Chủ đề 8. Các số đến 10 000

Bài 47. Làm quen với chữ số La Mã

Vở bài tập Toán 3 — Kết nối tri thức, tập 2 · 8 bài tập, mỗi câu ít nhất 2 cách giải.

Bài 1 · Tiết 1 · Bài 1★★Trang 10Đọc giờ (có phút) trên đồng hồ ghi số La Mã
Bài 1 (trang 10). Điền vào chỗ chấm (theo mẫu).
Bốn đồng hồ ghi số bằng chữ số La Mã, đồng hồ thứ nhất chỉ 3 giờ (mẫu); viết giờ của ba đồng hồ còn lại.
IIIIIIIVVVIVIIVIIIIXXXIXIImẫuIIIIIIIVVVIVIIVIIIIXXXIXII?IIIIIIIVVVIVIIVIIIIXXXIXII?IIIIIIIVVVIVIIVIIIIXXXIXII?
Kiến thức cần nhớ
  • Kim ngắn chỉ giờ, kim dài chỉ phút.
  • Kim dài chỉ đúng vào số La Mã thứ mấy trong 12 số thì số phút bằng số đó nhân với 5.
  • Kim ngắn nằm giữa hai số thì đọc theo số nhỏ hơn (giờ chưa tròn).
🧠 Phân tích tư duy
Đồng hồ mẫu có kim dài chỉ đúng số XII nên là giờ đúng (3 giờ); ba đồng hồ còn lại kim dài không chỉ vào XII nên phải đọc thêm cả phút: kim dài chỉ vào số La Mã nào thì lấy số đó nhân với 5 ra số phút. Bẫy của đề là đồng hồ thứ hai kim ngắn nằm giữa VIII và IX (không đúng vào một số), phải hiểu là đã quá 8 giờ, đang tiến dần tới 9 giờ, nên vẫn đọc là 8 giờ mấy phút chứ không phải 9 giờ.
1Cách 1. Đọc kim ngắn trước, kim dài sau rồi ghép lại

Định hướng. Đọc số giờ theo kim ngắn (giờ chưa tròn thì lấy số nhỏ hơn), sau đó đọc số phút bằng cách lấy số thứ tự của số La Mã mà kim dài chỉ vào nhân với 5.

Đồng hồ mẫu: kim dài chỉ đúng XII, kim ngắn chỉ đúng III nên là 3 giờ.
Đồng hồ thứ hai: kim ngắn ở giữa VIII và IX (chỉ 8 giờ, chưa tròn 9 giờ), kim dài chỉ vào VI (số thứ 6) nên phút là (phút): đồng hồ chỉ 8 giờ 30 phút.
Đồng hồ thứ ba: kim dài chỉ đúng XII, kim ngắn chỉ đúng XII nên là 12 giờ.
Đồng hồ thứ tư: kim ngắn ở giữa V và VI (chỉ 5 giờ, chưa tròn 6 giờ), kim dài chỉ vào III (số thứ 3) nên phút là (phút): đồng hồ chỉ 5 giờ 15 phút.

Vậy đồng hồ mẫu 3 giờ; đồng hồ thứ hai 8 giờ 30 phút; đồng hồ thứ ba 12 giờ; đồng hồ thứ tư 5 giờ 15 phút.

2Cách 2. Đếm số vạch phút nhỏ mà kim dài đã đi qua

Định hướng. Không quy đổi số La Mã sang phép nhân, chỉ đếm trực tiếp số vạch phút nhỏ (mỗi vạch 1 phút) mà kim dài đã đi qua kể từ số XII.

Đồng hồ thứ hai: kim dài đi qua đúng vạch phút nhỏ kể từ XII nên là 30 phút; ghép với giờ 8 (kim ngắn qua số VIII, chưa tới IX) được 8 giờ 30 phút.
Đồng hồ thứ tư: kim dài đi qua đúng vạch phút nhỏ kể từ XII nên là 15 phút; ghép với giờ 5 được 5 giờ 15 phút.
Đồng hồ thứ ba: kim dài không lệch vạch nào khỏi XII (0 phút), kim ngắn đúng XII nên là 12 giờ.

Vậy kết quả trùng khớp hoàn toàn với Cách 1.

