Bài 1 · HĐ1★★Trang 80— Chứng minh bốn điểm cùng thuộc một đường tròn nhờ góc vuông nhìn một đoạn thẳng cố định
HĐ1 (trang 80). Cho tứ giác ABCD có A=C=90° (H.9.28). Hãy giải thích vì sao bốn đỉnh của tứ giác ABCD cùng nằm trên một đường tròn có tâm là trung điểm O của đoạn thẳng BD.
Kiến thức cần nhớ
Trong tam giác vuông, đường trung tuyến ứng với cạnh huyền bằng nửa cạnh huyền.
Định lí Thalès đảo: nếu một điểm nhìn một đoạn thẳng cố định dưới góc 90° thì điểm đó nằm trên đường tròn nhận đoạn thẳng đó làm đường kính.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho hai góc vuông cùng nhìn chung một đoạn thẳng BD — đây đúng là dấu hiệu của định lí Thalès đảo (góc nội tiếp chắn nửa đường tròn). Vì cả A và C đều nhìn BD dưới góc 90° nên cả hai đều phải cách trung điểm O của BD đúng bằng 2BD; không cần biết thêm số đo cạnh nào khác. Bẫy hay gặp là chỉ xét một trong hai tam giác vuông rồi vội kết luận, quên chứng minh riêng cho tam giác vuông còn lại.
1Cách 1. Dùng đường trung tuyến ứng với cạnh huyền trong tam giác vuông
Định hướng. Tam giác ABD vuông tại A và tam giác CBD vuông tại C đều nhận BD làm cạnh huyền, nên trung tuyến ứng với cạnh huyền của mỗi tam giác đều bằng nửa cạnh huyền.
Xét tam giác ABD vuông tại A, gọi O là trung điểm BD; AO là đường trung tuyến ứng với cạnh huyền BD nên AO=2BD. Xét tam giác CBD vuông tại C, CO là đường trung tuyến ứng với cạnh huyền BD nên CO=2BD. Lại có OB=OD=2BD (vì O là trung điểm BD). Do đó OA=OB=OC=OD=2BD.
Vậy bốn điểm A,B,C,D cách đều điểm O nên cùng nằm trên đường tròn tâm O bán kính 2BD.
2Cách 2. Dùng định lí Thalès đảo (góc nội tiếp chắn nửa đường tròn)
Định hướng. Một điểm nhìn đoạn thẳng cố định dưới góc vuông thì nằm trên đường tròn đường kính là đoạn thẳng đó — áp dụng trực tiếp cho cả A và C với đoạn BD.
Vì BAD=90° nên A nhìn đoạn BD dưới một góc vuông, suy ra A thuộc đường tròn đường kính BD. Vì BCD=90° nên C nhìn đoạn BD dưới một góc vuông, suy ra C thuộc đường tròn đường kính BD. Đường tròn đường kính BD có tâm là trung điểm O của BD, bán kính 2BD, và hiển nhiên chứa cả B,D.
Vậy cả bốn điểm A,B,C,D đều thuộc đường tròn tâm O bán kính 2BD.
3Cách 3. Dùng toạ độ
Định hướng. Đặt hệ trục sao cho B,D nằm trên trục hoành, biểu diễn điều kiện góc vuông tại A, C bằng tích vô hướng rồi tính khoảng cách tới trung điểm O.
Đặt B(0;0), D(2a;0) (với 2a=BD), khi đó O(a;0). Gọi A(x;y); vì BAD=90° nên AB⋅AD=0, tức (0−x)(2a−x)+(0−y)(0−y)=0⇔x2+y2−2ax=0. OA2=(x−a)2+y2=x2−2ax+a2+y2=(x2+y2−2ax)+a2=0+a2=a2. Do đó OA=a=2BD. Hoàn toàn tương tự với C(u;v) và BCD=90° ta cũng được OC=a=2BD.
VậyOA=OB=OC=OD=a=2BD, nên bốn điểm cùng nằm trên đường tròn tâm O.
Nhận xét. Cách 1 và Cách 2 gọn nhất vì dùng ngay kiến thức tam giác vuông đã học; Cách 3 tổng quát hơn, dùng được cả khi đề cho toạ độ cụ thể.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1 hoặc Cách 2 (thực chất là một): chỉ cần nhắc tính chất trung tuyến ứng cạnh huyền là xong hai dòng, không cần dựng toạ độ.
Đáp số.OA=OB=OC=OD=2BD nên A,B,C,D cùng thuộc đường tròn tâm O (trung điểm BD) bán kính 2BD.
Sai lầm thường gặp.Nhiều học sinh chỉ chứng minh cho một trong hai góc vuông (ví dụ chỉ xét A) rồi kết luận cả bốn điểm đồng viên — thiếu bước chứng minh riêng cho C, trong khi hai tam giác vuông ABD và CBD là hai tam giác khác nhau, cần lập luận độc lập cho từng tam giác.
🚀 Mở rộng.Tổng quát hoá: mọi điểm M nhìn đoạn BD cố định dưới góc 90° đều nằm trên đường tròn đường kính BD — đây chính là quỹ tích cơ bản dùng lại nhiều lần ở các bài sau (ví dụ Luyện tập 1, HĐ4 của chính bài này).
Bài 2 · HĐ2★★Trang 80— Chứng minh bốn đường trung trực của tứ giác nội tiếp đồng quy
HĐ2 (trang 80). Trên đường tròn (O), lấy các điểm A,B,C,D sao cho ABCD là tứ giác lồi (H.9.29). Các đường trung trực của các cạnh AB,BC,CD,DA có đồng quy hay không?
Kiến thức cần nhớ
Đường trung trực của một dây cung của đường tròn luôn đi qua tâm đường tròn đó.
Mọi điểm trên đường tròn cách đều tâm một khoảng bằng bán kính.
🧠 Phân tích tư duy
Bốn cạnh AB,BC,CD,DA đều là dây cung của cùng một đường tròn (O) — dấu hiệu để nghĩ tới tính chất "trung trực của dây cung luôn đi qua tâm". Vì cả bốn cạnh đều là dây của cùng một đường tròn nên cả bốn trung trực đều đi qua cùng một điểm là tâm O, không cần dựng hình hay đo đạc gì thêm.
1Cách 1. Dùng tính chất trung trực dây cung đi qua tâm
Định hướng. Cả bốn cạnh đều là dây của (O) nên áp dụng trực tiếp tính chất "trung trực một dây cung đi qua tâm" cho từng cạnh.
Vì A,B,C,D∈(O) nên OA=OB=OC=OD=R. OA=OB nên O thuộc đường trung trực của AB. OB=OC nên O thuộc đường trung trực của BC. OC=OD nên O thuộc đường trung trực của CD. OD=OA nên O thuộc đường trung trực của DA.
Vậy bốn đường trung trực của AB,BC,CD,DA cùng đi qua điểm O, tức chúng đồng quy tại tâm O của đường tròn.
2Cách 2. Dùng tính duy nhất của tâm đường tròn ngoại tiếp tam giác
Định hướng. Trung trực của AB và BC chắc chắn cắt nhau tại một điểm — điểm đó chính là tâm đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC, mà đường tròn đó chính là (O) đã cho.
Gọi I là giao điểm của đường trung trực AB và đường trung trực BC; khi đó IA=IB=IC, tức I là tâm đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC. Vì ba điểm A,B,C không thẳng hàng nên đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC là duy nhất; mà A,B,C đã cùng thuộc (O) nên đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC chính là (O), suy ra I≡O. Vì D∈(O) nên OD=OA, suy ra O cũng thuộc đường trung trực của DA; tương tự O thuộc đường trung trực của CD.
Vậy cả bốn đường trung trực đều đi qua O, tức đồng quy tại O.
3Cách 3. Dùng vectơ toạ độ
Định hướng. Chọn O làm gốc toạ độ; mọi điểm trên (O) đều có cùng khoảng cách R tới gốc, nên gốc tự động cách đều hai đầu mút của bất kì dây nào.
Chọn hệ trục với gốc tại O; vì A,B,C,D∈(O;R) nên ∣OA∣=∣OB∣=∣OC∣=∣OD∣=R. Do ∣OA∣=∣OB∣ nên O cách đều A,B, tức O thuộc trung trực của AB. Lí luận tương tự cho BC, CD, DA.
Vậy gốc toạ độ O thuộc cả bốn đường trung trực, nên chúng đồng quy tại O.
Nhận xét. Cả ba cách đều quy về cùng một sự thật: tâm của đường tròn ngoại tiếp một tứ giác chính là điểm đồng quy của bốn đường trung trực các cạnh.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần một dòng "OA=OB=OC=OD=R" là suy ra ngay cả bốn trung trực đi qua O, không cần lập luận về tính duy nhất.
Đáp số.Có, bốn đường trung trực của AB,BC,CD,DA đồng quy tại tâm O của đường tròn (O).
Sai lầm thường gặp.Nhầm tưởng phải dựng hình rồi đo đạc để "thấy" các trung trực cắt nhau tại một điểm — thực ra chỉ cần lập luận bằng tính chất "trung trực dây cung đi qua tâm", không cần vẽ chính xác tuyệt đối mới kết luận được.
🚀 Mở rộng.Đây chính là chiều đảo của HĐ2 dùng ở Thử thách nhỏ 1 (trang 82): nếu biết trước ba đường trung trực của tam giác đồng quy tại một điểm thì điểm đó là tâm đường tròn ngoại tiếp, từ đó suy ngược ra tứ giác nội tiếp.
Bài 3 · Ví dụ 1★Trang 80— Nhận biết tứ giác nội tiếp bằng định nghĩa
Ví dụ 1 (trang 80). Trong các hình sau (H.9.30), hình nào vẽ một tứ giác nội tiếp một đường tròn?
Kiến thức cần nhớ
Tứ giác nội tiếp đường tròn (O) là tứ giác có cả bốn đỉnh cùng nằm trên (O).
🧠 Phân tích tư duy
Định nghĩa tứ giác nội tiếp chỉ đòi hỏi đúng một điều kiện: cả bốn đỉnh cùng nằm trên đường tròn. Dấu hiệu để loại nhanh hai hình sai là nhìn đỉnh thứ tư: nếu đỉnh đó lệch hẳn ra ngoài hoặc lọt hẳn vào trong đường tròn (không chạm vào đường tròn) thì tứ giác không nội tiếp, dù ba đỉnh kia vẫn nằm đúng trên đường tròn.
1Cách 1. Quan sát trực tiếp theo định nghĩa
Định hướng. Với mỗi hình, kiểm tra từng đỉnh có nằm đúng trên đường tròn hay không.
Hình a): ba đỉnh nằm trên đường tròn, đỉnh còn lại nằm ở phía ngoài đường tròn — không phải tứ giác nội tiếp. Hình b): ba đỉnh nằm trên đường tròn, đỉnh còn lại nằm ở phía trong đường tròn — không phải tứ giác nội tiếp. Hình c): cả bốn đỉnh đều nằm đúng trên đường tròn — là tứ giác nội tiếp.
Vậy chỉ có hình c) vẽ một tứ giác nội tiếp một đường tròn.
2Cách 2. Dùng compa kiểm chứng khoảng cách tới tâm
Định hướng. Đặt mũi compa tại tâm, mở độ mở đúng bằng bán kính (khoảng cách tới ba đỉnh đã thấy nằm trên đường tròn), rồi kiểm tra đỉnh còn lại.
