3" (bao gồm cả 3). Hướng an toàn là liệt kê đúng các cột thoả từng điều kiện trước khi cộng, tránh nhầm lẫn giữa hai biến cố và vì làm liên tiếp trong cùng một bài. Bẫy của đề: "ít nhất 5" và "nhiều nhất 3" đều LÀ mốc bao gồm chính số đó, khác với "nhiều hơn" ở HĐ1.
1Cách 1. Đếm trực tiếp từng biến cố

Định hướng. Liệt kê các cột thoả "ít nhất 5" cho và các cột thoả "nhiều nhất 3" cho , rồi cộng số ngày tương ứng.

Số cuộc gọi ít nhất 5 ứng với 5, 6, 7, 8 cuộc, có số ngày là
Xác suất thực nghiệm của là
Số cuộc gọi nhiều nhất 3 ứng với 0, 1, 2, 3 cuộc, có số ngày là
Xác suất thực nghiệm của là

Vậy và .

2Cách 2. Dùng biến cố đối để kiểm tra chéo

Định hướng. Biến cố đối của là "nhiều nhất 4 cuộc", biến cố đối của là "ít nhất 4 cuộc" — tính qua phần bù rồi đối chiếu.

Số ngày nhiều nhất 4 cuộc (đối của ) là , suy ra
Số ngày ít nhất 4 cuộc (đối của ) là , suy ra

Vậy kết quả trùng Cách 1: , .

3Cách 3. Dùng lại số liệu đã đếm ở HĐ1

Định hướng. Nhận xét chính là hợp của biến cố (nhiều hơn 6, đã đếm được 5 ngày ở HĐ1) với "đúng 5 hoặc 6 cuộc", tránh đếm lại từ đầu.

Từ HĐ1 đã biết số ngày nhiều hơn 6 cuộc là 5 ngày
Số ngày đúng 5 cuộc là 5, đúng 6 cuộc là 4, cộng thêm để có số ngày ít nhất 5 cuộc:
Số ngày nhiều nhất 3 cuộc tính trực tiếp không dùng lại HĐ1 vì HĐ1 không đếm mốc này:

Vậy , , khớp hai cách trên.

Nhận xét. Tận dụng kết quả bài trước giúp kiểm tra chéo nhưng phải cộng lại cẩn thận từng mốc, tránh cộng trùng hoặc thiếu.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: đếm trực tiếp theo đúng định nghĩa "ít nhất"/"nhiều nhất", nhanh và không cần lập luận phần bù.
Đáp số. ; .
Sai lầm thường gặp. Đếm "ít nhất 5" mà bỏ sót không cộng đúng cột 5 cuộc (nhầm "ít nhất 5" thành "nhiều hơn 5"), dẫn tới kết quả sai .
🚀 Mở rộng. Nếu đổi mốc của thành "ít nhất cuộc" với tăng dần thì giảm dần, vì tập các ngày thoả mãn ngày càng bị thu hẹp.
Bài 4 · Luyện tập 1★Trang 68— Tính xác suất thực nghiệm từ bảng thống kê số lượng bán hàng theo loại
Luyện tập 1 (trang 68). Một cửa hàng thống kê số lượng các loại điện thoại bán được trong một năm vừa qua như sau:
Loại điện thoại A: 712 chiếc; Loại B: 1 035 chiếc; Loại C: 1 085 chiếc.
Tính xác suất thực nghiệm của biến cố : "Chiếc điện thoại loại A được bán ra trong năm đó của cửa hàng".
Kiến thức cần nhớ
  • Xác suất thực nghiệm , trong đó là số lần xảy ra và là tổng số lần quan sát, áp dụng cho dữ liệu thống kê thực tế.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho số lượng bán của ba loại điện thoại, dấu hiệu của dạng tính xác suất thực nghiệm bằng tỉ số giữa số lượng của loại cần xét và tổng số lượng đã bán. Hướng an toàn là cộng đúng tổng ba loại trước khi lập tỉ số. Bẫy của đề: quên cộng đủ cả ba loại (712, 1 035, 1 085), dễ tính nhầm tổng.
1Cách 1. Cộng tổng rồi lập tỉ số trực tiếp

Định hướng. Cộng số lượng ba loại điện thoại để có tổng số chiếc đã bán, rồi lập tỉ số với số lượng loại A.

Tổng số điện thoại đã bán trong năm là (chiếc)
Số điện thoại loại A là 712 chiếc
Xác suất thực nghiệm của biến cố là

Vậy xác suất thực nghiệm của biến cố là (xấp xỉ 25,14%).

2Cách 2. Tính qua phần bù của A trong tổng

Định hướng. Tính xác suất thực nghiệm của "không phải loại A" (tức loại B hoặc C) trước, rồi lấy 1 trừ đi.

Số điện thoại loại B hoặc C là (chiếc)
Tổng số điện thoại đã bán là (chiếc)
Xác suất thực nghiệm của "không phải loại A" là
Xác suất thực nghiệm của là

Vậy , khớp Cách 1.

3Cách 3. Ước lượng bằng phần trăm rồi đối chiếu phân số

Định hướng. Tính tỉ lệ phần trăm của loại A trên tổng để có con số trực quan, rồi kiểm tra khớp với phân số tối giản.

Tỉ lệ loại A trên tổng là
Đổi sang số thập phân: , tức khoảng

Vậy , khớp phân số ở hai cách trên.

Nhận xét. Viết thêm dạng phần trăm giúp hình dung trực quan mức độ phổ biến của loại A so với hai loại còn lại.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: cộng tổng rồi lập tỉ số ngay, ngắn nhất và không cần thêm bước phần bù.
Đáp số. (xấp xỉ 25,14%).
Sai lầm thường gặp. Cộng nhầm tổng ba loại thành 2 820 hoặc 2 823 do cộng số có nhóm nghìn không cẩn thận, dẫn tới phân số sai không rút gọn được đúng.
🚀 Mở rộng. Nếu cửa hàng bán thêm loại D với số lượng chiếc thì , giảm dần khi tăng.
Bài 5 · Ví dụ 2★Trang 69— Ước lượng xác suất của một biến cố bằng xác suất thực nghiệm khi tỉ lệ xảy ra nhỏ
Ví dụ 2 (trang 69). Kiểm tra ngẫu nhiên 500 chiếc ti vi do nhà máy X sản xuất thì có 4 chiếc không đạt chất lượng. Hãy ước lượng xác suất của biến cố : "Một ti vi của nhà máy X sản xuất không đạt chất lượng".
Kiến thức cần nhớ
  • Xác suất của biến cố được ước lượng bằng xác suất thực nghiệm: , với là số lần kiểm tra, là số lần xảy ra.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho số lượng kiểm tra và số chiếc lỗi, dấu hiệu quen thuộc của dạng ước lượng xác suất bằng công thức . Hướng an toàn là lập tỉ số rồi đổi ra cả dạng thập phân và phần trăm để đối chiếu dễ dàng. Bẫy của đề: tỉ số rất nhỏ () dễ viết nhầm số 0 khi đổi sang phần trăm.
1Cách 1. Lập tỉ số trực tiếp rồi đổi phần trăm

Định hướng. Lập tỉ số giữa số ti vi lỗi và tổng số ti vi kiểm tra, rồi đổi sang phần trăm.