Nhận xét. Đếm từng vạch chắc chắn nhưng chậm hơn cách nhân số thứ tự với 5.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Nên dùng Cách 1 (nhân số thứ tự với 5) vì nhanh hơn nhiều so với đếm từng vạch phút nhỏ một.
Đáp số. Đồng hồ mẫu: 3 giờ. Đồng hồ 2: 8 giờ 30 phút. Đồng hồ 3: 12 giờ. Đồng hồ 4: 5 giờ 15 phút.
Sai lầm thường gặp. Thấy kim ngắn ở giữa VIII và IX liền đọc luôn là 9 giờ (lấy số lớn hơn) — sai vì giờ chỉ tròn khi kim dài đúng số XII, ở đây kim dài đang chỉ VI nên vẫn là 8 giờ (30 phút), chưa sang 9 giờ.
🚀 Mở rộng. Nếu kim dài của đồng hồ mẫu chỉ vào số IX thay vì XII thì đồng hồ đó chỉ mấy giờ mấy phút? ( phút, tức 3 giờ 45 phút.)
Bài 2 · Tiết 1 · Bài 2Trang 10Nối số thường với số La Mã có cùng giá trị
Bài 2 (trang 10). Nối (theo mẫu).
Bốn hình quả bên trái ghi số thường: (10), (5), (9), (20); nối mỗi hình với thẻ số La Mã có cùng giá trị ở bên phải: (IX), (XX), (X), (V). Mẫu: (10) nối với (X).
10X5V9IX20XX
Kiến thức cần nhớ
  • 10 viết là X; 5 viết là V; 9 viết là IX; 20 viết là XX.
  • Muốn nối đúng, phải đổi số thường sang La Mã (hoặc ngược lại) trước khi so khớp, không đoán theo vị trí gần nhau.
🧠 Phân tích tư duy
Mỗi hình quả chỉ cần đúng một thẻ số La Mã có cùng giá trị, không phụ thuộc hình quả đó vẽ gì. Bẫy của đề là bốn thẻ La Mã xáo trộn không theo thứ tự (IX, XX, X, V), dễ nối nhầm nếu không đổi từng số ra La Mã trước khi nối.
1Cách 1. Đổi từng số thường sang La Mã rồi tìm thẻ khớp

Định hướng. Đổi lần lượt các số 10, 5, 9, 20 sang chữ số La Mã, sau đó tìm đúng thẻ bên phải có chữ La Mã trùng khớp.

viết là X (đã nối theo mẫu).
viết là V.
viết là IX.
viết là XX.

Vậy nối (10)–X (mẫu); (5)–V; (9)–IX; (20)–XX.

2Cách 2. Đổi ngược bốn thẻ La Mã sang số thường rồi so khớp

Định hướng. Làm ngược lại: đọc bốn thẻ IX, XX, X, V thành số thường rồi tìm đúng hình quả bên trái có cùng giá trị.

IX = X - I , khớp hình (9).
XX = X + X , khớp hình (20).
X , khớp hình (10) (đúng như mẫu).
V , khớp hình (5).

Vậy kết quả trùng khớp hoàn toàn với Cách 1.

Nhận xét. Đổi theo chiều nào cũng ra cùng một đáp án, nên chọn chiều nào mình thấy quen hơn.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Nên dùng Cách 1 (đổi số thường sang La Mã) vì đề đã cho sẵn các số thường theo thứ tự dễ tính hơn.
Đáp số. (10)–X (mẫu); (5)–V; (9)–IX; (20)–XX.
Sai lầm thường gặp. Nối theo vị trí gần nhau trên hình (ví dụ nối bừa hình thứ hai với thẻ thứ hai) mà không đổi số ra La Mã để kiểm tra lại giá trị.
🚀 Mở rộng. Nếu có thêm hình ghi số 15, số La Mã tương ứng nối vào là số nào? (XV.)
Bài 3 · Tiết 1 · Bài 3Trang 11Đọc và viết số La Mã trong phạm vi 20
Bài 3 (trang 11). a) Viết cách đọc các số La Mã sau (theo mẫu): I: một; VII: ……; XI: ……; XIX: ……
b) Viết các số từ 16 đến 20 bằng chữ số La Mã.
Kiến thức cần nhớ
  • VII = V + I + I = 7; XI = X + I = 11; XIX = X + IX = 19 (vì IX = 9).
  • Các số 16-20 viết là XVI, XVII, XVIII, XIX, XX.
🧠 Phân tích tư duy
Ý a) có số XIX cần chú ý: chữ I đứng trước X nên phải trừ (XIX = X + IX = 10 + 9 = 19), không được cộng nhầm thành 21. Ý b) là năm số liên tiếp cuối cùng của bảng 1-20, đều có dạng X ghép với số La Mã từ 6 đến 10.
1Cách 1. Tách từng số La Mã thành các chữ I, V, X rồi cộng — trừ