Ở hình a): khoảng cách từ tâm tới đỉnh thứ tư lớn hơn bán kính (đỉnh ở ngoài) ⇒ không thoả mãn định nghĩa. Ở hình b): khoảng cách từ tâm tới đỉnh thứ tư nhỏ hơn bán kính (đỉnh ở trong) ⇒ không thoả mãn định nghĩa. Ở hình c): khoảng cách từ tâm tới cả bốn đỉnh đều bằng đúng bán kính ⇒ thoả mãn định nghĩa.
Vậy hình c) là tứ giác nội tiếp; hai hình a), b) không phải.
Nhận xét. Chỉ cần một đỉnh không thuộc đường tròn là đủ để loại cả tứ giác, dù ba đỉnh còn lại vẫn đúng.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi chỉ cần nhìn bằng mắt theo Cách 1: đỉnh nào không chạm đường tròn là loại ngay, không cần dùng compa.
Đáp số.Hình c) vẽ một tứ giác nội tiếp một đường tròn; hình a) và hình b) thì không.
Sai lầm thường gặp.Dễ nhầm rằng chỉ cần "gần" đường tròn là được — thực ra định nghĩa đòi hỏi đỉnh phải nằm ĐÚNG trên đường tròn, sai một chút (trong hoặc ngoài) cũng không thoả mãn.
🚀 Mở rộng.Đây là bước khởi động để hiểu HĐ1, HĐ2: muốn dựng một tứ giác nội tiếp thì phải chọn cả bốn đỉnh cùng trên một đường tròn có sẵn, chứ không phải vẽ tứ giác rồi mới đi tìm đường tròn đi qua đúng cả bốn đỉnh (điều này không phải lúc nào cũng làm được).
Bài 4 · HĐ3★★Trang 81— Đo và tính tổng hai góc đối của một tứ giác nội tiếp
HĐ3 (trang 81). Em hãy đo các góc đối nhau A và C của tứ giác ABCD trong HĐ2 và tính tổng A+C. So sánh kết quả của em với các bạn.
Kiến thức cần nhớ
Góc nội tiếp có số đo bằng nửa số đo cung bị chắn (đã học ở Bài 27).
Hai cung mà hai đầu mút chung của chúng là hai điểm cố định trên một dây thì có tổng số đo bằng 360°.
🧠 Phân tích tư duy
Đề yêu cầu đo đạc thực nghiệm trên một tứ giác nội tiếp cụ thể — dấu hiệu để dự đoán một kết quả không đổi (bất biến) dù tứ giác được vẽ khác đi. Cách an toàn và chính xác hơn việc dùng thước đo góc là dựng toạ độ cụ thể rồi tính bằng vectơ, hoặc dùng ngay số đo cung đã học ở Bài 27 để suy ra kết quả mà không cần đo.
1Cách 1. Dựng toạ độ cụ thể rồi tính bằng vectơ
Định hướng. Chọn một đường tròn cụ thể, đặt bốn điểm A,B,C,D theo đúng thứ tự tứ giác lồi, rồi tính chính xác hai góc A, C bằng công thức góc giữa hai vectơ.
Chọn đường tròn (O;5 cm), lấy A,B,C,D lần lượt ứng với các góc ở tâm 60°,150°,250°,320° so với một tia gốc. Tính được A(2,50;4,33), B(−4,33;2,50), C(−1,71;−4,70), D(3,83;−3,21) (đơn vị cm). Dùng công thức góc giữa hai vectơ AD, AB tại đỉnh A, ta tính được A=DAB≈85°. Dùng công thức góc giữa hai vectơ CB, CD tại đỉnh C, ta tính được C=BCD≈95°. Tổng: A+C≈85°+95°=180°.
Vậy với tứ giác nội tiếp cụ thể này, A+C=180°.
2Cách 2. Đo trực tiếp bằng thước đo góc (thực nghiệm)
Định hướng. Vẽ tứ giác ABCD nội tiếp (O) như Hình 9.29, dùng thước đo góc đo trực tiếp hai góc A, C trên hình đã vẽ.
Đặt thước đo góc tại đỉnh A, đọc số đo A≈85° (sai số vài độ tuỳ nét vẽ). Đặt thước đo góc tại đỉnh C, đọc số đo C≈95°. Cộng lại: A+C≈85°+95°=180°. So sánh với kết quả của các bạn vẽ tứ giác khác: dù hình vẽ khác nhau, tổng đo được luôn xấp xỉ 180°.
Vậy mọi bạn trong lớp đều đo được A+C≈180°, dù tứ giác vẽ khác nhau.
3Cách 3. Dùng số đo cung (không cần đo bằng thước)
Định hướng. Áp dụng ngay kiến thức góc nội tiếp bằng nửa số đo cung bị chắn (Bài 27) để tính thẳng ra góc A, C mà không cần vẽ hay đo.
Bốn điểm B,D chia đường tròn thành hai cung BCD⌢ và BAD⌢, có sđBCD⌢ + sđBAD⌢=360°. Góc A là góc nội tiếp chắn cung BCD⌢ (cung không chứa A) nên A=21sđBCD⌢. Góc C là góc nội tiếp chắn cung BAD⌢ (cung không chứa C) nên C=21sđBAD⌢. Cộng lại: \widehat{A}+\widehat{C}=\dfrac{1}{2}\left(sđBCD⌢+sđ\overset{\frown}{BAD}\right)=\dfrac{1}{2}\cdot 360°=180°.
Vậy luôn có A+C=180°, đúng cho MỌI tứ giác nội tiếp chứ không riêng ví dụ đã đo.
Nhận xét. Cách 3 cho kết quả tổng quát 180° đúng tuyệt đối; Cách 1, Cách 2 chỉ minh hoạ bằng số đo gần đúng trên một hình cụ thể — đây chính là nội dung của định lí sẽ học ngay sau đây.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi (hoặc khi cần chắc chắn) dùng Cách 3: suy luận bằng số đo cung cho kết quả đúng tuyệt đối 180°, không phụ thuộc sai số đo vẽ như Cách 1, Cách 2.
Đáp số.A+C=180° (kết quả không đổi với mọi tứ giác nội tiếp, các bạn trong lớp đo trên hình khác nhau vẫn ra cùng một tổng).
Sai lầm thường gặp.Sai số đo vẽ tay có thể khiến tổng đo được lệch vài độ so với 180° (ví dụ ra 178° hoặc 183°) — đừng vội nghĩ kết luận sai, mà nên hiểu đó là sai số dụng cụ đo, kết quả đúng tuyệt đối luôn là 180° như Cách 3 đã chứng minh bằng số đo cung.
🚀 Mở rộng.Đây chính là nội dung của Định lí (trang 81): trong một tứ giác nội tiếp, tổng số đo hai góc đối nhau luôn bằng 180° — kết quả này dùng lại xuyên suốt cả bài (Ví dụ 2, Luyện tập 1, các bài 9.18–9.21).
Bài 5 · Ví dụ 2★★Trang 81— Tính góc của tứ giác nội tiếp và góc tạo bởi hai cạnh kéo dài
Ví dụ 2 (trang 81). Cho tứ giác ABCD nội tiếp đường tròn (O) như Hình 9.32. Hai đường thẳng AB và DC cắt nhau tại X. Biết rằng DAB=70°, ABC=130°. Tính số đo của các góc BCD và BXC.
Kiến thức cần nhớ
Trong tứ giác nội tiếp, tổng số đo hai góc đối nhau bằng 180°.
Tổng ba góc trong một tam giác bằng 180°; hai góc kề bù có tổng bằng 180°.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho hai góc kề của tứ giác nội tiếp và hỏi góc đối còn lại — dấu hiệu dùng ngay định lí "tổng hai góc đối bằng 180°" vừa học ở HĐ3. Góc BXC nằm ngoài tứ giác, tại giao điểm của hai cạnh AB,DC kéo dài, nên cần thêm một bước: dùng tổng ba góc trong một tam giác chứa đỉnh X, hoặc dùng tính chất góc kề bù với các góc của tứ giác.
1Cách 1. Dùng tam giác AXD chứa đỉnh X (như sách trình bày)
Định hướng. Tính BCD và CDA bằng tính chất tứ giác nội tiếp, rồi dùng tổng ba góc của tam giác AXD để ra BXC.
Vì ABCD nội tiếp (O) nên DAB+BCD=180°. BCD=180°−DAB=180°−70°=110°. Tương tự ABC+CDA=180°. CDA=180°−ABC=180°−130°=50°. Trong tam giác AXD: BXC=AXD=180°−DAB−CDA=180°−70°−50°=60°.
VậyBCD=110° và BXC=60°.
2Cách 2. Dùng tam giác XBC và các góc kề bù
Định hướng. Thay vì đi qua tam giác AXD, tính trực tiếp hai góc XBC, XCB (kề bù với ABC, BCD) rồi dùng tổng ba góc của tam giác XBC.
BCD=180°−DAB=180°−70°=110° (tứ giác nội tiếp, hai góc đối). Vì X,B,A thẳng hàng nên XBC=180°−ABC=180°−130°=50° (hai góc kề bù). Vì X,C,D thẳng hàng nên XCB=180°−BCD=180°−110°=70° (hai góc kề bù). Trong tam giác XBC: BXC=180°−XBC−XCB=180°−50°−70°=60°.
VậyBCD=110°, BXC=60°, trùng khớp với Cách 1.
3Cách 3. Dùng số đo cung (góc có đỉnh ngoài đường tròn)
Định hướng. Đổi hai góc đã cho thành hai cung bị chắn rồi trừ trực tiếp cho nhau — không cần tính từng cung riêng lẻ.
\widehat{DAB}=\dfrac{1}{2}\left(sđBC⌢+sđ\overset{\frown}{CD}\right)=70° nên sđBC⌢+sđCD⌢=140°. \widehat{ABC}=\dfrac{1}{2}\left(sđCD⌢+sđ\overset{\frown}{DA}\right)=130° nên sđCD⌢+sđDA⌢=260°. Trừ hai đẳng thức: \left(sđCD⌢+sđ\overset{\frown}{DA}\right)-\left(sđBC⌢+sđ\overset{\frown}{CD}\right)=260°-140°. sđDA⌢−sđBC⌢=120°. \widehat{BXC}=\dfrac{1}{2}\left(sđDA⌢−sđ\overset{\frown}{BC}\right)=\dfrac{1}{2}\cdot 120°=60° (góc có đỉnh X ở ngoài đường tròn bằng nửa hiệu hai cung bị chắn, cung xa DA trừ cung gần BC). Cũng từ đẳng thức đầu: \widehat{BCD}=\dfrac{1}{2}\left(sđDA⌢+sđ\overset{\frown}{AB}\right)=180°-\widehat{DAB}=110°.
VậyBCD=110°, BXC=60°, khớp cả ba cách.
Nhận xét. Cách 3 chính là công thức tổng quát "góc có đỉnh ngoài đường tròn bằng nửa hiệu hai cung bị chắn", chỉ cần trừ hai đẳng thức mà không cần tính riêng từng cung — sẽ gặp lại ở bài 9.19, 9.24.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 2: không cần nhớ tam giác nào chứa X, chỉ cần "góc kề bù" hai lần rồi cộng góc trong tam giác XBC, ít nhầm lẫn hơn Cách 1.
Đáp số.BCD=110°; BXC=60°.
Sai lầm thường gặp.Nhầm lẫn phổ biến là tính XBC=ABC=130° (quên hai góc này kề bù chứ không bằng nhau), dẫn tới tổng ba góc trong tam giác XBC vượt quá 180° mà không phát hiện ra sai.
🚀 Mở rộng.Nếu thay số đo 70°, 130° bằng hai ẩn α,β thì luôn có BXC=180°−α−(180°−β)=β−α khi β>α — tức góc ngoài tại giao điểm hai cạnh đối luôn bằng hiệu hai góc kề tương ứng.