Trong 500 lần kiểm tra, biến cố xảy ra 4 lần
Xác suất thực nghiệm của là
Đổi sang phần trăm:

Vậy xác suất của biến cố được ước lượng là .

2Cách 2. Rút gọn phân số trước khi đổi phần trăm

Định hướng. Rút gọn phân số về dạng tối giản để kiểm tra chéo với Cách 1.


Đổi sang số thập phân:
Đổi sang phần trăm:

Vậy , khớp Cách 1.

3Cách 3. Quy đổi về số phần nghìn để hình dung tỉ lệ lỗi

Định hướng. Đổi tỉ số sang "số phần nghìn" (‰), đơn vị hay dùng cho tỉ lệ lỗi sản phẩm rất nhỏ, để đối chiếu ý nghĩa thực tế.


Tức là cứ 1 000 chiếc ti vi thì ước lượng có khoảng 8 chiếc không đạt chất lượng
Đổi sang phần trăm:

Vậy , khớp cả hai cách trên.

Nhận xét. Cách quy đổi phần nghìn giúp nhà máy hình dung trực quan số lượng lỗi dự kiến trên một lô hàng lớn.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: lập tỉ số rồi đổi phần trăm ngay, không cần bước rút gọn trung gian.
Đáp số. Xác suất của biến cố được ước lượng là (tức ).
Sai lầm thường gặp. Đổi sang phần trăm thành (nhân nhầm 1000 thay vì 100), sai một bậc do không cẩn thận dời dấu phẩy.
🚀 Mở rộng. Nếu kiểm tra 500 chiếc mà có chiếc lỗi thay vì 4 thì xác suất ước lượng tổng quát là .
Bài 6 · Luyện tập 2★★Trang 69— Ước lượng xác suất bằng xác suất thực nghiệm, quay lại giải quyết câu hỏi mở đầu
Luyện tập 2 (trang 69). Trở lại tình huống mở đầu. Giả sử camera quan sát đường Nguyễn Trãi trong 365 ngày ghi nhận được 217 ngày tắc đường vào giờ cao điểm buổi sáng. Từ số liệu thống kê đó, hãy ước lượng xác suất của biến cố : "Tắc đường vào giờ cao điểm buổi sáng ở đường Nguyễn Trãi".
Kiến thức cần nhớ
  • Xác suất của biến cố được ước lượng bằng xác suất thực nghiệm , với là số lần theo dõi, là số lần xảy ra.
🧠 Phân tích tư duy
Đây chính là câu hỏi mở đầu đã đặt ra nhưng nay có đủ số liệu, dấu hiệu của dạng ước lượng xác suất bằng tỉ số . Hướng an toàn là xác định đúng (tổng số ngày theo dõi) và (số ngày tắc đường) trước khi lập tỉ số. Bẫy của đề: nhầm lẫn vai trò của 365 và 217 nếu đọc lướt.
1Cách 1. Lập tỉ số trực tiếp

Định hướng. Xác định là tổng số ngày theo dõi, là số ngày tắc đường, rồi lập tỉ số.

Số ngày theo dõi là
Số ngày biến cố xảy ra (tắc đường) là
Xác suất thực nghiệm của là

Vậy xác suất của biến cố được ước lượng là , tức khoảng .

2Cách 2. Qua biến cố đối "không tắc đường"

Định hướng. Tính xác suất thực nghiệm của biến cố đối rồi lấy 1 trừ đi để kiểm tra chéo.

Số ngày không tắc đường là
Xác suất thực nghiệm của "không tắc đường" là
Xác suất thực nghiệm của là

Vậy , khớp Cách 1.

3Cách 3. Đổi ra tỉ lệ theo tuần để đối chiếu thực tế

Định hướng. Quy tỉ số về đơn vị "trên 7 ngày" (một tuần) để hình dung trực quan mức độ thường xuyên tắc đường.


Tức là trung bình mỗi tuần có khoảng hơn 4 ngày tắc đường vào giờ cao điểm buổi sáng

Vậy , tương ứng khoảng 4 đến 5 ngày mỗi tuần, khớp hai cách trên.

Nhận xét. Đây là ví dụ cho thấy xác suất thực nghiệm giải quyết được đúng câu hỏi đặt ra ở Mở đầu mà xác suất cổ điển không làm được.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: lập tỉ số ngay, không cần bước trung gian nào.
Đáp số. Xác suất của biến cố được ước lượng là (khoảng ).
Sai lầm thường gặp. Lập tỉ số ngược thành (lớn hơn 1, vô lí đối với xác suất) do nhầm lẫn số lần theo dõi và số lần biến cố xảy ra.
🚀 Mở rộng. Nếu theo dõi thêm 100 ngày nữa mà tắc đường 60 ngày trong số đó thì xác suất ước lượng mới trên tổng ngày là .
Bài 7 · Ví dụ 3★★Trang 69— Ước lượng xác suất thực nghiệm từ số liệu thống kê rất lớn, kết quả đổi sang phần trăm
Ví dụ 3 (trang 69). Thống kê tới ngày 26-12-2021, toàn thế giới có 279 830 788 người nhiễm Covid-19, trong đó có 5 413 126 người tử vong (Theo www.worldometers.info). Hãy ước lượng xác suất người nhiễm Covid-19 bị tử vong.
Kiến thức cần nhớ
  • Với số liệu thống kê cỡ lớn, xác suất vẫn được ước lượng bằng đúng công thức , chỉ khác là , có nhiều chữ số hơn.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho hai số liệu rất lớn (người nhiễm và người tử vong), dấu hiệu vẫn là dạng ước lượng xác suất bằng nhưng cần cẩn trọng khi tính với số nhiều chữ số. Hướng an toàn là xác định đúng vai trò: là tổng số người nhiễm (mẫu số), là số người tử vong (biến cố cần xét). Bẫy của đề: nhầm lẫn thứ tự tử số – mẫu số khi hai số đều rất lớn và nhiều chữ số dễ rối mắt.
1Cách 1. Lập tỉ số rồi tính gần đúng bằng chia trực tiếp

Định hướng. Xác định là tổng số người nhiễm, là số người tử vong, lập tỉ số rồi tính giá trị gần đúng.