Định hướng. Tách mỗi số La Mã thành các chữ I, V, X, cộng hoặc trừ đúng quy tắc để đọc thành số thường; với ý b) ghép ngược lại X với phần đơn vị từ 6 đến 10.

a) VII = V + I + I : đọc là bảy.
XI = X + I : đọc là mười một.
XIX = X + (X-I) : đọc là mười chín.
b) nên viết XVI; nên viết XVII; nên viết XVIII; nên viết XIX; nên viết XX.

Vậy a) VII: bảy; XI: mười một; XIX: mười chín. b) 16 đến 20 viết là XVI, XVII, XVIII, XIX, XX.

2Cách 2. Tra theo bảng số La Mã 1-20 đã học

Định hướng. Dùng bảng các số La Mã từ 1 đến 20 đã học ở bài Làm quen với chữ số La Mã, dò tìm từng số rồi chép lại, không cần cộng trừ.

Dò bảng: VII ứng với 7 (bảy); XI ứng với 11 (mười một); XIX ứng với 19 (mười chín).
Dò tiếp các số 16, 17, 18, 19, 20 trong bảng, chép ra: XVI, XVII, XVIII, XIX, XX.

Vậy kết quả trùng khớp hoàn toàn với Cách 1.

Nhận xét. Tra bảng nhanh nếu đã thuộc, nhưng Cách 1 giúp tự viết được cả những số La Mã chưa gặp bao giờ.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Nên dùng Cách 1 vì hiểu quy tắc cộng — trừ sẽ tự đọc, viết được mọi số La Mã, không phụ thuộc bảng có sẵn.
Đáp số. a) VII: bảy; XI: mười một; XIX: mười chín. b) XVI; XVII; XVIII; XIX; XX.
Sai lầm thường gặp. Đọc XIX thành 21 vì cộng nhầm thay vì nhận ra chữ I đứng trước chữ X ở cuối phải trừ đi.
🚀 Mở rộng. So sánh XIX và XXI: hai số này hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị? ( đơn vị.)
Bài 4 · Tiết 1 · Bài 4★★Trang 11Tìm số trang bị mất dựa vào hai trang liền kề đã biết
Bài 4 (trang 11). Viết số La Mã thích hợp vào chỗ chấm.
Một cuốn sách bị mất một tờ (như hình bên). Các trang sách được ghi bằng số La Mã. Trang liền trước tờ bị mất ghi XI, trang liền sau ghi XIV. Các trang bị mất được ghi số …… và ……
XI?XIVTờ giấy bị mất nằm giữa trang XI và trang XIV
Kiến thức cần nhớ
  • Một tờ giấy sách gồm 2 trang in liên tiếp.
  • Các trang trong sách được đánh số theo thứ tự các số tự nhiên liên tiếp.
🧠 Phân tích tư duy
Một tờ giấy trong sách luôn in 2 trang liên tiếp (một số lẻ và một số chẵn liền sau nó), nên hai trang bị mất phải là hai số liên tiếp nằm giữa XI và XIV. Bẫy của đề là dễ tưởng chỉ mất một trang (chỉ điền một số XII hoặc XIII) trong khi đề đã hỏi rõ 'các trang' (số nhiều) và một tờ giấy luôn có 2 mặt.
1Cách 1. Liệt kê các số liên tiếp nằm giữa hai trang đã biết

Định hướng. Đổi XI và XIV sang số thường để dễ hình dung dãy số liên tiếp, liệt kê các số nằm giữa hai số đó rồi đổi lại La Mã.