Bài 6 · Luyện tập 1★★★Trang 81— Chứng minh tứ giác nội tiếp từ hai đường cao và tính góc nhờ tính chất tứ giác nội tiếp
Luyện tập 1 (trang 81). Cho tam giác ABC có các đường cao BE, CF. Biết rằng B=60°, C=80°. a) Chứng tỏ rằng tứ giác BCEF nội tiếp một đường tròn có tâm là trung điểm của cạnh BC. b) Tính số đo của các góc BFE và CEF.
Kiến thức cần nhớ
Hai góc vuông cùng nhìn một đoạn thẳng cố định thì bốn điểm liên quan cùng thuộc đường tròn đường kính là đoạn thẳng đó (HĐ1).
Góc ngoài tại một đỉnh của tứ giác nội tiếp bằng góc trong của đỉnh đối diện.
🧠 Phân tích tư duy
Hai đường cao BE,CF tạo ra hai góc vuông BEC=BFC=90° cùng nhìn đoạn BC — đúng dấu hiệu của HĐ1 vừa học (hai góc vuông nhìn chung một đoạn thẳng). Sang câu b), E,F nằm trên các cạnh AC,AB nên các góc BFE, CEF kề bù với các góc AFE, AEF của tứ giác nội tiếp AFEC... thực chất cần dùng tính chất góc ngoài của tứ giác nội tiếp BFEC bằng góc trong đỉnh đối diện.
1Cách 1. Dùng định lí Thalès đảo cho câu a, góc ngoài tứ giác nội tiếp cho câu b
Định hướng.E,F đều nhìn BC dưới góc vuông nên thuộc đường tròn đường kính BC; sau đó dùng tính chất góc ngoài của tứ giác nội tiếp BFEC để suy ra AFE=C, AEF=B.
a) Vì BE⊥AC nên BEC=90°, suy ra E thuộc đường tròn đường kính BC. Vì CF⊥AB nên BFC=90°, suy ra F thuộc đường tròn đường kính BC. Gọi O là trung điểm BC; vì B,C cũng thuộc đường tròn đường kính BC nên cả bốn điểm B,C,E,F cùng thuộc đường tròn tâm O bán kính 2BC, tức tứ giác BCEF nội tiếp đường tròn tâm O. b) Vì BFEC nội tiếp, góc ngoài tại F (là AFE, kề bù với BFE) bằng góc trong tại đỉnh đối diện C: AFE=BCA=C=80°. BFE=180°−AFE=180°−80°=100° (vì A,F,B thẳng hàng). Tương tự, góc ngoài tại E (là AEF) bằng góc trong tại đỉnh đối diện B: AEF=ABC=B=60°. CEF=180°−AEF=180°−60°=120° (vì A,E,C thẳng hàng).
VậyBCEF nội tiếp đường tròn tâm O (trung điểm BC); BFE=100°, CEF=120°.
2Cách 2. Dùng tính chất trung tuyến ứng cạnh huyền cho câu a, tổng góc tam giác AEF cho câu b
Định hướng. Thay vì Thalès đảo, dùng trực tiếp "trung tuyến ứng cạnh huyền bằng nửa cạnh huyền" cho hai tam giác vuông BEC, BFC; sang câu b) tính góc A trước rồi suy các góc còn lại của tam giác AEF.
a) Gọi O là trung điểm BC. Tam giác BEC vuông tại E có EO là trung tuyến ứng cạnh huyền nên EO=2BC. Tam giác BFC vuông tại F có FO là trung tuyến ứng cạnh huyền nên FO=2BC. Lại có OB=OC=2BC, suy ra OB=OC=OE=OF, tức B,C,E,F cùng thuộc đường tròn tâm O. b) A=180°−B−C=180°−60°−80°=40°. Tứ giác BFEC nội tiếp ⇒AFE=C=80° và AEF=B=60° (chứng minh như Cách 1, hoặc kiểm tra lại bằng tổng ba góc tam giác AEF: A+AFE+AEF=40°+80°+60°=180° — khớp). BFE=180°−80°=100°; CEF=180°−60°=120°.
Vậy kết quả trùng khớp Cách 1: BFE=100°, CEF=120°.
3Cách 3. Dùng toạ độ để tính trực tiếp
Định hướng. Đặt B,C trên trục hoành, dựng A theo đúng hai góc 60°,80°, tính toạ độ chân đường cao E,F rồi đo góc bằng công thức vectơ — cách này không cần nhớ tính chất tứ giác nội tiếp, chỉ cần tính toán thuần tuý.
Đặt B(0;0), C(10;0); vì B=60°,C=80° nên A=40°, theo định lí sin AB=sin40°10sin80°≈15,32. Toạ độ A≈(7,66;13,27) (dựng theo tia từ B hợp với BC góc 60°). Chân đường cao từ B xuống AC: E≈(9,70;1,71). Chân đường cao từ C xuống AB: F≈(2,50;4,33). Tính góc giữa hai vectơ FB, FE tại F: BFE≈100°. Tính góc giữa hai vectơ EC, EF tại E: CEF≈120°.
VậyBFE=100°, CEF=120°, khớp cả ba cách.
Nhận xét. Cách 1 nhanh nhất vì dùng thẳng tính chất góc ngoài tứ giác nội tiếp; Cách 3 chỉ nên dùng để kiểm tra lại bằng số khi nghi ngờ kết quả.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ hai bước (Thalès đảo cho câu a, góc ngoài tứ giác nội tiếp cho câu b) là ra kết quả, không cần tính toạ độ hay định lí sin.
Đáp số.a) BCEF nội tiếp đường tròn tâm O là trung điểm BC, bán kính 2BC. b) BFE=100°; CEF=120°.
Sai lầm thường gặp.Nhầm BFE với AFE (tưởng chúng bằng nhau) trong khi A,F,B thẳng hàng nên hai góc này kề bù, phải lấy 180° trừ đi chứ không giữ nguyên 80° hay 60°.
🚀 Mở rộng.Kết quả AFE=C, AEF=B chính là tính chất nổi tiếng của "tam giác pedal" (tam giác AEF tạo bởi chân hai đường cao luôn đồng dạng với tam giác gốc theo tỉ số cosA) — dùng lại ở bài 9.32 (SBT) khi xét thêm đường tròn thứ hai qua E,F.
Bài 7 · Thử thách nhỏ 1★★Trang 82— Chứng minh tứ giác nội tiếp từ tính đồng quy của các đường trung trực
Thử thách nhỏ 1 (trang 82). Cho tứ giác ABCD, biết rằng các đường trung trực của ba đoạn thẳng AB,AC,AD đồng quy tại một điểm. Hãy giải thích vì sao ABCD là tứ giác nội tiếp.
Kiến thức cần nhớ
Mọi điểm thuộc đường trung trực của một đoạn thẳng thì cách đều hai đầu mút của đoạn thẳng đó (và ngược lại).
🧠 Phân tích tư duy
Đây là chiều đảo của HĐ2: thay vì biết tứ giác nội tiếp rồi suy ra các trung trực đồng quy, bài này cho ba trung trực đồng quy rồi phải suy ngược ra tứ giác nội tiếp. Chìa khoá là tính chất cơ bản nhất của đường trung trực: mọi điểm trên trung trực của một đoạn thẳng cách đều hai đầu mút của đoạn đó.
1Cách 1. Dùng trực tiếp tính chất điểm thuộc trung trực cách đều hai đầu mút
Định hướng. Gọi I là điểm đồng quy, áp dụng tính chất trung trực cho từng đoạn AB,AC,AD để có IA=IB=IC=ID.
Gọi I là giao điểm chung của ba đường trung trực của AB,AC,AD. Vì I thuộc trung trực của AB nên IA=IB. Vì I thuộc trung trực của AC nên IA=IC. Vì I thuộc trung trực của AD nên IA=ID. Suy ra IA=IB=IC=ID.
Vậy bốn điểm A,B,C,D cùng cách đều điểm I một khoảng IA, nên chúng cùng nằm trên đường tròn tâm I bán kính IA, tức ABCD là tứ giác nội tiếp.
2Cách 2. Lập luận qua đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC
Định hướng. Trung trực của AB và AC vốn đã xác định duy nhất tâm đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC; chỉ cần chỉ ra D cũng thuộc đường tròn đó nhờ trung trực thứ ba.
Xét tam giác ABC (giả sử A,B,C không thẳng hàng); giao điểm của trung trực AB và trung trực AC chính là tâm I của đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC, với IA=IB=IC=R. Theo đề bài, trung trực của AD cũng đi qua đúng điểm I này (do ba trung trực đồng quy), nên ID=IA=R. Vậy D cũng cách I một khoảng bằng R, tức D cũng thuộc đường tròn (I;R).
Vậy cả bốn điểm A,B,C,D cùng thuộc đường tròn (I;R), nên ABCD nội tiếp đường tròn đó.
Nhận xét. Cách 2 chỉ diễn đạt lại Cách 1 qua ngôn ngữ "đường tròn ngoại tiếp tam giác", giúp thấy rõ vì sao chỉ cần đúng ba trung trực (ứng với tam giác ABC) là đủ xác định tâm, trung trực thứ tư (của AD) chỉ có vai trò kiểm tra D có thuộc đường tròn đó hay không.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: ngắn gọn nhất, chỉ ba dòng suy ra IA=IB=IC=ID là xong, không cần nhắc tới khái niệm đường tròn ngoại tiếp tam giác.
Đáp số.ABCD là tứ giác nội tiếp đường tròn tâm I (điểm đồng quy của ba trung trực) bán kính IA.
Sai lầm thường gặp.Dễ quên kiểm tra rằng I phải cách đều CẢ BỐN điểm — có bạn chỉ dừng ở IA=IB=IC (từ hai trung trực AB,AC) mà quên dùng trung trực thứ ba của AD để đưa D vào cùng đường tròn, dẫn tới kết luận thiếu D.
🚀 Mở rộng.Đây chính là mệnh đề đảo của HĐ2: HĐ2 cho tứ giác nội tiếp rồi suy ra trung trực đồng quy tại tâm; Thử thách nhỏ 1 cho trung trực đồng quy rồi suy ngược ra tứ giác nội tiếp — hai chiều của cùng một tính chất.
Bài 8 · HĐ4★★Trang 82— Chứng minh hình chữ nhật nội tiếp đường tròn tâm là giao điểm hai đường chéo
HĐ4 (trang 82). Vẽ hình chữ nhật ABCD và giao điểm M của hai đường chéo AC và BD (H.9.33). a) Hãy giải thích vì sao điểm M cách đều bốn đỉnh của hình chữ nhật ABCD. b) Chứng tỏ rằng hình chữ nhật ABCD nội tiếp một đường tròn có bán kính bằng nửa đường chéo hình chữ nhật.
Kiến thức cần nhớ
Hình chữ nhật có hai đường chéo bằng nhau và cắt nhau tại trung điểm mỗi đường.
Trong tam giác vuông, trung tuyến ứng với cạnh huyền bằng nửa cạnh huyền.
🧠 Phân tích tư duy
Hình chữ nhật có hai tính chất đặc biệt so với hình bình hành thường: hai đường chéo không chỉ cắt nhau tại trung điểm mỗi đường mà còn BẰNG NHAU — chính sự bằng nhau này khiến giao điểm M cách đều cả bốn đỉnh chứ không chỉ từng cặp đỉnh đối. Câu b) chỉ là phát biểu lại câu a) bằng ngôn ngữ "nội tiếp đường tròn".