Số người nhiễm Covid-19 là
Số người tử vong là
Xác suất thực nghiệm của biến cố "người nhiễm Covid-19 bị tử vong" là

Vậy xác suất người nhiễm Covid-19 bị tử vong được ước lượng là , tức khoảng .

2Cách 2. Làm tròn số liệu về đơn vị triệu để tính nhanh

Định hướng. Làm tròn hai số liệu về đơn vị triệu để tính nhẩm tỉ số gần đúng, sau đó so sánh với kết quả chính xác.

Làm tròn: số người nhiễm (triệu người), số người tử vong (triệu người)
Tỉ số gần đúng là

Vậy kết quả làm tròn vẫn cho , khớp Cách 1.

3Cách 3. Tính theo đơn vị trên 10 000 người nhiễm

Định hướng. Quy tỉ số về dạng "trên 10 000 người nhiễm có bao nhiêu người tử vong" để có ý nghĩa thống kê dễ hình dung hơn phần trăm.


Tức là cứ khoảng 10 000 người nhiễm thì có gần 194 người tử vong

Vậy (hay gần 194/10 000), khớp hai cách trên.

Nhận xét. Với dữ liệu dịch bệnh, đơn vị "trên 10 000 người" đôi khi trực quan hơn phần trăm rất nhỏ như .

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: lập tỉ số và bấm máy tính cầm tay chia trực tiếp, không cần làm tròn trung gian mà vẫn ra đúng 4 chữ số thập phân yêu cầu.
Đáp số. Xác suất người nhiễm Covid-19 bị tử vong được ước lượng là (khoảng ).
Sai lầm thường gặp. Lập tỉ số ngược (một số lớn hơn 1, vô lí với xác suất) do nhầm số người nhiễm là biến cố cần xét thay vì số người tử vong.
🚀 Mở rộng. Nếu xét theo từng đợt dịch riêng (mỗi đợt có số liệu nhiễm và tử vong khác nhau) thì xác suất tử vong ước lượng của mỗi đợt có thể khác hẳn con số chung toàn cầu .
Bài 8 · Luyện tập 3★★Trang 69— Ước lượng xác suất qua biến cố đối khi đề chỉ cho số liệu của biến cố kia
Luyện tập 3 (trang 69). Trong 240 000 trẻ sơ sinh chào đời người ta thấy có 123 120 bé trai. Hãy ước lượng xác suất của biến cố "Trẻ sơ sinh là bé gái".
Kiến thức cần nhớ
  • Khi một phép thử chỉ có hai kết quả đối nhau (bé trai / bé gái), số lượng của kết quả này bằng tổng số trừ đi số lượng kết quả kia.
  • với là số lần xảy ra ĐÚNG biến cố đang xét.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho tổng số trẻ sơ sinh và số bé trai, nhưng câu hỏi lại yêu cầu xác suất của bé GÁI — dấu hiệu của dạng phải dùng biến cố đối (bé gái và bé trai là hai biến cố đối nhau trong phép thử này). Hướng an toàn là tính số bé gái bằng cách lấy tổng trừ đi số bé trai trước khi lập tỉ số. Bẫy của đề: quên đổi từ số bé trai sang số bé gái, tính nhầm ra xác suất bé trai rồi ghi là đáp số.
1Cách 1. Tính số bé gái rồi lập tỉ số trực tiếp

Định hướng. Lấy tổng số trẻ sơ sinh trừ đi số bé trai để ra số bé gái, rồi lập tỉ số trên tổng.

Số bé gái là
Xác suất thực nghiệm của biến cố "trẻ sơ sinh là bé gái" là
Rút gọn:

Vậy xác suất của biến cố "trẻ sơ sinh là bé gái" được ước lượng là (khoảng ).

2Cách 2. Tính xác suất bé trai trước rồi lấy 1 trừ đi

Định hướng. Vì bé trai và bé gái là hai biến cố đối nhau, tính xác suất thực nghiệm của bé trai trước rồi dùng tổng xác suất bằng 1.

Xác suất thực nghiệm của "trẻ sơ sinh là bé trai" là
Vì hai biến cố đối nhau nên xác suất của "bé gái" là

Vậy xác suất của "bé gái" là , khớp Cách 1.

3Cách 3. Ước lượng bằng phần trăm rồi đối chiếu tỉ lệ giới tính

Định hướng. Đổi trực tiếp tỉ số phần trăm của cả hai giới để đối chiếu, xem tổng có đúng bằng 100% hay không.

Tỉ lệ bé trai là
Tỉ lệ bé gái là

Vậy xác suất của bé gái là khoảng , khớp hai cách trên.

Nhận xét. Kiểm tra tổng hai tỉ lệ bằng 100% là cách tự kiểm tra kết quả rất hiệu quả khi bài có đúng hai biến cố đối nhau.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: tính số bé gái ngay từ đầu, tránh phải nhớ thêm bước "1 trừ đi" của Cách 2.
Đáp số. Xác suất của biến cố "trẻ sơ sinh là bé gái" được ước lượng là (khoảng ).
Sai lầm thường gặp. Tính xong xác suất bé trai rồi dừng lại, quên đây là xác suất của bé TRAI chứ không phải bé GÁI mà đề hỏi.
🚀 Mở rộng. Nếu số liệu đổi thành 123 120 bé gái (thay vì bé trai) trong 240 000 trẻ thì xác suất bé gái sẽ chính là , đảo ngược kết quả bài này.
Bài 9 · Ví dụ 4★★★Trang 70— Tính xác suất thực nghiệm từ bảng ba mức độ rồi dùng để dự đoán số lượng trên một mẫu kiểm tra khác
Ví dụ 4 (trang 70). Một nhà máy sản xuất linh kiện điện tử, kiểm tra chất lượng của 100 sản phẩm. Kết quả được ghi trong bảng sau:
Số lỗi: 0; 1; nhiều hơn 1. Số sản phẩm tương ứng: 62; 35; 3.
a) Chọn ngẫu nhiên một sản phẩm của nhà máy. Hãy tính xác suất thực nghiệm của các biến cố sau: : "Sản phẩm không có lỗi"; : "Sản phẩm có đúng 1 lỗi"; : "Sản phẩm có nhiều hơn 1 lỗi".
b) Nếu kiểm tra 120 sản phẩm khác, hãy dự đoán: có bao nhiêu sản phẩm không có lỗi? có bao nhiêu sản phẩm có đúng 1 lỗi? có bao nhiêu sản phẩm nhiều hơn 1 lỗi?
Kiến thức cần nhớ
  • Xác suất thực nghiệm từ mẫu quan sát được dùng làm ước lượng cho các lần thử khác trong cùng điều kiện.
  • Khi dự đoán số lượng trên mẫu mới cỡ , số lần dự đoán là , làm tròn đến số nguyên gần nhất.
🧠 Phân tích tư duy
Đề có hai phần liên tiếp: phần a) tính xác suất thực nghiệm trực tiếp từ 100 sản phẩm đã kiểm tra, phần b) dùng CHÍNH các xác suất đó làm ước lượng để dự đoán số lượng trên 120 sản phẩm khác — dấu hiệu của dạng "dùng xác suất thực nghiệm làm cầu nối dự đoán". Hướng an toàn là hoàn thành phần a) chính xác trước, vì mọi tính toán ở phần b) đều dựa trên kết quả đó. Bẫy của đề: ở phần b) quên rằng chỉ là DỰ ĐOÁN gần đúng, phải làm tròn hợp lí chứ không giữ nguyên số thập phân.
1Cách 1. Tính trực tiếp rồi nhân với cỡ mẫu mới