XI ; XIV .
Các số tự nhiên liên tiếp nằm giữa .
viết là XII; viết là XIII.

Vậy hai trang bị mất ghi số XII và XIII.

2Cách 2. Đếm thêm 1 đơn vị trực tiếp trên số La Mã

Định hướng. Không đổi hẳn sang số thường, chỉ cần đếm thêm 1 đơn vị liên tiếp ngay trên số La Mã XI cho tới khi gặp XIV.

Từ XI đếm thêm 1 được XII.
Từ XII đếm thêm 1 được XIII.
Từ XIII đếm thêm 1 được XIV (đúng bằng trang đã biết, dừng lại).

Vậy kết quả trùng khớp hoàn toàn với Cách 1: hai trang bị mất là XII và XIII.

Nhận xét. Đếm thêm trực tiếp trên La Mã nhanh khi khoảng cách hai số đã biết không quá xa nhau.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Nên dùng Cách 1 (đổi sang số thường) vì tránh nhầm lẫn khi phải đếm nhiều bước liên tiếp trên chữ La Mã.
Đáp số. Hai trang bị mất ghi số XII và XIII.
Sai lầm thường gặp. Chỉ điền một số (ví dụ chỉ ghi XII) vì quên rằng một tờ giấy có 2 mặt, tức luôn mất đúng 2 trang liên tiếp.
🚀 Mở rộng. Nếu trang liền trước tờ mất ghi XVII và trang liền sau ghi XX, thì các trang bị mất ghi số nào? (XVIII và XIX.)
Bài 5 · Tiết 2 · Bài 1★★Trang 11Đếm số que tính để xếp thành số La Mã
Bài 1 (trang 11). Viết số thích hợp vào chỗ chấm.
Dùng que tính có thể xếp thành các số La Mã như hình bên (I: 1 que; V: 2 que; X: 2 que).
a) Để xếp cả số 3 và số 6 bằng chữ số La Mã thì dùng hết …… que tính.
b) Để xếp ba số 12 bằng chữ số La Mã thì dùng hết …… que tính.
Kiến thức cần nhớ
  • I tốn 1 que, V tốn 2 que, X tốn 2 que.
  • Số 3 viết là III (3 que); số 6 viết là VI (3 que); số 12 viết là XII (4 que).
🧠 Phân tích tư duy
Ý a) phải xếp hai số khác nhau (3 và 6) rồi cộng số que của cả hai; ý b) chỉ có một số (12) nhưng phải xếp lặp lại ba lần nên dùng phép nhân thay vì cộng ba lần cho nhanh. Bẫy của đề là số 3 (III, ba chữ I) và số 6 (VI, gồm V và I) tưởng chừng bằng nhau về độ dài chữ viết nhưng số que lại bằng nhau (đều 3 que) — không được suy luận 'số to hơn thì tốn nhiều que hơn'.
1Cách 1. Đếm số que của từng chữ số La Mã rồi cộng lại

Định hướng. Viết số cần xếp bằng chữ số La Mã, tách thành từng chữ I, V, X rồi cộng số que của từng chữ.

a) viết là III, gồm ba chữ I: số que là (que).
viết là VI, gồm V và I: số que là (que).
Xếp cả hai số thì số que tính là:
(que)
b) viết là XII, gồm X, I, I: số que xếp 1 số 12 là (que).
Xếp ba số 12 thì số que tính là:
(que)

Vậy a) xếp cả số 3 và số 6 dùng hết 6 que tính. b) xếp ba số 12 dùng hết 12 que tính.

2Cách 2. Xếp trực tiếp trên hình rồi đếm tổng số que

Định hướng. Xếp trực tiếp các chữ số La Mã bằng que tính theo đúng mẫu, sau đó đếm tổng số que đã dùng.

a) Xếp III: 3 que xếp thẳng đứng liền nhau. Xếp VI: 2 que chéo (chữ V) ghép thêm 1 que thẳng (chữ I), đếm được que. Đếm cả hai hình: que.
b) Xếp XII: 2 que chéo (chữ X) ghép thêm 2 que thẳng (hai chữ I), đếm được que; xếp thêm 2 lần như vậy nữa, đếm tổng cộng que.