1Cách 1. Dùng tính chất hai đường chéo hình chữ nhật bằng nhau
Định hướng. Hình chữ nhật là hình bình hành đặc biệt có thêm hai đường chéo bằng nhau — kết hợp "cắt nhau tại trung điểm" với "bằng nhau" để có ngay bốn đoạn MA,MB,MC,MD bằng nhau.
Vì ABCD là hình chữ nhật nên hai đường chéo AC,BD cắt nhau tại trung điểm M của mỗi đường: MA=MC=2AC và MB=MD=2BD. Cũng vì ABCD là hình chữ nhật nên AC=BD (tính chất hai đường chéo hình chữ nhật). Suy ra MA=MC=MB=MD=2AC=2BD.
VậyM cách đều bốn đỉnh A,B,C,D một khoảng bằng nửa đường chéo.
Nhận xét. b) Vì MA=MB=MC=MD nên bốn đỉnh A,B,C,D cùng thuộc đường tròn tâm M bán kính 2AC=2BD, tức hình chữ nhật ABCD nội tiếp đường tròn đó — đúng bằng nửa đường chéo như đề yêu cầu chứng tỏ.
2Cách 2. Dùng tam giác vuông và đường trung tuyến ứng cạnh huyền (như HĐ1)
Định hướng. Hình chữ nhật có bốn góc vuông, nên mỗi đỉnh nhìn đường chéo còn lại dưới một góc vuông — áp dụng lại đúng kết quả đã chứng minh ở HĐ1.
Vì ABCD là hình chữ nhật nên BAD=BCD=90°, tức A và C cùng nhìn đoạn BD dưới góc vuông. Theo kết quả đã chứng minh ở HĐ1, A và C cùng nằm trên đường tròn đường kính BD có tâm là trung điểm M của BD. Vì ABCD là hình bình hành nên M cũng là trung điểm của AC; kết hợp với ABCD là hình chữ nhật có AC=BD, nên M vừa là trung điểm BD vừa là trung điểm AC với MA=MC=MB=MD.
VậyM cách đều bốn đỉnh, và hình chữ nhật ABCD nội tiếp đường tròn tâm M bán kính bằng nửa đường chéo.
3Cách 3. Dùng toạ độ
Định hướng. Đặt hình chữ nhật theo hai trục toạ độ với tâm tại gốc, tính trực tiếp khoảng cách từ gốc tới bốn đỉnh.
Đặt A(−a;−b), B(a;−b), C(a;b), D(−a;b) với 2a,2b là hai kích thước hình chữ nhật; khi đó M (giao điểm hai đường chéo) trùng gốc toạ độ O(0;0). MA=a2+b2, MB=a2+b2, MC=a2+b2, MD=a2+b2. AC=(2a)2+(2b)2=2a2+b2, suy ra MA=2AC.
VậyMA=MB=MC=MD=2AC, khớp hai cách trên.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ cần hai tính chất quen thuộc của hình chữ nhật (đường chéo cắt nhau tại trung điểm + hai đường chéo bằng nhau) ghép lại là xong, không cần dựng lại HĐ1 hay toạ độ.
Đáp số.M cách đều bốn đỉnh A,B,C,D (đều bằng 2AC=2BD); hình chữ nhật ABCD nội tiếp đường tròn tâm M bán kính bằng nửa đường chéo.
Sai lầm thường gặp.Nhầm lẫn cho rằng CHỈ hình vuông mới có tính chất này — thực ra mọi hình chữ nhật (kể cả không vuông) đều có hai đường chéo bằng nhau và cắt nhau tại trung điểm, nên tính chất "M cách đều bốn đỉnh" đúng cho MỌI hình chữ nhật, không riêng hình vuông.
🚀 Mở rộng.Đây là trường hợp riêng (và cũng là hệ quả trực tiếp) của HĐ1: hình chữ nhật luôn có hai góc vuông đối nhau cùng nhìn một đường chéo, nên luôn nội tiếp đường tròn đường kính là đường chéo đó — áp dụng cho mọi hình chữ nhật, kể cả hình vuông (HĐ5).
Bài 9 · HĐ5★Trang 82— Xác định tâm và tính bán kính đường tròn ngoại tiếp hình vuông
HĐ5 (trang 82). Cho hình vuông ABCD có cạnh bằng 3 cm (H.9.34). Hãy xác định tâm, vẽ đường tròn ngoại tiếp hình vuông ABCD và cho biết bán kính của đường tròn đó.
Kiến thức cần nhớ
Hình vuông là hình chữ nhật có bốn cạnh bằng nhau, nên nội tiếp đường tròn tâm là giao điểm hai đường chéo, bán kính bằng nửa đường chéo (HĐ4).
Đường chéo hình vuông cạnh a có độ dài a2 (định lí Pythagore).
🧠 Phân tích tư duy
Hình vuông là một hình chữ nhật đặc biệt nên áp dụng thẳng kết quả HĐ4: tâm đường tròn ngoại tiếp là giao điểm hai đường chéo, bán kính bằng nửa đường chéo. Việc còn lại chỉ là tính đường chéo hình vuông cạnh 3 cm bằng định lí Pythagore.
1Cách 1. Dùng định lí Pythagore trực tiếp
Định hướng. Tâm là giao điểm hai đường chéo (theo HĐ4); tính đường chéo bằng Pythagore trong tam giác vuông tạo bởi hai cạnh kề rồi chia đôi.
Gọi O là giao điểm hai đường chéo AC,BD của hình vuông ABCD; theo HĐ4, O là tâm đường tròn ngoại tiếp. Xét tam giác ABC vuông tại B (góc của hình vuông) có AB=BC=3 cm. AC2=AB2+BC2=32+32=18. AC=18=32 cm. R=OA=2AC=232 cm.
Vậy tâm đường tròn ngoại tiếp là giao điểm hai đường chéo hình vuông, bán kính R=232 cm (≈2,12 cm).
2Cách 2. Dùng công thức đường chéo hình vuông
Định hướng. Nhớ lại công thức đã học ở lớp dưới: đường chéo hình vuông cạnh a bằng a2, áp dụng trực tiếp rồi chia đôi để ra bán kính.
Đường chéo hình vuông cạnh a=3 cm là d=a2=32 cm. Theo HĐ4, bán kính đường tròn ngoại tiếp bằng nửa đường chéo: R=2d=232 cm.
VậyR=232 cm, khớp với Cách 1.
Nhận xét. Cách 2 chỉ là dùng lại đúng kết quả của phép chứng minh Pythagore ở Cách 1 dưới dạng công thức có sẵn — hai cách cho cùng một phép tính, không có hướng thứ ba khác bản chất vì bài chỉ có một quan hệ Pythagore duy nhất giữa cạnh và đường chéo hình vuông.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 2 nếu đã thuộc công thức đường chéo hình vuông a2; nếu quên công thức thì quay lại Cách 1 (Pythagore) vẫn ra kết quả chắc chắn.
Đáp số.Tâm đường tròn ngoại tiếp là giao điểm hai đường chéo hình vuông; bán kính R=232 cm ≈2,12 cm.
Sai lầm thường gặp.Nhầm bán kính với cạnh hình vuông (ghi luôn R=3 cm) — quên rằng bán kính phải tính qua đường chéo (đường chéo mới là đường kính), không phải bằng thẳng độ dài cạnh.
🚀 Mở rộng.Tổng quát: hình vuông cạnh a luôn nội tiếp đường tròn bán kính R=2a2; ngược lại nếu biết bán kính R của đường tròn thì cạnh hình vuông nội tiếp là a=R2 — dùng lại ở bài 9.31 (SBT).
Bài 10 · Câu hỏi★★Trang 82— Đếm số hình vuông nội tiếp một đường tròn cho trước có một đỉnh cố định
Câu hỏi (trang 82). Với điểm A cho trước nằm trên đường tròn (O), có bao nhiêu hình vuông có một đỉnh là A nội tiếp đường tròn (O)?
Kiến thức cần nhớ
Hình vuông nội tiếp đường tròn có hai đường chéo là hai đường kính vuông góc với nhau.
Qua một điểm cho trước chỉ có duy nhất một đường thẳng vuông góc với một đường thẳng cho trước.
🧠 Phân tích tư duy
Theo HĐ4–HĐ5, hình vuông nội tiếp đường tròn có hai đường chéo đều là đường kính, vuông góc với nhau tại tâm. Vì A đã cố định nên đường chéo qua A chỉ có thể là MỘT đường kính duy nhất (đường thẳng AO kéo dài); đường chéo còn lại buộc phải vuông góc với đường chéo thứ nhất tại O, cũng chỉ có đúng một khả năng. Dấu hiệu nhận ra đáp số duy nhất chứ không phải vô số là ở chỗ hai điều kiện "đi qua O" và "vuông góc với đường chéo kia" đều xác định duy nhất, không còn bậc tự do nào để xoay.
1Cách 1. Dùng tính chất hai đường chéo là đường kính vuông góc
Định hướng. Xác định lần lượt đường chéo thứ nhất (qua A) rồi đường chéo thứ hai (vuông góc với đường chéo thứ nhất tại tâm), mỗi bước chỉ cho đúng một lựa chọn.
Một hình vuông nội tiếp (O) có hai đường chéo đều là đường kính của (O) và vuông góc với nhau tại O (theo HĐ4, HĐ5). Vì A đã cho trước và A phải là một đỉnh, nên đường chéo đi qua A chính là đường kính AA′ với A′ là điểm đối xứng với A qua O — điểm A′ này là duy nhất. Đường chéo còn lại phải là đường kính BD vuông góc với AA′ tại O — qua điểm O chỉ có đúng một đường thẳng vuông góc với đường thẳng AA′ cho trước, nên đường kính BD cũng duy nhất. Bốn điểm A,B,A′,D (với B,D là hai đầu của đường kính vuông góc) tạo thành đúng một hình vuông.
Vậy chỉ có đúng 1 hình vuông có một đỉnh là A nội tiếp đường tròn (O).
2Cách 2. Dùng phép quay quanh tâm O
Định hướng. Bốn đỉnh của một hình vuông nội tiếp (O) là ảnh của nhau qua các phép quay tâm O góc 90°,180°,270°; với A cố định, ba đỉnh còn lại là ba ảnh xác định duy nhất của A.
Gọi B,C,D lần lượt là ảnh của A qua phép quay tâm O các góc 90°,180°,270°. Vì phép quay bảo toàn khoảng cách tới tâm nên B,C,D đều thuộc (O); và vì các góc quay liên tiếp bằng 90° nên AOB=BOC=COD=DOA=90°, suy ra ABCD là hình vuông. Với một điểm A và một tâm quay O cho trước, ảnh của A qua mỗi phép quay 90°,180°,270° là duy nhất (phép quay là một phép biến hình, mỗi điểm chỉ có đúng một ảnh).
Vậy chỉ có duy nhất một bộ ba điểm B,C,D, tức chỉ có 1 hình vuông thoả mãn.
Nhận xét. Hai cách đều cho cùng kết quả: hình học tổng hợp (đường kính vuông góc) và phép biến hình (phép quay) là hai cách nhìn khác nhau của cùng một sự thật đối xứng 4 cạnh của hình vuông.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: dễ hình dung bằng hình vẽ (đường kính qua A, rồi đường kính vuông góc), không cần nhắc tới phép quay.
Đáp số.Chỉ có đúng 1 hình vuông có một đỉnh là A nội tiếp đường tròn (O).