Định hướng. Tính ba xác suất thực nghiệm từ 100 sản phẩm, sau đó nhân từng xác suất với 120 để dự đoán.

a) ; ;
b) Số sản phẩm không lỗi dự đoán trong 120 sản phẩm là (sản phẩm)
Số sản phẩm đúng 1 lỗi dự đoán là (sản phẩm)
Số sản phẩm nhiều hơn 1 lỗi dự đoán là (sản phẩm)

Vậy , , ; dự đoán trong 120 sản phẩm có khoảng 74 sản phẩm không lỗi, 42 sản phẩm đúng 1 lỗi, 4 sản phẩm nhiều hơn 1 lỗi.

2Cách 2. Đặt ẩn số lượng cần dự đoán rồi giải phương trình

Định hướng. Với mỗi biến cố ở câu b), gọi số sản phẩm cần dự đoán là một ẩn rồi lập tỉ lệ bằng xác suất đã ước lượng ở câu a).

Gọi là số sản phẩm không lỗi trong 120 sản phẩm:
Gọi là số sản phẩm đúng 1 lỗi:
Gọi là số sản phẩm nhiều hơn 1 lỗi:

Vậy kết quả trùng Cách 1: khoảng 74, 42 và 4 sản phẩm tương ứng.

3Cách 3. Kiểm tra chéo bằng tổng ba nhóm phải bằng 120

Định hướng. Sau khi có ba số dự đoán đã làm tròn, cộng lại và đối chiếu với tổng số 120 sản phẩm để kiểm tra tính hợp lí.

Tổng ba xác suất là , hợp lí vì đây là ba biến cố đầy đủ và rời nhau
Tổng ba số dự đoán đã làm tròn là , đúng bằng tổng số sản phẩm kiểm tra

Vậy bộ ba dự đoán , , vừa khớp tính toán vừa khớp kiểm tra tổng, xác nhận kết quả đúng.

Nhận xét. Khi làm tròn từng số riêng lẻ, nên cộng lại kiểm tra tổng đúng bằng cỡ mẫu mới để phát hiện sai số làm tròn.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: tính trực tiếp ba xác suất rồi nhân với 120, không cần đặt ẩn hình thức như Cách 2 mà vẫn đủ chặt chẽ.
Đáp số. a) ; ; . b) Dự đoán trong 120 sản phẩm: khoảng 74 sản phẩm không lỗi, 42 sản phẩm đúng 1 lỗi, 4 sản phẩm nhiều hơn 1 lỗi.
Sai lầm thường gặp. Không làm tròn số dự đoán sản phẩm lỗi thành 4 mà để nguyên số thập phân trong đáp số — số sản phẩm phải là số nguyên.
🚀 Mở rộng. Nếu kiểm tra cỡ mẫu tuỳ ý, số sản phẩm không lỗi dự đoán tổng quát là , làm tròn theo cụ thể.
Bài 10 · Luyện tập 4★★★Trang 71— Tính xác suất thực nghiệm từ bảng điểm rồi dự đoán số lượng trên nhóm học sinh khác
Luyện tập 4 (trang 71). Thống kê điểm kiểm tra cuối năm môn Toán của một nhóm 100 học sinh lớp 8 được chọn ngẫu nhiên tại ba lớp của trường Trung học cơ sở X, thu được kết quả như bảng sau:
Điểm: 1; 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9; 10. Số học sinh: 7; 9; 11; 11; 12; 12; 13; 9; 8; 8.
a) Chọn ngẫu nhiên một học sinh của trường X. Hãy tính xác suất thực nghiệm của các biến cố sau: : "Học sinh đó có điểm nhỏ hơn hoặc bằng 5"; : "Học sinh đó có điểm từ 4 đến 9".
b) Hãy dự đoán trong nhóm 80 học sinh lớp 8 chọn ngẫu nhiên từ ba lớp khác của trường X: có bao nhiêu học sinh có số điểm không vượt quá 5 điểm? có bao nhiêu học sinh có số điểm từ 4 đến 9 điểm?
Kiến thức cần nhớ
  • "Nhỏ hơn hoặc bằng " gồm mọi giá trị từ nhỏ nhất tới ; "từ đến " gồm mọi giá trị từ tới , cả hai đầu mút.
  • Dự đoán số lượng trên mẫu cỡ mới bằng , làm tròn đến số nguyên.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho bảng tần số điểm kiểm tra của 100 học sinh, dấu hiệu của dạng tính xác suất thực nghiệm theo khoảng điểm rồi dự đoán cho nhóm 80 học sinh khác — cùng cấu trúc với Ví dụ 4. Hướng an toàn là xác định đúng biên của từng khoảng ("nhỏ hơn hoặc bằng 5" gồm điểm 1 đến 5; "từ 4 đến 9" gồm điểm 4 đến 9) trước khi cộng số học sinh. Bẫy của đề: hai khoảng của và có phần giao (điểm 4 và 5) nên dễ cộng nhầm chung một lần.
1Cách 1. Đếm trực tiếp theo từng khoảng điểm

Định hướng. Cộng số học sinh trong đúng khoảng điểm của từng biến cố, rồi lập tỉ số trên 100.

a) Số học sinh điểm từ 1 đến 5 là , suy ra
Số học sinh điểm từ 4 đến 9 là , suy ra
b) Dự đoán trong 80 học sinh: số điểm không vượt quá 5 là (học sinh)
Số điểm từ 4 đến 9 là (học sinh)

Vậy , ; dự đoán trong 80 học sinh có 40 học sinh điểm không vượt quá 5 và 52 học sinh điểm từ 4 đến 9.