Vậy kết quả trùng khớp hoàn toàn với Cách 1.

Nhận xét. Xếp trực tiếp giúp hình dung rõ hình dạng, nhưng chậm hơn cách đếm bằng phép cộng, phép nhân.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Nên dùng Cách 1 vì tính bằng phép cộng, phép nhân nhanh hơn nhiều so với xếp que rồi đếm lại từng que một.
Đáp số. a) Xếp cả số 3 và số 6 dùng hết 6 que tính. b) Xếp ba số 12 dùng hết 12 que tính.
Sai lầm thường gặp. Tưởng số 6 (VI) tốn nhiều que hơn số 3 (III) vì 6 lớn hơn 3, trong khi thực tế cả hai đều tốn đúng 3 que tính.
🚀 Mở rộng. Để xếp bốn số 11 (XI) bằng chữ số La Mã thì dùng hết mấy que tính? (Mỗi số 11 tốn que, bốn số tốn que.)
Bài 6 · Tiết 2 · Bài 2★★Trang 11Điền số La Mã còn thiếu trong dãy số liên tiếp
Bài 2 (trang 11). Viết số thích hợp vào thùng hàng còn trống.
Bảy thùng hàng xếp liền nhau được đánh số bằng chữ số La Mã liên tiếp, đã biết: V; VI; VII; ……; IX; ……; …….
VVIVII?IX??
Kiến thức cần nhớ
  • Dãy số ghi trên các thùng hàng là dãy số tự nhiên liên tiếp.
  • Thùng đứng ở vị trí thứ mấy trong dãy thì mang đúng số thứ tự đó.
🧠 Phân tích tư duy
Các thùng hàng được đánh số theo một dãy số tự nhiên liên tiếp, mỗi thùng hơn thùng liền trước 1 đơn vị. Chỉ cần nhận ra quy luật đó rồi đếm tiếp là điền được các thùng còn trống. Bẫy của đề là các ô trống nằm xen kẽ với ô đã biết, dễ đếm nhảy cóc nếu không đếm tuần tự từng thùng một.
1Cách 1. Nhận ra quy luật dãy số liên tiếp rồi điền tiếp

Định hướng. Đổi các số La Mã đã biết sang số thường để thấy rõ quy luật dãy số liên tiếp, từ đó điền số còn thiếu rồi đổi lại La Mã.

Các thùng đã biết: V, VI, VII ứng với — là dãy số liên tiếp hơn kém nhau 1 đơn vị.
Thùng thứ tư liền sau VII phải là , viết là VIII (đúng liền trước thùng đã biết là IX , khớp).
Thùng thứ sáu liền sau IX () phải là , viết là X.
Thùng thứ bảy liền sau đó phải là , viết là XI.

Vậy ba thùng còn trống lần lượt ghi VIII, X, XI.

2Cách 2. Đánh số thứ tự các thùng rồi ghi thẳng số La Mã tương ứng

Định hướng. Đánh số thứ tự bảy thùng hàng là 1, 2, 3, …, 7; vì thùng thứ nhất mang số 5 nên thùng thứ mang số , từ đó ghi thẳng số La Mã tương ứng cho các thùng còn trống (thùng thứ 4, thứ 6, thứ 7).

Thùng thứ 4: , viết là VIII.
Thùng thứ 6: , viết là X.
Thùng thứ 7: , viết là XI.

Vậy kết quả trùng khớp hoàn toàn với Cách 1: ba thùng còn trống ghi VIII, X, XI.