Sai lầm thường gặp.Dễ nhầm tưởng có vô số hình vuông (do có thể "xoay" hình vuông quanh A) — thực ra một khi đã cố định điểm A là MỘT ĐỈNH và đường tròn (O) đã cho trước, thì cả bốn đỉnh bị ràng buộc chặt bởi tính chất đường chéo là đường kính vuông góc, không còn tự do để xoay.
🚀 Mở rộng.Nếu thay hình vuông bằng một đa giác đều n cạnh nội tiếp (O) với một đỉnh A cho trước, lập luận tương tự (các đỉnh cách đều nhau một góc ở tâm n360°) cũng cho duy nhất 1 đa giác đều thoả mãn.
Bài 11 · Ví dụ 3★★Trang 82— Tính bán kính đường tròn ngoại tiếp hình chữ nhật
Ví dụ 3 (trang 82). Cho hình chữ nhật ABCD có AB=3 cm, AD=4 cm. Vẽ đường tròn (O;R) ngoại tiếp hình chữ nhật ABCD và tính bán kính R.
Kiến thức cần nhớ
Hình chữ nhật nội tiếp đường tròn tâm là giao điểm hai đường chéo, bán kính bằng nửa đường chéo (HĐ4).
Định lí Pythagore trong tam giác vuông.
🧠 Phân tích tư duy
Áp dụng thẳng kết quả HĐ4: bán kính bằng nửa đường chéo. Vì AB⊥AD (góc của hình chữ nhật) nên đường chéo BD chính là cạnh huyền của tam giác vuông ABD, tính được ngay bằng Pythagore từ hai kích thước đã cho.
1Cách 1. Dùng định lí Pythagore (như sách trình bày)
Định hướng. Gọi O là giao điểm hai đường chéo, tính BD bằng Pythagore trong tam giác vuông ABD rồi chia đôi.
Gọi O là giao điểm của AC và BD; vẽ đường tròn tâm O bán kính R=OA, đây chính là đường tròn ngoại tiếp hình chữ nhật ABCD (theo HĐ4). Áp dụng định lí Pythagore cho tam giác ABD vuông tại A: BD2=AB2+AD2=32+42=25. BD=5 cm. R=2BD=2,5 cm.
VậyR=2,5 cm.
2Cách 2. Dùng toạ độ
Định hướng. Đặt A tại gốc toạ độ với hai cạnh AB,AD theo hai trục, tính toạ độ O (trung điểm AC) rồi tính R=OA.
Đặt A(0;0), B(3;0), D(0;4), C(3;4). O là trung điểm AC: O=(20+3;20+4)=(1,5;2). R=OA=1,52+22=2,25+4=6,25=2,5 cm.
VậyR=2,5 cm, khớp với Cách 1.
3Cách 3. Dùng công thức bán kính đường tròn ngoại tiếp tam giác
Định hướng. Tam giác ABD vuông tại A cũng có đường tròn ngoại tiếp chính là (O;R) cần tìm; áp dụng công thức tổng quát R=4Sabc cho tam giác này để kiểm tra lại bằng một con đường khác.
Tam giác ABD có AB=3, AD=4; theo Cách 1, BD=5 cm. Diện tích tam giác ABD: S=21⋅AB⋅AD=21⋅3⋅4=6 cm². Bán kính đường tròn ngoại tiếp tam giác: R=4SAB⋅AD⋅BD=4⋅63⋅4⋅5=2460=2,5 cm.
VậyR=2,5 cm, khớp cả ba cách.
Nhận xét. Cách 3 cho thấy đường tròn ngoại tiếp hình chữ nhật ABCD cũng chính là đường tròn ngoại tiếp mỗi tam giác vuông tạo bởi một đường chéo — một cách nhìn tổng quát hơn, dùng được cả khi đề chỉ cho một nửa hình chữ nhật (một tam giác vuông).
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: Pythagore rồi chia đôi là nhanh nhất, không cần toạ độ hay công thức R=4Sabc.
Đáp số.R=2,5 cm.
Sai lầm thường gặp.Nhầm bán kính với đường chéo (quên chia đôi), ghi luôn R=5 cm — cần nhớ R là bán kính, bằng NỬA đường chéo chứ không phải cả đường chéo.
🚀 Mở rộng.Nếu đặt AB=m, AD=n tổng quát thì R=2m2+n2 — công thức này dùng lại ở bài 9.22 (bài tập cuối bài) và bài 9.31 (SBT).
Bài 12 · Luyện tập 2★★★Trang 83— Chứng minh tứ giác tạo bởi trung điểm các cạnh hình thoi là hình chữ nhật và tính bán kính ngoại tiếp
Luyện tập 2 (trang 83). Cho hình thoi ABCD có các cạnh bằng 3 cm. Gọi M,N,P,Q lần lượt là trung điểm của AB,BC,CA,AD. Chứng tỏ rằng tứ giác MNPQ là hình chữ nhật và tìm bán kính đường tròn ngoại tiếp của tứ giác đó.
Kiến thức cần nhớ
Đường trung bình của tam giác song song với cạnh thứ ba và bằng nửa cạnh đó.
Hai đường chéo của hình thoi vuông góc với nhau.
Tứ giác có ba góc vuông là hình chữ nhật.
🧠 Phân tích tư duy
Đề in P là trung điểm CA (đường chéo) khiến bốn điểm M,N,P,Q không còn tạo thành một tứ giác khép kín hợp lí; đối chiếu với cấu trúc quen thuộc "trung điểm bốn CẠNH" (đúng như M,N,Q đã nêu là trung điểm AB,BC,AD) và với kết quả cần chứng minh (MNPQ là hình chữ nhật — chỉ đúng khi P là trung điểm cạnh CD, theo tính chất đường trung bình), có thể khẳng định đây là lỗi in ấn: P phải là trung điểm cạnh CD chứ không phải đường chéo CA. Bài được giải theo đúng ý đồ gốc (trung điểm bốn cạnh AB,BC,CD,DA), lỗi in ghi rõ ở mục "sailam". Dấu hiệu chính của bài: M,N,P,Q là trung điểm các cạnh của một tứ giác có hai đường chéo vuông góc (tính chất riêng của hình thoi) — đây là điều kiện để tứ giác Varignon (tứ giác nối trung điểm bốn cạnh) trở thành hình chữ nhật.
1Cách 1. Dùng đường trung bình của tam giác
Định hướng.MN,QP lần lượt là đường trung bình của các tam giác ABC, DBC nên cùng song song với AC; tương tự MQ,NP song song với BD — vì AC⊥BD (tính chất hình thoi) nên tứ giác có một góc vuông, mà lại là hình bình hành, nên là hình chữ nhật.
Trong tam giác ABC: M,N lần lượt là trung điểm AB,BC nên MN là đường trung bình, suy ra MN∥AC và MN=2AC. Trong tam giác ACD: Q,P lần lượt là trung điểm AD,CD nên QP là đường trung bình, suy ra QP∥AC và QP=2AC. Suy ra MN∥QP và MN=QP, tức MNPQ là hình bình hành. Tương tự, trong tam giác ABD: MQ là đường trung bình nên MQ∥BD. Vì ABCD là hình thoi nên AC⊥BD (hai đường chéo vuông góc); kết hợp MN∥AC, MQ∥BD suy ra MN⊥MQ, tức QMN=90°.
VậyMNPQ là hình bình hành có một góc vuông, nên MNPQ là hình chữ nhật.
2Cách 2. Dùng toạ độ
Định hướng. Đặt hình thoi theo hai đường chéo vuông góc trên hai trục toạ độ, tính trực tiếp toạ độ bốn trung điểm rồi kiểm tra vuông góc và tính khoảng cách.
Đặt tâm hình thoi tại gốc O, hai đường chéo nằm trên hai trục: A(−p;0), C(p;0), B(0;−q), D(0;q), với p2+q2=32=9 (vì AB=3). M= trung điểm AB=(−2p;−2q); N= trung điểm BC=(2p;−2q); P= trung điểm CD=(2p;2q); Q= trung điểm DA=(−2p;2q). Bốn điểm này là bốn đỉnh của một hình chữ nhật có các cạnh song song hai trục, kích thước p×q (dễ thấy MN⊥NP). Đường chéo MP của hình chữ nhật: MP=p2+q2=9=3 cm.
VậyMNPQ là hình chữ nhật, và bán kính đường tròn ngoại tiếp R=2MP=1,5 cm.
3Cách 3. Dùng vectơ tổng quát (không cần gán toạ độ cụ thể)
Định hướng. Biểu diễn đường chéo MP của hình chữ nhật MNPQ qua vectơ của hình thoi, rồi dùng tính vuông góc của hai đường chéo hình thoi để suy ra MP bằng đúng cạnh hình thoi.
Gọi O là tâm hình thoi (giao hai đường chéo); ta có M=2A+B, P=2C+D (toạ độ trung điểm theo vectơ, gốc tại O), với C=−A, D=−B (vì O là trung điểm cả AC và BD). MP=P−M=2C+D−2A+B=2(−A−B)−(A+B)=−(A+B)=−2⋅2A+B, suy ra MP=∣A+B∣. Vì OA⊥OB (hai đường chéo hình thoi vuông góc) nên theo Pythagore trong tam giác vuông OAB: ∣A+B∣2=OA2+OB2=AB2 (vì OA2+OB2 chính là bình phương cạnh huyền AB của tam giác vuông OAB). Suy ra MP=AB=3 cm.
Vậy đường chéo MP=AB=3 cm (đúng bằng cạnh hình thoi, không phụ thuộc hình thoi "béo" hay "gầy"), bán kính R=2MP=1,5 cm.
Nhận xét. Cách 3 cho một kết quả đẹp và tổng quát: bán kính đường tròn ngoại tiếp hình chữ nhật Varignon của một hình thoi luôn bằng nửa CẠNH hình thoi, không phụ thuộc độ dài hai đường chéo.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1 để chứng minh MNPQ là hình chữ nhật (đường trung bình quen thuộc); rồi dùng Cách 3 để có ngay R=2AB=1,5 cm mà không cần tính p,q riêng lẻ.
Đáp số.MNPQ là hình chữ nhật; bán kính đường tròn ngoại tiếp R=1,5 cm.
Sai lầm thường gặp.Đề in P là trung điểm CA (đường chéo) thay vì trung điểm cạnh CD — đây là lỗi in ấn của sách, vì lấy đúng như in thì P trùng tâm hình thoi, bốn điểm M,N,P,Q không tạo thành một tứ giác lồi hợp lí và không thể là hình chữ nhật; bài đã giải theo đúng ý đồ chuẩn (trung điểm bốn CẠNH AB,BC,CD,DA) để ra kết quả "MNPQ là hình chữ nhật" như đề yêu cầu chứng tỏ.
🚀 Mở rộng.Kết quả "đường chéo tứ giác Varignon bằng cạnh hình thoi" ở Cách 3 là trường hợp riêng của định lí Varignon tổng quát: với TỨ GIÁC BẤT KÌ, tứ giác nối trung điểm bốn cạnh luôn là hình bình hành có các cạnh song song và bằng nửa hai đường chéo của tứ giác gốc; khi tứ giác gốc có hai đường chéo vuông góc (như hình thoi) thì hình bình hành đó trở thành hình chữ nhật — dùng lại ở bài 9.30 (SBT) với hình thoi có AC=8,BD=4.
Bài 13 · Thử thách nhỏ 2★★Trang 83— Chứng minh nhiều hình chữ nhật chung một đường chéo có cùng đường tròn ngoại tiếp
Thử thách nhỏ 2 (trang 83). Nếu các hình chữ nhật có chung một đường chéo (ví dụ như hai hình chữ nhật ABCD và AECF trong Hình 9.36) thì các đỉnh của chúng có cùng nằm trên một đường tròn không?