2Cách 2. Dùng biến cố đối cho

Định hướng. Với , tính số học sinh điểm từ 6 đến 10 (biến cố đối) rồi lấy 100 trừ đi; với vẫn đếm trực tiếp vì không có đối đơn giản.

Số học sinh điểm từ 6 đến 10 là , suy ra số học sinh điểm không vượt quá 5 là ,
Số học sinh điểm từ 4 đến 9 vẫn tính trực tiếp: ,
Dự đoán 80 học sinh: và

Vậy kết quả trùng Cách 1: 40 và 52 học sinh.

3Cách 3. Kiểm tra chéo bằng phần giao và phần bù của hai biến cố

Định hướng. Nhận xét phần giao của và là điểm 4, 5; dùng nguyên lí cộng để kiểm tra lại tổng số học sinh của cả hai nhóm.

Phần giao của (điểm 1–5) và (điểm 4–9) là điểm 4, 5, có số học sinh
Số học sinh thuộc hoặc (điểm 1–9) là , đúng bằng trừ số học sinh điểm 10 là :
Kiểm tra khớp, nên và là đúng

Vậy hai xác suất đã tính ở Cách 1 được xác nhận đúng; dự đoán 80 học sinh vẫn là 40 và 52 học sinh.

Nhận xét. Dùng nguyên lí cộng để kiểm tra chéo là cách phát hiện sai sót hiệu quả khi hai biến cố có phần giao nhau.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: cộng trực tiếp đúng khoảng điểm của từng biến cố, không cần thêm bước biến cố đối hay kiểm tra phần giao.
Đáp số. a) ; . b) Dự đoán trong 80 học sinh: 40 học sinh điểm không vượt quá 5, 52 học sinh điểm từ 4 đến 9.
Sai lầm thường gặp. Đếm khoảng "từ 4 đến 9" mà bỏ sót điểm 9 hoặc cộng nhầm cả điểm 10, dẫn tới sai lệch khỏi .
🚀 Mở rộng. Nếu đổi khoảng của thành "từ 4 đến 10" (thêm điểm 10) thì mới là , khác hẳn kết quả bài này.
Bài 11 · Bài 8.8★★Trang 71— Tính xác suất thực nghiệm của hai biến cố rời nhau và đầy đủ từ một thí nghiệm tung vật
Bài 8.8 (trang 71). Tung một chiếc kẹp giấy 145 lần xuống sàn nhà lát gạch đá hoa hình vuông. Quan sát thấy có 113 lần chiếc kẹp nằm hoàn toàn bên trong hình vuông và 32 lần chiếc kẹp nằm trên cạnh hình vuông. Tính xác suất thực nghiệm của các biến cố sau: a) : "Chiếc kẹp giấy nằm hoàn toàn trong hình vuông"; b) : "Chiếc kẹp giấy nằm trên cạnh của hình vuông".
Kiến thức cần nhớ
  • Với hai biến cố rời nhau và đầy đủ trong cùng một phép thử, tổng hai xác suất thực nghiệm luôn bằng 1.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho số lần của hai kết quả ("nằm trong" và "nằm trên cạnh"), dấu hiệu của dạng tính xác suất thực nghiệm trực tiếp cho từng biến cố trên cùng một phép thử. Hướng an toàn là lập đúng hai tỉ số trên tổng số lần tung là 145. Bẫy của đề: cộng nhầm 113 và 32 với con số khác 145 nếu không kiểm tra kĩ đề.
1Cách 1. Lập tỉ số trực tiếp cho từng biến cố

Định hướng. Lập tỉ số giữa số lần mỗi biến cố xảy ra và tổng số 145 lần tung.

a) Xác suất thực nghiệm của là
b) Xác suất thực nghiệm của là

Vậy và .

2Cách 2. Tính qua biến cố đối của

Định hướng. Vì kẹp giấy chỉ có hai khả năng (trong hình vuông hoặc trên cạnh), là biến cố đối của nên dùng tổng xác suất bằng 1.

Kiểm tra tổng số lần: , đúng bằng tổng số lần tung nên , là hai biến cố đối nhau

Vậy , khớp Cách 1.

3Cách 3. Đổi cả hai xác suất sang phần trăm để kiểm tra tổng

Định hướng. Đổi hai tỉ số sang phần trăm rồi cộng lại, phải ra đúng 100% vì hai biến cố đầy đủ.



Tổng:

Vậy hai kết quả và được xác nhận đúng vì tổng bằng .

Nhận xét. Kiểm tra tổng phần trăm bằng 100% là cách soát lỗi nhanh cho các bài có đúng hai biến cố đối nhau.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: lập hai tỉ số trực tiếp, không cần thêm bước kiểm tra tổng nếu đã chắc chắn số liệu đề cho khớp.
Đáp số. ; .
Sai lầm thường gặp. Lấy nhầm mẫu số là nhưng lại chia cho hoặc cho cả hai biến cố, quên đổi tử số tương ứng.
🚀 Mở rộng. Nếu tung thêm 55 lần nữa và có 40 lần nằm trong, 15 lần nằm trên cạnh, thì xác suất thực nghiệm mới trên tổng lần là .
Bài 12 · Bài 8.9★★Trang 71— Tính xác suất thực nghiệm của ba biến cố từ bảng tần số theo ngày, có một biến cố gộp nhiều cột
Bài 8.9 (trang 71). Một nhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm tại một nhà máy trong 20 ngày rồi ghi lại số phế phẩm của nhà máy mỗi ngày và thu được kết quả như sau:
Số phế phẩm: 0; 1; 2; 3; nhiều hơn hoặc bằng 4. Số ngày: 14; 3; 1; 1; 1.
Tính xác suất thực nghiệm của các biến cố sau: a) : "Trong một ngày nhà máy đó không có phế phẩm"; b) : "Trong một ngày nhà máy đó chỉ có 1 phế phẩm"; c) : "Trong một ngày nhà máy đó có ít nhất 2 phế phẩm".
Kiến thức cần nhớ
  • "Ít nhất 2" gồm mọi giá trị từ 2 trở lên, kể cả nhóm "nhiều hơn hoặc bằng 4" đã gộp sẵn trong bảng.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho bảng tần số 5 cột nhưng chỉ hỏi ba biến cố, trong đó gộp 3 cột cuối — dấu hiệu của dạng phải xác định đúng những cột nào thuộc về biến cố "ít nhất 2". Hướng an toàn là liệt kê rõ cột 2, 3, và "từ 4 trở lên" đều thuộc trước khi cộng. Bẫy của đề: quên cộng cột "nhiều hơn hoặc bằng 4" vào vì tưởng chỉ có 2 và 3 phế phẩm mới tính.
1Cách 1. Đếm trực tiếp từng biến cố trên 20 ngày

Định hướng. Xác định đúng cột ứng với mỗi biến cố rồi lập tỉ số trên tổng 20 ngày.

a) Số ngày không có phế phẩm là 14,
b) Số ngày có đúng 1 phế phẩm là 3,
c) Số ngày có ít nhất 2 phế phẩm là ,

Vậy , , .