Nhận xét. Lập công thức 'thùng thứ mang số ' giúp điền nhanh mà không cần đếm từng bước một.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Nên dùng Cách 1 (đếm tiếp theo quy luật) vì trực quan, dễ kiểm tra lại bằng cách đếm xuôi từ đầu dãy.
Đáp số. Ba thùng còn trống lần lượt ghi VIII, X, XI.
Sai lầm thường gặp. Đếm nhầm thứ tự, điền thùng thứ tư là IX (trùng với thùng thứ năm đã cho sẵn) thay vì VIII, làm hai thùng liền nhau ghi trùng số.
🚀 Mở rộng. Nếu dãy thùng hàng kéo dài thêm đến thùng thứ mười, thùng đó ghi số La Mã nào? (Thùng thứ 10 mang số , viết là XIV.)
Bài 7 · Tiết 2 · Bài 3★★★Trang 12Đọc giờ trên đồng hồ mặt trời rồi nối với đồng hồ điện tử cùng giờ
Bài 3 (trang 12). Nối hai đồng hồ chỉ cùng giờ (theo mẫu).
Bốn đồng hồ mặt trời A, B, C, D (D vào ban đêm, không có bóng); nối với bốn đồng hồ điện tử E: 15:00; G: 23:00; H: 8:00; I: 12:00. Mẫu: A nối với E (15:00).
VIVIIVIIIIXXXIXIIIIIIIIIVVBóng kim chỉ vào số II — lúc đó là 14 giờ
Kiến thức cần nhớ
  • Đồng hồ mặt trời chỉ có bóng khi có nắng (ban ngày).
  • Bóng đổ vào nửa buổi sáng đọc thẳng, bóng đổ vào nửa buổi chiều cộng thêm 12.
  • Không có nắng (ban đêm) thì đồng hồ mặt trời không đổ bóng, không dùng để đọc giờ theo bóng được.
🧠 Phân tích tư duy
Đồng hồ mặt trời A đã nối mẫu với 15:00 (bóng chỉ vào III, buổi chiều nên giờ) — đây là chìa khoá để suy ra quy tắc chung cho ba đồng hồ còn lại: bóng đổ vào nửa buổi sáng thì đọc thẳng, bóng đổ vào nửa buổi chiều thì cộng thêm 12, còn đồng hồ không có bóng (ban đêm, không có nắng) thì không thể là buổi sáng hay buổi chiều — chỉ có thể khớp với giờ đêm khuya 23:00. Bẫy của đề là dễ quên xét trường hợp đặc biệt 'không có bóng' của đồng hồ D.
1Cách 1. Áp dụng quy tắc cộng 12 giờ, xét riêng trường hợp không có bóng

Định hướng. Dùng đúng quy tắc đã thấy ở đồng hồ mẫu A cho các đồng hồ còn lại; đồng hồ không có bóng (ban đêm) thì loại khỏi việc đọc theo hướng bóng, ghép với giờ đêm còn lại trong bốn đồng hồ điện tử.

Đồng hồ A (mẫu): bóng vào III (chiều) nên giờ — nối với E (15:00).
Đồng hồ D không có bóng (trời tối, không có nắng) nên không phải ban ngày — chỉ có thể khớp với giờ ban đêm trong bốn đồng hồ điện tử, đó là G (23:00).
Trong hai đồng hồ B, C còn lại: đồng hồ có bóng nghiêng về nửa buổi sáng thì khớp H (8:00, đọc thẳng); đồng hồ có bóng nghiêng về nửa buổi trưa (gần như thẳng đứng, sát số XII) thì khớp I (12:00).

Vậy A — E (15:00, mẫu); D — G (23:00); B — H (8:00); C — I (12:00).

2Cách 2. Loại trừ dần từ giờ đặc biệt nhất

Định hướng. Bắt đầu từ đồng hồ có dấu hiệu đặc biệt nhất (D không có bóng vì trời tối) để ghép trước với giờ đêm khuya 23:00, sau đó xử lý tiếp các đồng hồ còn lại bằng quy tắc cộng 12 giờ như mẫu.

D không có bóng, ứng với ban đêm, chỉ có thể là G (23:00) vì đây là giờ khuya duy nhất trong bốn đồng hồ điện tử.
A đã cho sẵn là mẫu, khớp E (15:00).
Còn lại B, C với H (8:00) và I (12:00): đồng hồ nào bóng gần thẳng đứng (sát XII) là giữa trưa, khớp I (12:00); đồng hồ còn lại khớp H (8:00).

Vậy kết quả trùng khớp hoàn toàn với Cách 1: D—G; B—H; C—I (cùng với mẫu A—E).