Kiến thức cần nhớ
Hình chữ nhật nội tiếp đường tròn có tâm là giao điểm hai đường chéo (trung điểm đường chéo), bán kính bằng nửa đường chéo (HĐ4).
🧠 Phân tích tư duy
Đây là hệ quả trực tiếp của HĐ4: mỗi hình chữ nhật nội tiếp đường tròn có tâm là giao điểm hai đường chéo (chính là trung điểm của đường chéo đó) và bán kính bằng nửa đường chéo. Vì hai hình chữ nhật ABCD, AECF có chung đường chéo AC, nên "trung điểm của AC" và "nửa độ dài AC" là hai đại lượng chung cho cả hai hình — tâm và bán kính đường tròn ngoại tiếp của chúng vì thế trùng nhau.
1Cách 1. Áp dụng trực tiếp kết quả HĐ4 cho cả hai hình chữ nhật
Định hướng. Chỉ ra tâm và bán kính đường tròn ngoại tiếp của mỗi hình chữ nhật chỉ phụ thuộc vào đường chéo chung AC, nên hai đường tròn ngoại tiếp trùng nhau.
Theo HĐ4, hình chữ nhật ABCD nội tiếp đường tròn tâm I1 là trung điểm đường chéo AC, bán kính R1=2AC. Cũng theo HĐ4, hình chữ nhật AECF nội tiếp đường tròn tâm I2 là trung điểm đường chéo AC (vì AC cũng là một đường chéo của AECF), bán kính R2=2AC. Vì I1 và I2 đều là trung điểm của cùng một đoạn AC nên I1≡I2; và R1=R2=2AC.
Vậy hai đường tròn ngoại tiếp của ABCD và AECF trùng nhau (cùng tâm, cùng bán kính), nên tất cả sáu đỉnh A,B,C,D,E,F đều nằm trên cùng một đường tròn — đường tròn đường kính AC.
2Cách 2. Tính trực tiếp khoảng cách từ trung điểm AC tới sáu đỉnh
Định hướng. Gọi thẳng M là trung điểm AC, chỉ ra M cách đều cả sáu đỉnh mà không cần nhắc lại tên HĐ4.
Gọi M là trung điểm của đường chéo chung AC. Vì ABCD là hình chữ nhật nên hai đường chéo AC,BD cắt nhau tại trung điểm mỗi đường và bằng nhau, mà M đã là trung điểm AC nên M cũng là trung điểm BD, với MA=MB=MC=MD=2AC. Vì AECF là hình chữ nhật nên tương tự, M (trung điểm AC) cũng là trung điểm EF, với MA=ME=MC=MF=2AC.
Vậy cả sáu điểm A,B,C,D,E,F đều cách M đúng một khoảng 2AC, nên chúng cùng nằm trên đường tròn tâm M bán kính 2AC.
3Cách 3. Dùng định lí Thalès đảo cho từng đỉnh
Định hướng. Mỗi đỉnh B,D,E,F đều là một góc vuông của một hình chữ nhật có AC là đường chéo, nên đều nhìn AC dưới góc 90° — áp dụng thẳng định lí Thalès đảo (như HĐ1) cho cả bốn đỉnh cùng lúc.
Vì ABCD là hình chữ nhật với đường chéo AC nên ABC=ADC=90°, tức B,D đều nhìn đoạn AC dưới góc vuông. Vì AECF là hình chữ nhật với đường chéo AC nên AEC=AFC=90°, tức E,F đều nhìn đoạn AC dưới góc vuông. Theo định lí Thalès đảo, mọi điểm nhìn đoạn AC dưới góc vuông đều thuộc đường tròn đường kính AC; áp dụng cho cả bốn điểm B,D,E,F.
VậyB,D,E,F (cùng với A,C) đều thuộc đường tròn đường kính AC — chính là đường tròn ngoại tiếp chung của cả hai hình chữ nhật.
Nhận xét. Cách 3 cho thấy có thể có VÔ SỐ hình chữ nhật khác nhau cùng chung đường chéo AC — cứ chọn một điểm bất kì trên đường tròn đường kính AC (khác A,C) làm một đỉnh là dựng được một hình chữ nhật như vậy, và tất cả đều có chung một đường tròn ngoại tiếp.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1 (hoặc Cách 2): áp dụng thẳng HĐ4 hai lần là đủ, không cần dựng lại lập luận Thalès như Cách 3.
Đáp số.Có; tất cả các đỉnh của những hình chữ nhật có chung đường chéo AC đều nằm trên cùng một đường tròn — đường tròn đường kính AC.
Sai lầm thường gặp.Nhầm tưởng chỉ có đúng hai hình chữ nhật (như ABCD và AECF trong hình) cùng chung đường tròn — thực ra có VÔ SỐ hình chữ nhật như vậy, ứng với mọi cách chọn một điểm khác trên đường tròn đường kính AC làm đỉnh thứ ba.
🚀 Mở rộng.Đây là cách dựng ra vô số hình chữ nhật nội tiếp cùng một đường tròn: chọn đường kính AC bất kì của (O), rồi chọn một điểm bất kì khác trên (O) làm đỉnh thứ ba, đỉnh thứ tư sẽ tự động xác định để tạo thành hình chữ nhật — khác hẳn Câu hỏi (trang 82) nơi hình VUÔNG có một đỉnh cho trước chỉ có đúng 1 khả năng vì hình vuông còn bị ràng buộc thêm điều kiện hai đường chéo vuông góc.
Bài 14 · Bài 9.18★Trang 83— Tính góc còn lại của tứ giác nội tiếp từ hai góc đã biết
Bài 9.18 (trang 83). Cho ABCD là tứ giác nội tiếp. Tính số đo của các góc còn lại của tứ giác trong mỗi trường hợp sau: a) A=60°,B=80°; b) B=70°,C=90°; c) C=100°,D=60°; d) D=110°,A=80°.
Kiến thức cần nhớ
Trong một tứ giác nội tiếp, tổng số đo hai góc đối nhau bằng 180°.
🧠 Phân tích tư duy
Cả bốn trường hợp chỉ dùng đúng một công cụ: hai góc đối của tứ giác nội tiếp có tổng 180°. Với mỗi trường hợp, hai góc đã cho luôn là hai cặp góc kề nhau (không đối nhau), nên chỉ cần lấy 180° trừ đi từng góc đã cho để ra góc đối tương ứng — không cần thêm dữ kiện hình vẽ.
1Cách 1. Áp dụng trực tiếp công thức hai góc đối bù nhau
Định hướng. Với mỗi cặp góc đã cho, góc đối diện được suy ra ngay bằng phép trừ 180°.
a) C=180°−A=180°−60°=120°. D=180°−B=180°−80°=100°. b) D=180°−B=180°−70°=110°. A=180°−C=180°−90°=90°. c) A=180°−C=180°−100°=80°. B=180°−D=180°−60°=120°. d) B=180°−A=180°−80°=100°. C=180°−D=180°−110°=70°.
Vậy a) C=120°,D=100°; b) D=110°,A=90°; c) A=80°,B=120°; d) B=100°,C=70°.
2Cách 2. Kiểm tra chéo bằng tổng bốn góc của tứ giác
Định hướng. Sau khi tính bằng Cách 1, kiểm tra lại bằng tính chất tổng bốn góc trong của một tứ giác luôn bằng 360° — nếu khớp thì kết quả chắc chắn đúng.
a) A+B+C+D=60°+80°+120°+100°=360° — khớp. b) 90°+70°+90°+110°=360° — khớp (chú ý ở đây A=90° trùng với C=90° chỉ là ngẫu nhiên của đề bài). c) 80°+120°+100°+60°=360° — khớp. d) 80°+100°+70°+110°=360° — khớp.
Vậy cả bốn kết quả ở Cách 1 đều được xác nhận đúng qua phép kiểm tra tổng 360°.
Nhận xét. Cách 2 không phải một hướng giải độc lập mà là một phép kiểm tra chéo hữu ích, giúp phát hiện ngay sai sót tính toán nếu tổng không ra 360°.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1, nhớ luôn kiểm tra nhanh bằng tổng 360° (Cách 2) trước khi ghi đáp số cuối cùng để tránh nhầm dấu trừ.
Đáp số.a) C=120°,D=100°; b) D=110°,A=90°; c) A=80°,B=120°; d) B=100°,C=70°.
Sai lầm thường gặp.Nhầm lẫn lấy góc đối của A là B thay vì C (quên thứ tự đỉnh A,B,C,D liên tiếp trên tứ giác thì A đối diện C, B đối diện D, không phải hai đỉnh liền kề).
🚀 Mở rộng.Nếu đề chỉ cho một góc duy nhất (không đủ một cặp kề nhau) thì không thể tính hết bốn góc chỉ bằng tính chất tứ giác nội tiếp — cần thêm dữ kiện khác (ví dụ tứ giác đặc biệt như hình thang cân, hình chữ nhật).
Bài 15 · Bài 9.19★★★★Trang 83— Chứng minh hai tam giác đồng dạng và hệ thức tích hai cát tuyến từ một điểm ngoài đường tròn
Bài 9.19 (trang 83). Cho điểm I nằm ngoài đường tròn (O). Qua I kẻ hai đường thẳng lần lượt cắt (O) tại bốn điểm A,B và C,D sao cho A nằm giữa B và I, C nằm giữa D và I. Chứng minh rằng IBD=ICA,IAC=IDB và IA⋅IB=IC⋅ID.
Kiến thức cần nhớ
Góc ngoài tại một đỉnh của tứ giác nội tiếp bằng góc trong của đỉnh đối diện.
Hai tam giác đồng dạng (g.g) khi có hai cặp góc tương ứng bằng nhau; từ đó suy ra tỉ số các cạnh tương ứng bằng nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Dấu hiệu quan trọng nhất của bài là "A nằm giữa B và I": tia AI và tia AB là hai tia ĐỐI NHAU, nên góc IAC chính là góc bù của góc BAC (góc trong của tứ giác nội tiếp ABDC — chú ý thứ tự các điểm quanh đường tròn không phải A,B,C,D liên tiếp mà là B,A,C,D). Từ đó, tính chất "tổng hai góc đối của tứ giác nội tiếp bằng 180°" biến thành "góc ngoài tại một đỉnh bằng góc trong tại đỉnh đối diện" — chìa khoá để ghép được cặp góc bằng nhau cần thiết cho hai tam giác đồng dạng.
1Cách 1. Dùng tính chất góc ngoài của tứ giác nội tiếp
Định hướng. Xác định đúng thứ tự bốn điểm quanh đường tròn là B,A,C,D (không phải A,B,C,D), rồi áp dụng "góc ngoài bằng góc trong đối diện" hai lần để có hai cặp góc bằng nhau cần chứng minh; cuối cùng ghép lại thành hai tam giác đồng dạng.
Vì A nằm giữa B và I nên tia AI và tia AB là hai tia đối nhau, suy ra IAC=180°−BAC. Vì C nằm giữa D và I nên tia CI và tia CD là hai tia đối nhau, suy ra ICA=180°−DCA. Bốn điểm B,A,C,D nằm trên (O) theo đúng thứ tự đó (tứ giác nội tiếp BACD), nên BAC và BDC là hai góc đối của tứ giác nội tiếp này: BAC+BDC=180°, suy ra IAC=180°−BAC=BDC=IDB (vì tia DI trùng tia DC, do C nằm giữa D,I). Tương tự, ABD và ACD là hai góc đối còn lại của tứ giác nội tiếp BACD: ABD+ACD=180°, suy ra ICA=180°−ACD=ABD=IBD (vì tia BI trùng tia BA, do A nằm giữa B,I). Xét hai tam giác IAC và IDB: có I chung, và IAC=IDB (vừa chứng minh) ⇒△IAC∼△IDB (g.g). Từ đó IDIA=IBIC, suy ra IA⋅IB=IC⋅ID.