2Cách 2. Tính qua biến cố đối "nhiều nhất 1 phế phẩm"

Định hướng. ("ít nhất 2") là biến cố đối của "nhiều nhất 1" (tức hợp ), tính qua phần bù.

Số ngày nhiều nhất 1 phế phẩm là
Số ngày ít nhất 2 phế phẩm là

Vậy , khớp Cách 1; và giữ nguyên như Cách 1.

3Cách 3. Kiểm tra tổng bốn nhóm (0, 1, 2, và từ 3 trở lên) bằng 1

Định hướng. Gộp lại thành đúng ba nhóm mà đề hỏi (, , ) và kiểm tra tổng ba xác suất phải bằng 1 vì đây là ba biến cố đầy đủ, rời nhau.

Vậy ba xác suất ; ; được xác nhận đúng vì tổng vừa đúng bằng 1.

Nhận xét. , , vừa khéo là ba biến cố đầy đủ và rời nhau của cùng phép thử, nên kiểm tra tổng bằng 1 là cách soát nhanh nhất.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: đếm trực tiếp từng cột theo đúng biến cố, đơn giản và ít khả năng sai vì bảng chỉ có 5 cột.
Đáp số. ; ; .
Sai lầm thường gặp. Tính ("ít nhất 2") mà chỉ cộng cột "2" và "3", quên cộng cả cột "nhiều hơn hoặc bằng 4", ra kết quả sai thay vì .
🚀 Mở rộng. Nếu nhà máy cải tiến quy trình và 20 ngày tiếp theo có 17 ngày không phế phẩm, xác suất thực nghiệm mới của trên tổng ngày sẽ là , cao hơn hẳn ban đầu.
Bài 13 · Bài 8.10★★Trang 72— Tính xác suất thực nghiệm theo khoảng thời gian, có đổi đơn vị phút sang giây
Bài 8.10 (trang 72). Thống kê thời gian của 78 chương trình quảng cáo trên Đài truyền hình tỉnh X cho kết quả như sau:
Thời gian quảng cáo trong khoảng: từ 0 đến 19 giây; từ 20 đến 39 giây; từ 40 đến 59 giây; trên 60 giây.
Số chương trình quảng cáo tương ứng: 17; 38; 19; 4.
Tính xác suất thực nghiệm của các biến cố sau: a) : "Chương trình quảng cáo của Đài truyền hình tỉnh X kéo dài từ 20 đến 39 giây"; b) : "Chương trình quảng cáo của Đài truyền hình tỉnh X kéo dài trên 1 phút"; c) : "Chương trình quảng cáo của Đài truyền hình tỉnh X kéo dài trong khoảng từ 20 đến 59 giây".
Kiến thức cần nhớ
  • phút giây, phải đổi đơn vị trước khi đối chiếu với bảng tần số tính bằng giây.
  • là hợp của hai cột liền nhau (20–39 giây và 40–59 giây) nên cộng trực tiếp số chương trình của hai cột đó.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho bảng bốn khoảng thời gian tính bằng giây nhưng biến cố lại hỏi theo "phút" — dấu hiệu cần đổi đơn vị trước khi đối chiếu với bảng. Hướng an toàn là đổi "trên 1 phút" thành "trên 60 giây" để khớp đúng cột cuối của bảng. Bẫy của đề: nhầm "trên 1 phút" với cột "từ 40 đến 59 giây" vì không đổi đơn vị.
1Cách 1. Đối chiếu đúng cột rồi lập tỉ số trực tiếp

Định hướng. Đổi "trên 1 phút" thành "trên 60 giây" để khớp cột cuối, rồi lập ba tỉ số trên tổng 78.

a) Số chương trình từ 20 đến 39 giây là 38,
b) "Trên 1 phút" tức trên 60 giây, số chương trình là 4,
c) Số chương trình từ 20 đến 59 giây là ,

Vậy , , .

2Cách 2. Tính qua biến cố đối (dưới 20 giây hoặc trên 60 giây)

Định hướng. là biến cố đối của "dưới 20 giây hoặc trên 60 giây", tính qua phần bù để kiểm tra chéo.

Số chương trình dưới 20 giây hoặc trên 60 giây là
Số chương trình từ 20 đến 59 giây là

Vậy , khớp Cách 1; và giữ nguyên như Cách 1.

3Cách 3. Đổi cả bốn cột sang phần trăm rồi kiểm tra tổng

Định hướng. Đổi bốn cột gốc sang phần trăm, cộng lại phải bằng 100%, từ đó suy ra , , theo phần trăm.

; ; ;
Tổng:
; ;

Vậy , , , khớp hai cách trên.

Nhận xét. Kiểm tra tổng bốn phần trăm gốc bằng 100% giúp phát hiện ngay nếu đọc nhầm số liệu một cột nào đó.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: đổi đơn vị phút sang giây trước rồi lập tỉ số trực tiếp, không cần thêm bước kiểm tra tổng phần trăm.
Đáp số. ; ; .
Sai lầm thường gặp. Không đổi "trên 1 phút" ra giây, nhầm lấy cột "từ 40 đến 59 giây" (19 chương trình) làm thay vì đúng cột "trên 60 giây" (4 chương trình).
🚀 Mở rộng. Nếu đài truyền hình thêm 22 chương trình mới mà 20 chương trình trong đó kéo dài trên 60 giây, thì mới trên tổng chương trình là , tăng mạnh so với ban đầu.
Bài 14 · Bài 8.11★★★Trang 72— Ước lượng và so sánh xác suất tử vong giữa hai bệnh dịch từ hai bộ số liệu độc lập
Bài 8.11 (trang 72). Thống kê về số ca nhiễm bệnh và số ca tử vong của bệnh SARS và bệnh EBOLA được kết quả như sau:
SARS (11–2002 đến 7–2003): 8 437 người nhiễm, 813 người tử vong.
EBOLA (2014–2016): 34 453 người nhiễm, 15 158 người tử vong.
(Theo www.worldometers.info)
Căn cứ vào bảng thống kê trên, hãy ước lượng xác suất một người tử vong khi nhiễm bệnh SARS, bệnh EBOLA.
Kiến thức cần nhớ
  • Với hai bộ dữ liệu độc lập, phải tính hai xác suất thực nghiệm RIÊNG BIỆT rồi mới so sánh, không gộp chung tử số và mẫu số của hai nhóm.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho hai bộ số liệu độc lập (SARS và EBOLA), dấu hiệu của dạng phải tính riêng hai xác suất thực nghiệm rồi mới so sánh, KHÔNG được gộp chung số liệu hai bệnh lại. Hướng an toàn là lập đúng cặp (số tử vong, số nhiễm) cho từng bệnh trước khi chia. Bẫy của đề: gộp nhầm tổng số nhiễm và tổng số tử vong của cả hai bệnh thành một tỉ số chung, làm mất ý nghĩa so sánh riêng từng bệnh.
1Cách 1. Tính riêng từng bệnh rồi so sánh