Nhận xét. Xử lý trường hợp đặc biệt (không có bóng) trước giúp thu hẹp nhanh các khả năng còn lại.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Nên dùng Cách 1 vì đi tuần tự từ mẫu đã cho, ít bỏ sót trường hợp hơn.
Đáp số. A — E (15:00, mẫu); B — H (8:00); C — I (12:00); D — G (23:00).
Sai lầm thường gặp. Quên xét đồng hồ D không có bóng (ban đêm), cứ cố đọc D theo hướng bóng như ba đồng hồ kia — nhưng ban đêm không có nắng nên không thể có bóng để đọc.
🚀 Mở rộng. Nếu có thêm một đồng hồ mặt trời với bóng chỉ đúng vào số XII, đồng hồ điện tử nào sẽ khớp với nó? (12:00 giờ trưa.)
Bài 8 · Tiết 2 · Bài 4Trang 12Nối các điểm theo đúng thứ tự số La Mã tăng dần
Bài 4 (trang 12). Nối các số La Mã theo thứ tự từ I đến XX để hoàn thiện bức tranh.
(Hai mươi điểm được đánh số bằng chữ số La Mã rải rác quanh hình một chiếc thuyền cổ.)
IIIIIIIVVVIVIIVIIIIXXXIXIIXIIIXIVXVXVIXVIIXVIIIXIXXX
Kiến thức cần nhớ
  • Dãy số La Mã từ I đến XX là dãy số tự nhiên liên tiếp từ 1 đến 20.
  • Nối đúng thứ tự tăng dần từng điểm một mới ra được hình hoàn chỉnh.
🧠 Phân tích tư duy
Chỉ cần sắp xếp hai mươi số La Mã theo đúng thứ tự từ bé đến lớn rồi nối lần lượt điểm nọ sang điểm kia, không cần đoán trước hình vẽ là gì. Bẫy của đề là các điểm không nằm theo hàng lối quen mắt, dễ nối nhảy cóc nếu không rà đúng theo thứ tự I, II, III, … từng bước một.
1Cách 1. Sắp xếp thứ tự rồi nối lần lượt từng điểm

Định hướng. Viết ra dãy số La Mã từ I đến XX theo đúng thứ tự tăng dần, sau đó nối lần lượt điểm mang số liền trước với điểm mang số liền sau.

Sắp xếp các số theo thứ tự từ I đến XX: I, II, III, IV, V, VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII, XIII, XIV, XV, XVI, XVII, XVIII, XIX, XX.
Nối lần lượt I—II—III—…—XIX—XX theo đúng dãy trên.

Vậy nối đủ 20 điểm theo đúng thứ tự sẽ hiện ra hình chiếc thuyền cổ như hình vẽ.

2Cách 2. Đánh dấu từng điểm đã nối để không bỏ sót hoặc nối trùng

Định hướng. Vừa nối vừa đánh dấu (gạch nhẹ) từng số La Mã đã dùng xong, tránh nối nhảy cóc hoặc quay lại nối một điểm đã nối rồi.

Nối xong I—II thì gạch dấu số I; nối xong II—III thì gạch dấu số II; cứ thế tiếp tục cho tới khi gạch dấu hết XIX, nối XIX—XX là điểm cuối cùng.
Kiểm lại: hai mươi số từ I đến XX đều đã được gạch dấu, không sót số nào, không có nét nối nào bị lặp lại.

Vậy kết quả trùng khớp hoàn toàn với Cách 1: nối đủ 20 điểm theo đúng thứ tự.

Nhận xét. Đánh dấu khi nối giúp tránh bỏ sót, đặc biệt hữu ích khi các điểm rải rác không theo hàng lối.

⭐ Cách nên dùng khi đi thi. Nên dùng Cách 1 vì bài chỉ có một thứ tự duy nhất, đánh dấu thêm (Cách 2) chỉ cần thiết khi tranh có nhiều điểm dễ nhầm.
Đáp số. Nối đủ 20 điểm theo đúng thứ tự I, II, III, …, XX sẽ hiện ra hình chiếc thuyền cổ.
Sai lầm thường gặp. Nối theo vị trí gần nhau trên hình thay vì theo đúng số thứ tự, làm hình vẽ ra sai, không giống hình chiếc thuyền.
🚀 Mở rộng. Nếu đánh thêm điểm XXI (21), điểm đó nên nối tiếp sau điểm nào? (Sau điểm XX, vì 21 liền sau 20.)