VậyIBD=ICA, IAC=IDB, và IA⋅IB=IC⋅ID (đpcm).
2Cách 2. Dùng số đo cung
Định hướng. Thay vì gọi tên "tứ giác nội tiếp BACD", biểu diễn trực tiếp các góc cần so sánh qua số đo cung bị chắn — tránh nhầm lẫn thứ tự đỉnh.
BAC là góc nội tiếp chắn cung BC⌢ không chứa A: BAC=21sđBC⌢ (cung không chứa A, tức đi qua phía D). BDC là góc nội tiếp chắn cung BC⌢ không chứa D: BDC=21sđBC⌢ (cung không chứa D, tức đi qua phía A). Vì hai cung BC⌢ (qua D) và BC⌢ (qua A) cộng lại đúng bằng cả đường tròn: BAC+BDC=21⋅360°=180°; kết hợp IAC=180°−BAC (do A giữa B,I) và IDB=BDC (do tia DI trùng tia DC), suy ra IAC=IDB. Lập luận hoàn toàn tương tự với cặp góc ABD, ACD (cùng chắn cung AD⌢ từ hai phía) để có IBD=ICA. Từ hai cặp góc bằng nhau, tam giác IAC∼IDB (g.g, góc I chung), suy ra IDIA=IBIC⇒IA⋅IB=IC⋅ID.
Vậy cả ba hệ thức được chứng minh, khớp với Cách 1.
Nhận xét. Cách 2 giải thích RÕ HƠN vì sao góc nội tiếp từ hai đỉnh khác nhau cùng chắn một cung thì bằng nhau, tránh phải ghi nhớ tên gọi "tứ giác BACD" dễ gây nhầm với thứ tự quen thuộc ABCD.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 2 (số đo cung) nếu sợ nhầm thứ tự đỉnh khi gọi tên tứ giác nội tiếp; nếu đã quen tính chất góc ngoài thì Cách 1 nhanh hơn.
Đáp số.IBD=ICA; IAC=IDB; IA⋅IB=IC⋅ID (đây chính là hệ thức phương tích của điểm I đối với đường tròn (O)).
Sai lầm thường gặp.Nhầm lẫn phổ biến nhất là tưởng bốn điểm nằm theo đúng thứ tự quen thuộc A,B,C,D quanh đường tròn — thực ra thứ tự đúng (theo cách vẽ hai cát tuyến từ I) là B,A,C,D (hai điểm gần I là A,C đứng cạnh nhau, hai điểm xa là B,D đứng cạnh nhau), nhầm thứ tự sẽ ghép sai cặp góc đối.
🚀 Mở rộng.Hệ thức IA⋅IB=IC⋅ID chính là PHƯƠNG TÍCH của điểm I đối với đường tròn (O), không phụ thuộc vào việc chọn cát tuyến nào qua I — đây là công cụ nền tảng cho các bài toán nâng cao về trục đẳng phương ở chương trình THPT.
Bài 16 · Bài 9.20★★Trang 83— Chứng minh hình bình hành nội tiếp đường tròn là hình chữ nhật
Bài 9.20 (trang 83). Cho hình bình hành ABCD nội tiếp đường tròn (O). Chứng minh rằng ABCD là hình chữ nhật.
Kiến thức cần nhớ
Hình bình hành có các góc đối bằng nhau.
Tứ giác nội tiếp có các góc đối bù nhau (tổng 180°).
Hình bình hành có một góc vuông là hình chữ nhật.
🧠 Phân tích tư duy
Đề cho hai tính chất cùng lúc: "hình bình hành" (góc đối bằng nhau) và "nội tiếp đường tròn" (góc đối bù nhau) — hai điều kiện tưởng như không liên quan nhưng khi ghép lại chỉ có thể thoả mãn khi góc đó bằng chính một nửa của 180°, tức là góc vuông. Đây là kiểu bài "giao hai tính chất" điển hình: kết hợp hai đẳng thức để suy ra giá trị cụ thể.
1Cách 1. Kết hợp tính chất góc đối của hình bình hành và tứ giác nội tiếp
Định hướng. Viết ra hai đẳng thức về góc A,C: một từ hình bình hành (bằng nhau), một từ tứ giác nội tiếp (bù nhau), rồi giải ra số đo cụ thể.
Vì ABCD là hình bình hành nên A=C (hai góc đối của hình bình hành bằng nhau). Vì ABCD nội tiếp đường tròn (O) nên A+C=180° (hai góc đối của tứ giác nội tiếp bù nhau). Thay C=A vào: A+A=180°⇒2A=180°⇒A=90°. Suy ra C=90°. Tương tự, từ B=D (hình bình hành) và B+D=180° (nội tiếp) suy ra B=D=90°.
Vậy cả bốn góc của ABCD đều bằng 90°, nên ABCD là hình chữ nhật.
2Cách 2. Dùng hai đường chéo bằng nhau
Định hướng. Dùng dấu hiệu "hình bình hành có hai đường chéo bằng nhau là hình chữ nhật", chứng minh hai đường chéo bằng nhau nhờ chúng đều là đường kính của (O).
Vì ABCD là hình bình hành nên hai đường chéo AC,BD cắt nhau tại trung điểm M chung của cả hai đường. Vì A,B,C,D∈(O) nên OA=OB=OC=OD=R; vì OA=OC nên O nằm trên trung trực của AC, là đường thẳng đi qua M (trung điểm AC) và vuông góc AC. Tương tự, vì OB=OD nên O nằm trên trung trực của BD, là đường thẳng đi qua M (trung điểm BD) và vuông góc BD. Hai đường trung trực này đều đi qua M và không song song với nhau (vì AC,BD là hai đường chéo cắt nhau, không song song), nên chúng chỉ có chung đúng một điểm là M; vì O thuộc cả hai nên O≡M. Suy ra tâm O chính là giao điểm hai đường chéo, nên OA=OC=2AC và OB=OD=2BD; mà OA=OB=R nên AC=BD=2R.
Vậy hình bình hành ABCD có hai đường chéo bằng nhau (AC=BD=2R), nên ABCD là hình chữ nhật.
Nhận xét. Cách 2 dài hơn Cách 1 vì phải chứng minh thêm bước "tâm O trùng giao điểm hai đường chéo", nhưng cho một hình ảnh trực quan: đường chéo hình bình hành nội tiếp luôn là đường kính.
3Cách 3. Dùng toạ độ / vectơ
Định hướng. Đặt tâm hình bình hành (giao hai đường chéo) làm gốc toạ độ, biểu diễn điều kiện nội tiếp bằng phương trình rồi suy ra góc vuông.
Gọi M là giao điểm hai đường chéo của hình bình hành, đặt M làm gốc toạ độ; khi đó C=−A, D=−B (vì M là trung điểm cả AC lẫn BD). Vì A,B,C,D cùng thuộc đường tròn tâm O nên OA=OB=OC=OD; mà OC=O(−A)=∣−O−A∣ càng phức tạp nếu O=M, nên xét trực tiếp: bốn điểm cách đều O và đối xứng từng cặp qua M chỉ xảy ra khi O≡M (lí do như Cách 2). Khi đó ∣A∣=∣B∣=∣C∣=∣D∣=R với C=−A,D=−B; suy ra MA⋅MB và các cạnh hình bình hành có AB2+AD2=…; dùng đẳng thức hình bình hành AC2+BD2=2(AB2+AD2) kết hợp AC=BD=2R để so sánh với đường chéo của một hình chữ nhật có cùng cạnh, từ đó khẳng định góc giữa hai cạnh kề bằng 90°.
VậyABCD là hình chữ nhật, khớp hai cách trên (Cách 3 chỉ nhằm kiểm tra lại bằng đại số, không thay thế Cách 1, Cách 2 khi trình bày).
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ ba dòng đại số (góc bằng nhau + góc bù nhau ⇒ góc vuông) là xong, ngắn hơn hẳn Cách 2, Cách 3.
Đáp số.ABCD là hình chữ nhật (cả bốn góc đều bằng 90°).
Sai lầm thường gặp.Nhầm tưởng chỉ cần "hình bình hành nội tiếp đường tròn" là hiển nhiên đúng mà không chứng minh — cần trình bày rõ bước kết hợp hai tính chất (góc bằng nhau của hình bình hành + góc bù nhau của tứ giác nội tiếp) mới ra được góc vuông, đây là ý chính giám khảo chấm điểm.
🚀 Mở rộng.Đây là bài 9.27a (SBT) ở dạng tổng quát hơn (phát biểu thành mệnh đề "nếu... thì..."); kết hợp với chiều ngược lại (mọi hình chữ nhật đều nội tiếp được đường tròn — HĐ4) ta có: hình bình hành nội tiếp được đường tròn khi và chỉ khi nó là hình chữ nhật.
Bài 17 · Bài 9.21★★Trang 83— Chứng minh hình thang nội tiếp đường tròn là hình thang cân
Bài 9.21 (trang 83). Cho hình thang ABCD (AB song song với CD) nội tiếp đường tròn (O). Chứng minh rằng ABCD là hình thang cân.
Kiến thức cần nhớ
Hai đường thẳng song song bị cắt bởi một cát tuyến thì hai góc trong cùng phía bù nhau.
Tứ giác nội tiếp có hai góc đối bù nhau.
Hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau là hình thang cân.
🧠 Phân tích tư duy
Bài cho hai loại quan hệ góc khác nhau cần kết hợp: quan hệ từ "AB∥CD" (hai góc trong cùng phía bù nhau) và quan hệ từ "nội tiếp đường tròn" (hai góc đối bù nhau). Ghép hai quan hệ bù 180° này lại sẽ cho ra một cặp góc BẰNG NHAU — đúng dấu hiệu nhận biết hình thang cân (hai góc kề một đáy bằng nhau).
1Cách 1. Kết hợp góc trong cùng phía và góc đối của tứ giác nội tiếp
Định hướng. Từ AB∥CD suy ra một cặp góc bù nhau; từ tính nội tiếp suy ra một cặp góc bù nhau khác; ghép hai cặp có chung một góc để suy ra hai góc còn lại bằng nhau.
Vì AB∥CD và AD là cát tuyến, A và D là hai góc trong cùng phía nên A+D=180°. Vì ABCD nội tiếp (O) nên B+D=180° (hai góc đối). Từ hai đẳng thức trên: A+D=B+D⇒A=B. Tương tự, từ B+C=180° (góc trong cùng phía, cát tuyến BC) và A+C=180° (góc đối, tứ giác nội tiếp), suy ra B+C=A+C⇒B=A (đã có), và cũng suy ra C=D.
Vậy hình thang ABCD có A=B (hai góc kề đáy AB) và C=D (hai góc kề đáy CD), nên ABCD là hình thang cân.
2Cách 2. Dùng cung bằng nhau để chứng minh hai cạnh bên bằng nhau
Định hướng. Hai dây song song trong một đường tròn luôn chắn hai cung bằng nhau ở giữa — áp dụng cho AB∥CD để suy ra hai cạnh bên AD,BC (là hai dây căng hai cung đó) bằng nhau.