Định hướng. Lập tỉ số số người tử vong trên số người nhiễm cho từng bệnh, giữ nguyên tách biệt hai bộ số liệu.

Xác suất tử vong khi nhiễm SARS là , tức khoảng
Xác suất tử vong khi nhiễm EBOLA là , tức khoảng

Vậy xác suất tử vong khi nhiễm SARS được ước lượng khoảng , khi nhiễm EBOLA khoảng — EBOLA nguy hiểm hơn SARS rất nhiều lần theo số liệu này.

2Cách 2. Quy về đơn vị trên 1 000 người nhiễm để so sánh trực quan

Định hướng. Đổi cả hai tỉ số về dạng "trên 1 000 người nhiễm có bao nhiêu người tử vong" để so sánh trực tiếp bằng số nguyên gần đúng.

SARS: người tử vong trên 1 000 người nhiễm
EBOLA: người tử vong trên 1 000 người nhiễm

Vậy cứ 1 000 người nhiễm SARS có khoảng 96 người tử vong, còn với EBOLA là khoảng 440 người — khớp tỉ lệ phần trăm ở Cách 1.

3Cách 3. Ước lượng bằng phân số gần đúng rồi làm tròn hệ số

Định hướng. Làm tròn số nhiễm và tử vong về hàng nghìn gần nhất để ước lượng nhanh, rồi so sánh với kết quả chính xác.

SARS: làm tròn và , tỉ số gần đúng , gần với
EBOLA: làm tròn và , tỉ số gần đúng , gần với

Vậy ước lượng nhanh vẫn cho cùng kết luận: EBOLA có xác suất tử vong cao hơn SARS rất nhiều, khớp hai cách trên.

Nhận xét. Làm tròn số liệu giúp kiểm tra nhanh bằng nhẩm nhưng chỉ nên dùng để đối chiếu, đáp số chính thức vẫn phải lấy số liệu gốc.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: tính riêng hai tỉ số bằng máy tính cầm tay, không cần bước quy đổi hay làm tròn trung gian.
Đáp số. Xác suất tử vong khi nhiễm SARS được ước lượng khoảng ; khi nhiễm EBOLA khoảng .
Sai lầm thường gặp. Gộp chung số liệu: tính làm "xác suất tử vong chung" — sai vì đề yêu cầu ước lượng RIÊNG cho từng bệnh, gộp chung sẽ mất khả năng so sánh mức độ nguy hiểm của từng bệnh.
🚀 Mở rộng. Nếu có thêm số liệu một bệnh dịch thứ ba, chỉ cần lặp lại đúng quy trình lập tỉ số giữa số tử vong và số nhiễm cho bệnh đó rồi xếp hạng cả ba theo mức độ nguy hiểm.
Bài 15 · Bài 8.12★★Trang 72— Ước lượng xác suất từ mẫu kiểm tra rồi dự đoán số lượng "không lỗi" trên lô hàng lớn hơn
Bài 8.12 (trang 72). Một nhà máy sản xuất máy điều hoà tiến hành kiểm tra chất lượng của 600 chiếc điều hoà được sản xuất và thấy có 5 chiếc bị lỗi. Trong một lô hàng có 1 500 chiếc điều hoà, hãy dự đoán xem có khoảng bao nhiêu chiếc điều hoà không bị lỗi.
Kiến thức cần nhớ
  • Muốn dự đoán số lượng "không xảy ra lỗi" trên mẫu mới, phải dùng xác suất của biến cố ĐỐI (không lỗi), không dùng trực tiếp xác suất lỗi.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho số lượng kiểm tra và số lượng lỗi, nhưng câu hỏi lại yêu cầu dự đoán số chiếc KHÔNG lỗi trên lô hàng khác — dấu hiệu cần dùng biến cố đối trước khi nhân với cỡ lô hàng mới. Hướng an toàn là tính số chiếc không lỗi trong 600 chiếc đã kiểm tra trước, từ đó suy ra xác suất không lỗi rồi mới nhân với 1 500. Bẫy của đề: nhân nhầm xác suất LỖI (chứ không phải không lỗi) với 1 500, ra kết quả ngược nghĩa với câu hỏi.
1Cách 1. Tính số không lỗi trong 600 chiếc rồi lập tỉ số

Định hướng. Lấy 600 trừ đi số lỗi để có số không lỗi, lập xác suất thực nghiệm rồi nhân với 1 500.

Số chiếc không lỗi trong 600 chiếc kiểm tra là
Xác suất thực nghiệm của "không lỗi" là
Số chiếc không lỗi dự đoán trong lô chiếc là

Vậy dự đoán trong lô hàng 1 500 chiếc có khoảng 1 488 chiếc điều hoà không bị lỗi.

2Cách 2. Tính qua xác suất lỗi rồi lấy phần bù trên lô hàng mới

Định hướng. Tính xác suất lỗi trước, dự đoán số lỗi trên 1 500 chiếc, rồi lấy 1 500 trừ đi để ra số không lỗi.

Xác suất thực nghiệm bị lỗi là
Số chiếc lỗi dự đoán trong 1 500 chiếc là
Số chiếc không lỗi dự đoán là

Vậy kết quả trùng Cách 1: khoảng 1 488 chiếc không lỗi (tương ứng khoảng 12 hoặc 13 chiếc lỗi).

3Cách 3. Đặt ẩn số chiếc không lỗi rồi lập tỉ lệ

Định hướng. Gọi là số chiếc không lỗi trong lô 1 500 chiếc, lập tỉ lệ bằng xác suất thực nghiệm đã ước lượng từ 600 chiếc.

Gọi là số chiếc không lỗi trong 1 500 chiếc
Ta có
Suy ra

Vậy chiếc, khớp hai cách trên.

Nhận xét. Kết quả nằm đúng giữa hai số nguyên nên có thể chấp nhận làm tròn thành 1 487 hoặc 1 488 chiếc tuỳ quy ước làm tròn.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: tính trực tiếp xác suất KHÔNG lỗi ngay từ đầu, tránh phải làm thêm bước phần bù như Cách 2.
Đáp số. Dự đoán trong lô hàng 1 500 chiếc có khoảng 1 488 chiếc điều hoà không bị lỗi (số chiếc lỗi dự đoán khoảng 12 đến 13 chiếc).
Sai lầm thường gặp. Nhân trực tiếp xác suất LỖI với 1 500 rồi ghi luôn đó là số điều hoà KHÔNG lỗi — nhầm giữa biến cố lỗi và biến cố đối của nó.
🚀 Mở rộng. Nếu lô hàng có chiếc bất kì, số chiếc không lỗi dự đoán tổng quát là .
Bài 16 · Bài 8.13★★★Trang 72— Dùng xác suất thực nghiệm của người gieo trước để dự đoán kết quả của người gieo sau trên cùng một phép thử
Bài 8.13 (trang 72–73). Hai bạn Mai và Việt lần lượt thực hiện việc gieo đồng thời hai con xúc xắc và ở mỗi lần gieo sẽ nhận được số điểm bằng tổng số chấm xuất hiện trên hai con xúc xắc. Mai được gieo 100 lần và Việt được gieo 120 lần. Mai gieo trước và ghi lại kết quả của mình như sau:
Số điểm: 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9; 10; 11; 12. Số lần: 3; 5; 9; 10; 14; 16; 13; 11; 8; 7; 4.
Trước khi Việt gieo, hãy dự đoán xem có bao nhiêu lần số điểm của Việt nhận được là: a) Một số chẵn; b) Một số nguyên tố; c) Một số lớn hơn 7.
Kiến thức cần nhớ
  • Số nguyên tố trong đoạn 2 đến 12 là 2; 3; 5; 7; 11 — chú ý số 2 vừa chẵn vừa nguyên tố.
  • Dự đoán số lần trên lượt gieo mới bằng , lấy từ dữ liệu đã có của người gieo trước.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho bảng kết quả 100 lần gieo của Mai và yêu cầu dự đoán cho 120 lần gieo của Việt — dấu hiệu của dạng dùng xác suất thực nghiệm từ dữ liệu có sẵn (Mai) để ước lượng cho phép thử tương lai (Việt) cùng điều kiện. Hướng an toàn là xác định đúng tập số điểm thoả từng tính chất (chẵn, nguyên tố, lớn hơn 7) trước khi cộng số lần của Mai. Bẫy của đề: số 2 vừa là số chẵn vừa là số nguyên tố, dễ quên khi liệt kê số nguyên tố; số 9 không phải số nguyên tố dù là số lẻ.
1Cách 1. Đếm trực tiếp từng tính chất trên bảng của Mai

Định hướng. Liệt kê các số điểm thoả từng tính chất, cộng số lần tương ứng của Mai, lập xác suất thực nghiệm rồi nhân với 120.

a) Số điểm chẵn là 2, 4, 6, 8, 10, 12, số lần là ,
Dự đoán cho Việt: (lần)
b) Số điểm nguyên tố là 2, 3, 5, 7, 11, số lần là ,
Dự đoán cho Việt: (lần)
c) Số điểm lớn hơn 7 là 8, 9, 10, 11, 12, số lần là ,
Dự đoán cho Việt: (lần)

Vậy dự đoán trong 120 lần gieo của Việt có khoảng 61 lần số điểm chẵn, 49 lần số điểm nguyên tố, 52 lần số điểm lớn hơn 7.

2Cách 2. Tính qua biến cố đối cho câu a) và c)

Định hướng. Với "chẵn" dùng đối là "lẻ", với "lớn hơn 7" dùng đối là "nhỏ hơn hoặc bằng 7", tính phần bù để kiểm tra chéo; câu b) vẫn đếm trực tiếp.

a) Số điểm lẻ là 3, 5, 7, 9, 11, số lần là , suy ra số lần chẵn là , , dự đoán
c) Số điểm nhỏ hơn hoặc bằng 7 là 2 đến 7, số lần là , suy ra số lần lớn hơn 7 là , , dự đoán

Vậy kết quả trùng Cách 1: khoảng 61 lần chẵn và 52 lần lớn hơn 7; câu b) vẫn là 49 lần nguyên tố.

3Cách 3. Kiểm tra chéo bằng tổng các nhóm không giao nhau

Định hướng. Chia 11 giá trị điểm thành các nhóm không giao nhau theo tính chẵn/lẻ và theo mốc 7 để kiểm tra tổng đúng bằng 100.

Nhóm chẵn (51 lần) và nhóm lẻ (49 lần): tổng , đúng
Nhóm nhỏ hơn hoặc bằng 7 (57 lần) và nhóm lớn hơn 7 (43 lần): tổng , đúng
Vậy các số 51, 49, 41, 43 đã đếm ở trên đều nhất quán với tổng 100 lần gieo của Mai

Vậy ba dự đoán cho Việt là khoảng 61 lần chẵn, 49 lần nguyên tố, 52 lần lớn hơn 7 — được xác nhận đúng qua phép kiểm tra tổng.

Nhận xét. Dùng xác suất thực nghiệm của người gieo trước để dự đoán người gieo sau chỉ hợp lí khi hai người dùng CÙNG một cặp xúc xắc và cùng điều kiện gieo.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Đi thi dùng Cách 1: đếm trực tiếp theo từng tính chất rồi nhân với 120, không cần thêm bước biến cố đối vì bảng chỉ có 11 cột, đếm trực tiếp đã đủ nhanh.
Đáp số. Dự đoán trong 120 lần gieo của Việt: khoảng 61 lần số điểm chẵn, khoảng 49 lần số điểm nguyên tố, khoảng 52 lần số điểm lớn hơn 7.
Sai lầm thường gặp. Liệt kê số nguyên tố thiếu số 2 (vì lầm tưởng số chẵn không thể là số nguyên tố) hoặc thừa số 9 (nhầm số lẻ với số nguyên tố), làm sai lệch xác suất câu b).
🚀 Mở rộng. Nếu đổi câu hỏi thành "số điểm là bội của 3" (tức 3, 6, 9, 12) thì số lần của Mai là , và dự đoán cho Việt trong 120 lần là lần.

🎯 Học tiếp

📚 Cùng chương: Chương VIII. Mở đầu về tính xác suất của biến cố