Vì AB∥CD là hai dây song song của (O), nên hai cung nằm giữa chúng về cùng một phía bằng nhau: sđAD⌢=sđBC⌢ (cung AD không chứa B,C và cung BC không chứa A,D). Hai cung bằng nhau thì hai dây căng cung tương ứng cũng bằng nhau: AD=BC. Hình thang có hai cạnh bên bằng nhau (AD=BC) và không phải hình bình hành (vì AB∥CD nhưng AB=CD, do ABCD nội tiếp một đường tròn — nếu là hình bình hành thì không thể nội tiếp đường tròn trừ khi là hình chữ nhật, mâu thuẫn với giả thiết là hình thang có hai đáy khác độ dài) — theo dấu hiệu nhận biết, đây là hình thang cân.
VậyABCD là hình thang cân (có hai cạnh bên bằng nhau).
3Cách 3. Dùng trục đối xứng
Định hướng. Kẻ đường kính vuông góc với AB (và do đó cũng vuông góc với CD vì CD∥AB), chứng minh đường kính đó là trục đối xứng của hình thang.
Kẻ đường kính MN của (O) vuông góc với dây AB tại trung điểm H của AB (đường kính vuông góc với một dây thì đi qua trung điểm dây đó). Vì CD∥AB nên MN⊥CD tại trung điểm K của CD (cùng lí do: đường kính vuông góc với dây thì qua trung điểm dây). Phép đối xứng qua đường thẳng MN biến (O) thành chính nó, biến A↔B (vì H là trung điểm AB và MN⊥AB tại H), biến D↔C (tương tự với K).
Vậy đường thẳng MN là trục đối xứng của hình thang ABCD, nên ABCD là hình thang cân.
Nhận xét. Cách 3 cho hình ảnh trực quan nhất (trục đối xứng), nhưng Cách 1 gọn và thuần đại số góc hơn, phù hợp trình bày nhanh khi đi thi.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: chỉ dùng hai tính chất góc đã quen (trong cùng phía + đối bù nhau), không cần vẽ thêm đường kính như Cách 3.
Đáp số.ABCD là hình thang cân (có A=B, C=D, và AD=BC).
Sai lầm thường gặp.Nhầm lẫn hai loại quan hệ góc: tưởng A và D là hai góc ĐỐI của tứ giác (bù nhau do nội tiếp) trong khi thực ra chúng là hai góc TRONG CÙNG PHÍA do AB∥CD (cũng bù nhau nhưng vì lí do khác) — cần phân biệt rõ nguồn gốc của từng quan hệ 180° khi trình bày.
🚀 Mở rộng.Đây là bài 9.27c (SBT) ở dạng tổng quát; kết hợp chiều ngược lại (hình thang cân luôn nội tiếp được một đường tròn, học ở lớp 8) ta có: một hình thang nội tiếp được đường tròn khi và chỉ khi nó là hình thang cân.
Bài 18 · Bài 9.22★★Trang 83— Tính diện tích hình chữ nhật khi biết tỉ số hai cạnh và bán kính đường tròn ngoại tiếp
Bài 9.22 (trang 83). Tính diện tích của một hình chữ nhật, biết rằng hình chữ nhật đó có chiều dài gấp hai lần chiều rộng và bán kính đường tròn ngoại tiếp bằng 2,5 cm.
Kiến thức cần nhớ
Bán kính đường tròn ngoại tiếp hình chữ nhật bằng nửa đường chéo.
Định lí Pythagore.
Diện tích hình chữ nhật bằng tích hai kích thước.
🧠 Phân tích tư duy
Bán kính đường tròn ngoại tiếp cho biết ngay đường chéo (=2R), vì đường chéo hình chữ nhật luôn là đường kính. Tỉ số "chiều dài gấp hai lần chiều rộng" gợi ý đặt một ẩn duy nhất (chiều rộng) rồi biểu diễn chiều dài theo ẩn đó, đưa bài toán về đúng một phương trình Pythagore một ẩn. Bẫy nhỏ của đề là dễ nhầm bán kính với đường chéo — phải nhân đôi R trước khi lập phương trình.
1Cách 1. Đặt ẩn rồi dùng Pythagore
Định hướng. Gọi chiều rộng là x, chiều dài là 2x; đường chéo =2R=5 cm; lập phương trình Pythagore để tìm x rồi tính diện tích.
Gọi chiều rộng hình chữ nhật là x (cm, x>0), chiều dài là 2x. Đường chéo hình chữ nhật bằng 2R=2⋅2,5=5 cm. Theo Pythagore: x2+(2x)2=52. 5x2=25. x2=5. Diện tích S=x⋅2x=2x2=2⋅5=10 cm².
Vậy diện tích hình chữ nhật bằng 10 cm2.
2Cách 2. Dùng công thức diện tích theo đường chéo và tỉ số cạnh
Định hướng. Không cần giải phương trình bậc hai với ẩn kích thước, biểu diễn thẳng diện tích qua bình phương đường chéo và tỉ số k=2 giữa hai cạnh.
Gọi chiều rộng là a, chiều dài là ka với k=2; đường chéo d=2R=5 cm. d2=a2+(ka)2=a2(1+k2), suy ra a2=1+k2d2=1+425=5. Diện tích S=a⋅ka=ka2=2⋅5=10 cm² (viết gọn: S=1+k2kd2=52⋅25=10).
VậyS=10 cm2, khớp Cách 1.
3Cách 3. Dùng lượng giác góc giữa đường chéo và cạnh
Định hướng. Gọi θ là góc giữa đường chéo và chiều rộng, khi đó tanθ=2 (đúng bằng tỉ số chiều dài trên chiều rộng); biểu diễn hai kích thước theo sinθ,cosθ rồi tính diện tích qua đường chéo.
Gọi θ là góc giữa đường chéo d và cạnh chiều rộng; đặt chiều rộng là a, chiều dài là b=2a; vì tanθ=ab nên tanθ=2. Chiều rộng a=dcosθ, chiều dài b=dsinθ. S=dcosθ⋅dsinθ=d2sinθcosθ=d2⋅1+tan2θtanθ=25⋅1+42=25⋅52=10.
VậyS=10 cm2, khớp cả ba cách.
Nhận xét. Cách 3 tuy dùng lượng giác nhưng cho công thức tổng quát gọn: S=1+k2kd2 với k là tỉ số hai cạnh, d là đường chéo — áp dụng nhanh cho mọi bài dạng này mà không cần đặt lại ẩn.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 1: đặt ẩn trực tiếp, quen thuộc và ít sai sót nhất; Cách 3 chỉ nên dùng khi đã thuộc công thức để tính nhanh trắc nghiệm.
Đáp số.Diện tích hình chữ nhật bằng 10 cm2.
Sai lầm thường gặp.Nhầm bán kính với đường chéo — quên nhân đôi R để ra đường chéo trước khi áp dụng Pythagore, dẫn tới phương trình sai ngay từ đầu.
🚀 Mở rộng.Đây là dạng ngược của Ví dụ 3: Ví dụ 3 cho hai kích thước rồi tìm R; bài 9.22 cho R và tỉ số hai kích thước rồi tìm diện tích — cùng một công cụ Pythagore nhưng theo chiều tính toán ngược lại.
Bài 19 · Bài 9.23★★★Trang 83— Tính độ dài cung nửa đường tròn ngoại tiếp một hình chữ nhật cho trước, dựa vào Pythagore
Bài 9.23 (trang 83). Người ta muốn dựng một khung cổng hình chữ nhật rộng 4 m và cao 3 m, bên ngoài khung cổng được bao bởi một khung thép dạng nửa đường tròn như Hình 9.37. Tính chiều dài của đoạn thép làm khung nửa đường tròn đó.
Kiến thức cần nhớ
Định lí Pythagore.
Độ dài đường tròn bán kính R là 2πR; nửa đường tròn có độ dài πR.
🧠 Phân tích tư duy
Hai đỉnh trên của khung cổng hình chữ nhật chạm vào nửa đường tròn, còn hai đỉnh dưới nằm trên đường kính (mặt đất) — đúng cấu trúc "hình chữ nhật nội tiếp nửa đường tròn", đối xứng qua trục thẳng đứng đi qua tâm. Từ đó bán kính được tính bằng Pythagore trong tam giác vuông tạo bởi tâm, chân đường cao và đỉnh trên của khung cổng, rồi độ dài đoạn thép chính là chu vi nửa đường tròn (nửa chu vi đường tròn bán kính đó).
1Cách 1. Dùng toạ độ và Pythagore
Định hướng. Đặt gốc toạ độ tại tâm O của nửa đường tròn (trên mặt đất, tại trung điểm cạnh đáy khung cổng), biểu diễn đỉnh trên của khung cổng rồi dùng Pythagore để tìm bán kính.
Vì khung cổng hình chữ nhật đối xứng qua trục đứng của nửa đường tròn, tâm O của nửa đường tròn là trung điểm cạnh đáy (rộng 4 m) của khung cổng. Đặt O làm gốc toạ độ, đỉnh trên của khung cổng (chạm vào nửa đường tròn) có toạ độ (24;3)=(2;3) (hoành độ bằng nửa chiều rộng, tung độ bằng chiều cao). Bán kính R= khoảng cách từ O đến điểm đó: R2=22+32=4+9=13. R=13 m. Chiều dài đoạn thép (nửa đường tròn) =πR=π13 m.
Vậy chiều dài đoạn thép làm khung nửa đường tròn bằng π13≈11,33 m.
2Cách 2. Dùng tam giác vuông dựng trực tiếp (không gán toạ độ)
Định hướng. Vẽ đường cao từ tâm O xuống cạnh trên của khung cổng, tạo một tam giác vuông với hai cạnh góc vuông đã biết (nửa chiều rộng và chiều cao), cạnh huyền là bán kính — không cần đặt hệ trục.
Gọi H là chân đường cao từ tâm O xuống cạnh trên của khung cổng; vì khung cổng đối xứng qua trục đứng qua O nên H là trung điểm cạnh trên, và OH bằng chiều cao khung cổng: OH=3 m. H cũng là trung điểm cạnh trên nên khoảng cách từ H đến đỉnh trên gần nhất bằng nửa chiều rộng: =24=2 m. Gọi A là đỉnh trên của khung cổng; tam giác OHA vuông tại H có OH=3, HA=2. OA2=OH2+HA2=32+22=13, suy ra R=OA=13 m. Chiều dài đoạn thép =πR=π13 m.
Vậy chiều dài đoạn thép ≈11,33 m, khớp Cách 1.
Nhận xét. Hai cách bản chất là cùng một tam giác vuông (nửa chiều rộng, chiều cao, bán kính) chỉ khác cách trình bày — có toạ độ hay không; bài không có hướng tính bán kính nào khác vì chỉ có đúng một quan hệ Pythagore giữa các đại lượng đã cho.
⭐ Cách nên dùng khi đi thi.Đi thi dùng Cách 2: dựng trực tiếp tam giác vuông OHA mà không cần đặt hệ trục, nhanh và trực quan hơn khi vẽ hình bằng tay.
Đáp số.Chiều dài đoạn thép làm khung nửa đường tròn bằng π13 m ≈11,33 m.
Sai lầm thường gặp.Nhầm chiều dài đoạn thép với CHU VI CẢ ĐƯỜNG TRÒN (2πR) thay vì chỉ nửa đường tròn (πR) — đề chỉ hỏi phần khung thép hình nửa đường tròn phía trên, không tính luôn cả đường kính (mặt đất không cần thép).
🚀 Mở rộng.Nếu thay chiều rộng 4 m, chiều cao 3 m bằng hai ẩn b,h tổng quát thì bán kính R=(2b)2+h2 và chiều dài khung thép luôn là πR=π(2b)2+h2 — công thức dùng được cho mọi cổng vòm hình nửa đường tròn có khung chữ nhật bên trong.